Tiếp cận triết học khái niệm nhà nước pháp quyền và sự vận dụng nó trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ HƢƠNG

TIẾP CẬN TRIẾT HỌC KHÁI NIỆM NHÀ NƢỚC
PHÁP QUYỀN VÀ SỰ VẬN DỤNG NÓ TRONG XÂY DỰNG
NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ với đề tài “Tiếp cận triết học khái
niệm nhà nước pháp quyền và sự vận dụng nó trong xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu của
riêng cá nhân tôi dƣới sự hƣớng dẫn của PGS. TS. Nguyễn Thị Thúy Vân.
Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong luận văn đã đƣợc nêu rõ
trong phần danh mục tài liệu tham khảo, đƣợc trích dẫn rõ ràng, trung thực.
Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ
công trình nào.
HỌC VIÊN
PHẠM THỊ HƢƠNG
LỜI CẢM ƠN

` Để hoàn thành luận văn này, trƣớc tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
nhất đến PGS. TS. Nguyễn Thị Thúy Vân, ngƣời đã hết lòng giúp đỡ tôi trong

1.1.3 Khái niệm nhà nƣớc pháp quyền. 28
1.2 Các cách tiếp cận khái niệm nhà nƣớc pháp quyền 32
1.2.1 Cách tiếp cận khái niệm nhà nƣớc pháp quyền từ góc độ luật học 32
1.2.2 Cách tiếp cận khái niệm nhà nƣớc pháp quyền từ góc độ lịch sử 33
1.2.3 Cách tiếp cận khái niệm nhà nƣớc pháp quyền từ góc độ chính trị học 34
1.2.4 Cách tiếp cận khái niệm nhà nƣớc pháp quyền từ góc độ triết học 36
Tiểu kết chƣơng 1 49
Chƣơng 2: VẬN DỤNG CÁCH TIẾP CẬN TRIẾT HỌC VỀ KHÁI
NIỆM NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC
PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 51
2.1 Quan điểm xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
Đảng cộng sản Việt Nam 51
2.2 Thực tiễn xây dựng và một số vấn đế đặt ra trong quá trình xây dựng nhà
nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. 57
2.2.1 Vấn đề pháp luật, dân chủ, tổ chức quyền lực trong nhà nƣớc pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam 57
2.2.2 Cơ sở xã hội của nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 59
2.2.3 Cơ sở kinh tế của nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 62
2.3 Một số kiến nghị và giải pháp trong xây dựng nhà nƣớc pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay từ sự vận dụng nhận thức triết học
về nhà nƣớc pháp quyền. 67
2.3.1 Về nội dung pháp luật trong nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam 67
2.3.2 Về cách thức tổ chức quyền lực trong nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam 68
2.3.3 Về phát huy dân chủ trong nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam 70
2.3.4 Về vấn đề xây dựng xã hội dân sự trong nhà nƣớc pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam 72
2.3.5. Về xây dựng nền kinh tế thị trƣờng trong nhà nƣớc pháp quyền xã hội

quyền, lợi ích chính đáng của mọi người dân” [ 16; 52].
Từ quan điểm định hƣớng trên, những nét chính yếu cho mô hình nhà
nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã dần đƣợc định hình và trở
thành hiện thực. Mô hình này thể hiện những nhận thức và vận dụng sáng tạo
về mặt lý luận của Đảng và Nhà nƣớc ta trong quá trình tìm kiếm cách thức tổ 2
chức nhà nƣớc một cách phù hợp nhất cho mục tiêu xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội. Tuy nhiên với một mô hình vừa đƣợc xây dựng về mặt lý luận
lại vừa “thi công” trong hoạt động thực tiễn nên còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn
chế, mà trong một số chúng là những nhận thức về đặc trƣng bản chất cũng
nhƣ những thể hiện của nhà nƣớc pháp quyền trong thực tế. Sự thiếu hụt về
mặt lý luận này đang làm chúng ta lúng túng trong hoạt động thực tiễn, và
quan trọng hơn nó có nguy cơ làm lệch hƣớng con đƣờng phát triển theo quy
luật của một trong những bộ phận quan trọng nhất của kiến trúc thƣợng tầng,
đó là Nhà nƣớc.
Để góp phần hoàn thiện hơn về mặt lý luận, khái niệm Nhà nƣớc pháp
quyền, chỉ ra những đặc trƣng chủ yếu của nó, những vấn đề có tính quy luật
trong xây dựng nhà nƣớc pháp quyền, từ đó có những kiến nghị, giải pháp để
giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong quá trình xây dựng Nhà nƣớc pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay rất cần những nghiên cứu lý luận
ở tầng bậc bản chất. Và đó là công việc của khoa học triết học. Xuất phát từ
những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “ Tiếp cận triết học khái niệm nhà
nước pháp quyền và sự vận dụng nó trong xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn của mình.
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề nhà nƣớc nói chung và nhà nƣớc pháp quyền nói riêng luôn
đƣợc các học giả trong và ngoài nƣớc đặc biệt quan tâm nghiên cứu. Có thể
điểm qua một số công trình nghiên cứu cơ bản theo các hƣớng sau:

Thành (Nxb. Lý luận Chính trị, 2005) cũng phân tích quá trình hình thành và
phát triển tƣ tƣởng nhà nƣớc pháp quyền trong tiến trình lịch sử nhân loại,
một số quan điểm và thực tiễn tổ chức nhà nƣớc pháp quyền hiện nay trên thế
giới, cũng nhƣ việc xây dựng nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì
dân.
Bài viết Khái quát về tư pháp của mốt số nước trên thế giới (Nguyễn
Đức Minh, tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật, số 2/20111) thiên về việc điểm qua 4
những tƣ tƣởng nhà nƣớc pháp quyền ở phƣơng Tây trong lịch sử, đặc biệt là
quan niệm về quyền tƣ pháp.
Nhìn chung, các nghiên cứu thuộc nhóm này đã khảo cứu lịch sử quan
niệm về nhà nƣớc pháp quyền, các tƣ tƣởng chi phối quá trình xây dựng nhà
nƣớc pháp quyền….Các tác giả khẳng định, trải qua quá trình phát triển nhà
nƣớc pháp quyền với các mô hình trên thế giới đã thể hiện tính hiệu quả và
những giá trị ƣu việt mà nhân loại hƣớng tới.
Thứ hai, những công trình nghiên cứu về xây dựng nhà nƣớc pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Đây là mảng nghiên cứu nhận đƣợc sự quan tâm nghiên cứu đông đảo
của giới học thuật Việt Nam. Có thể nêu tên một số công trình tiêu biểu sau:
Công trình: Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam – Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn (Nxb. Chính trị quốc gia, 1996) của Nguyễn Văn Niên;
sách chuyên khảo Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân
(Nxb. Chính trị quốc gia, 2005) của Nguyễn Trọng Thóc; công trình Cải cách
hành chính và công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam của Đoàn Trọng Truyến (Nxb Tƣ Pháp, 2006)… là những công
trình nêu ra nội dung lý luận và thực tiễn quan trọng trong quá trình xây dựng
nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Công trình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân,

trong giai đoạn hiện nay: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn do Đào Trí Úc,
Phạm Hữu Nghị chủ biên (Nxb. Từ điển Bách Khoa, 2009) đã chỉ ra những
định hƣớng lớn của nhiệm vụ xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa; phân tích, lý giải và đề xuất các giải pháp xây dựng nhà nƣớc pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: đổi mới sự lãnh
đạo của Đảng đối với Nhà nƣớc, đổi mới vai trò, chức năng của nhà nƣớc
pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh kinh tế thị trƣờng, dân chủ, xã
hội dân sự… 6
Công trình vận dụng học thuyết Mác để xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam của nhóm tác giả Nguyễn Tĩnh Gia và Mai Đình Chiến (Nxb.
Chính trị Quốc gia, 2006) giới thiệu học thuyết Mác về cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thƣợng tầng với Nhà nƣớc pháp quyền; việc vận dụng quan hệ giữa cơ sở
hạ tầng và kiến trúc thƣợng tầng để xây dựng nhà nƣớc pháp quyền; nguyên
tắc và giải pháp vận dụng quan hệ này để xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong luận án tiến sĩ Triết học Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về
nhà nước với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(2009) tác giả Trần Ngọc Liêu khẳng định cần phải nhận thức đúng đắn và
vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về nhà nƣớc để xác định và
giải quyết những vấn đề cơ bản đang đặt ra nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngoài ra, vấn đề xây dựng nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam còn đƣợc
nhìn nhận ở khía cạnh những nhân tố tác động, quy định quá trình xây dựng
nhà nƣớc pháp quyền ở Việt Nam nhƣ: Tác động của kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa đến quyền hành pháp trong Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam (Nguyễn Trung Tín, Tạp chí Nhà Nƣớc và pháp luật,
số 5/2010), Nhận thức về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong các

tổ chức bộ máy nhà nƣớc để đảm bảo cho cuộc sống con ngƣời ngày càng
bình đẳng, tự do hơn theo cách hết sức giản đơn. Chính sự đơn giản này buộc
nhà nƣớc phải chịu trách nhiệm rõ ràng khi phải tổ chức nhà nƣớc theo cơ cấu
những con số cộng đơn giản hai số hạng mà mỗ số hạng phải chịu trách
nhiệm về những hành vi của mình. Đó cũng chính là mô hình nhà nƣớc pháp
quyền tiến bộ và hiện đại. Tác giả Trần Ngọc Đƣờng (2001), Quyền con
người, quyền công dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, triển khai hƣớng nghiên cứu nhà nƣớc
pháp quyền từ khía cạnh quyền con ngƣời. Tác giả bắt đầu bằng những luận
giải về quyền con ngƣời, quyền công dân trong nhà nƣớc pháp quyền xã hội 8
chủ nghĩa, tiếp đó chuyển sang lý giải về quyền cá nhân con ngƣời trong nhà
nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa; tiến hành so sánh về quyền con ngƣời
trong ba bộ luật cơ bản: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và năm
1980, chỉ ra bƣớc phát triển của nó và cuối cùng là gợi mởi về mặt hành lang
pháp lý để có thể đảm bảo về quyền và nghĩa vụ của công dân trong mô hình
nhà nƣớc pháp quyền hiện nay.
Các công trình nhƣ: Lịch sử các học thuyết chính trị; Lịch sử nhà nước
và pháp luật Việt Nam và thế giới lại thiên về nghiên cứu khái niệm nhà nƣớc
pháp quyền từ góc độ lịch sử và chính trị học. Việc phân tích lịch sử ra đời,
tồn tại, phát triển của nhà nƣớc, của pháp luật, của các thể chế chính trị cung
cấp cho ngƣời đọc những tƣ liệu giá trị trong lịch sử để luận giải về sự tồn tại
và những biểu hiện của nhà nƣớc pháp quyền hiện nay.
Tóm lại, tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy, đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu về nhà nƣớc pháp quyền ở các góc độ và cách tiếp cận khác
nhau, tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về nhà nƣớc pháp quyền từ
cách tiếp cận triết học còn ít và chƣa có tính hệ thống, mà theo chúng tôi cách
tiếp cận này có thể chỉ ra những đặc trƣng, bản chất để có thể biến mô hình lý

- Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu lịch sử tƣ tƣởng về nhà nƣớc pháp quyền qua một số nhà
tƣ tƣởng tiêu biểu qua các giai đoạn lịch sử ở phƣơng Đông và phƣơng Tây.
Khái niệm nhà nƣớc pháp quyền đƣợc triển khai phân tích trên một số phƣơng
diện chủ yếu nhƣ: dấu hiệu bản chất của nhà nƣớc pháp quyền; nội dung của
pháp luật; nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nƣớc; cơ sở kinh tế, cơ sở xã hội
của nhà nhà nƣớc pháp quyền. Vận dụng những nhận thức triết học về nhà
nƣớc pháp quyền vào thực tiễn xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam hiện nay. 10
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Mác-
Lênin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nƣớc và nhà nƣớc
pháp quyền.
-Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp của phép biện chứng duy vật nhƣ :
phân tích, tổng hợp, lôgich- lịch sử, trừu tƣợng hoá, khái quát hoá, so sánh.
6. Ý nghĩa của đề tài
Luận văn đƣa ra cách tiếp cận triết học khái niệm nhà nƣớc pháp quyền
từ đó chỉ ra bản chất, một số vấn đề có tính quy luật trong xây dựng nhà nƣớc
pháp quyền. Góp phần hoàn thiện về mặt lý luận những vấn đề trong xây
dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những sinh viên, học viên
sau đại học quan tâm, nghiên cứu vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chƣơng và 5 tiết.

đƣợc quần thần, cai trị đƣợc đất nƣớc. Thực chất đây là chủ trƣơng hãy thuận
theo tự nhiên mà cai trị. 12
Cốt lõi tƣ tƣởng “ vô vi nhi trị” đó là tƣ tƣởng về quyền tự nhiên của
con ngƣời, con ngƣời không thể tách mình ra khỏi quyền tự nhiên của mình,
xã hội càng hiện đại thì quyền tự nhiên của con ngƣời càng đƣợc tính đến
nhiều hơn. Tƣ tƣởng này rất có giá trị với mô hình nhà nƣớc pháp quyền thời
hiện đại bởi việc nhận thức và bảo vệ các quyền tự nhiên của con ngƣời thông
qua hệ thống pháp luật là một nội dung quan trọng của nhà nƣớc pháp quyền.
Bên cạnh tƣ tƣởng của Lão Tử phải kể đến tƣ tƣởng của Nho Giáo do
Khổng Tử sang lập sau đó Mạnh Tử, Tuân Tử, Đổng Trọng và các đồ đệ
khác bổ sung, hoàn thiện lại đó là chủ trƣơng cai trị xã hội bằng đạo đức.
Khổng Tử quan niệm Vua là ngƣời vâng mệnh trời mà trị dân, mệnh trời
phải hợp với lòng dân, ngƣời cầm quyền phải dựa vào dân. Ông cho rằng:
làm chính trị mà dùng đức để cảm hóa dân thì nhƣ sao Bắc đẩu ở một nơi mà
các sao khác hƣớng cả về tức thiên hạ theo về với mình cả. Trong việc dùng
pháp trị và dùng đức trị ông nói, dùng pháp trị thì ngƣời ta miễn cƣỡng tuân
theo nhƣng dùng lễ và đức để trị thì ngƣời ta xúc động tận trong lòng và tự
nguyện thực hiện. Tƣ tƣởng của Khổng tử đã đặt ra những yêu cầu và chuẩn
mực đạo đức cho ngƣời cầm quyền nó có giá trị lớn trong việc đƣa ra những
yêu cầu bắt buộc đối với đội ngũ cán bộ nhà nƣớc, sự điều hành của nhà
nƣớc phải dựa trên những quy định cần thiết có sự kết hợp hài hòa giữa đạo
đức và pháp luật.
Tƣ tƣởng pháp trị của Hàn Phi Tử đƣợc coi là thể hiện tƣ tƣởng về nhà
nƣớc pháp quyền một cách rõ rệt nhất. Ông đã kế thừa, tổng hợp và phát triển
học thuyết của các bậc Pháp gia tiền bối nhƣ Quản trọng, Tử Sản, Thân bất
Hại, Thận Đáo, Thƣơng Ƣởng…để tạo nên một học thuyết hoàn chỉnh về
đƣờng lối pháp trị. Ông cho rằng pháp trị là thuyết duy nhất thích hợp với yêu

Trong tƣ tƣởng của các nhà tƣ tƣởng phƣơng Đông đã bắt đầu đƣa ra
các tƣ tƣởng có giá trị to lớn, làm tiền đề tƣ tƣởng cho sự ra đời quan niệm
về nhà nƣớc pháp quyền ở phƣơng Đông nói riêng và lịch sử tƣ tƣởng nhân
loại nói chung trong đó rõ nhất là sự ghi nhận sự tồn tại của con ngƣời và xã 14
hội theo những quy luật tự nhiên tất yếu và tính hiệu quả của việc dùng pháp
luật để quản lý xã hội. Tuy nhiên những tƣ tƣởng đó mới đạt đến nhà nƣớc
pháp trị là chủ yếu, thu phục ngƣời dân bởi tính hà khắc của pháp luật hơn là
tính tự giác của ngƣời dân trong ý thức về vai trò của pháp luật trong quản lý
xã hội.
1.1.2 Tƣ tƣởng về nhà nƣớc pháp quyền ở phƣơng Tây
* Tƣ tƣởng về nhà nƣớc pháp quyền thời cổ đại ở phƣơng Tây
Thời cổ đại có sự xung đột giữa quyền lực với sự áp chế quyền lực. Lúc
đầu có thể là quyền lực của sức mạnh cơ bắp, sức mạnh lao động Để có thể
áp chế quyền lực đó ngƣời ta nghĩ tới pháp luật. Nhà nƣớc và pháp luật có
mối quan hệ mật thiết với nhau và là điều kiện tồn tại của nhau. Các nhà tƣ
tƣởng hƣớng tới tìm kiếm những nguyên tắc, hình thức và cơ cấu để thiết lập
mối quan hệ qua lại giữa quyền lực và pháp luật. Quyền lực muốn trở thành
sức mạnh thực tế thì phải dựa vào pháp luật đồng thời lại bị ràng buộc bởi
pháp luật. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ qua tƣ tƣởng của nhiều nhà tƣ tƣởng
thời kỳ này.
Xô lông (TK IV TCN) là ngƣời đầu tiên động chạm đến khái niệm dân
chủ trong việc tổ chức nhà nƣớc và kết hợp giữa sức mạnh với pháp luật trong
cải cách nhà nƣớc Aten. Có thể thấy trong lịch sử tƣ tƣởng triết học ngƣời đƣa
ra tƣ tƣởng về nền dân chủ trong xã hội là ông. Tƣ tƣởng cơ bản của ông là
giải phóng mọi ngƣời bằng quyền lực của pháp luật, bằng sự kết hợp của sức
mạnh và pháp luật.
Ở thời kỳ này dân chủ đƣợc hiểu theo nghĩa đơn giản là sự công bằng.

nhân dân: ngƣời sản xuất của cả cho xã hội.
Theo Platôn sự bình đẳng trong xã hội không phải là những giai tầng
này có quyền nhƣ nhau mà bình đẳng là mọi ngƣời có quyền sống đúng vai
trò, lợi ích của giai tầng mình trong xã hội. Tƣ tƣởng của ông so với thời đại
là tiến bộ nhƣng nó lại bị quyết định bởi lập trƣờng giai cấp nên sự bình đẳng 16
mà ông đề cập ở đây không phải là cho tất cả mọi ngƣời mà mỗi giai tầng
trong xã hội đƣợc chia đều lợi ích và trách nhiệm.
Arixtốt (384- 322 TCN) là ông tổ của nền chính trị xã hội. Ông quan
niệm: pháp luật đồng nghĩa với sự công bằng nghĩa là xã hội chỉ có công bằng
khi có pháp luật. Luật pháp ra đời chỉ để đảm bảo công bằng trong xã hội. Sự
điều hành quản lý xã hội của nhà nƣớc dựa trên 3 phƣơng dện: lập pháp, hành
pháp, phân xử. Sứ mệnh của nhà nƣớc là phải đảm bảo cho mọi ngƣời sống
hạnh phúc, thƣớc đo là phúc lợi xã hội.
Ông là ngƣời đầu tiên đề cập đến sự phân loại giữa các cơ quan quyền
lực nhà nƣớc với những chức năng khác nhau trong xã hội: cơ quan tƣ vấn
pháp lý về hội đồng của nhà nƣớc; tòa thị chính; cơ quan tƣ pháp. Ba bộ phận
này tạo thành nền tảng của mỗi nhà nƣớc và chính sự khác nhau của chế độ
nhà nƣớc bắt nguồn từ sự tổ chức khác nhau của mỗi bộ phận này.
Nhà nƣớc theo ông là sự sáng tạo của tự nhiên, là sản phẩm của sự phát
triển tự nhiên, nền tảng là nhu cầu của con ngƣời. Ông cho rằng nơi nào
không có pháp luật thống trị thì nơi đó không có chỗ cho bất kỳ một hình thức
nhà nƣớc nào tồn tại. Ông đề cao sự kết hợp của lý trí con ngƣời trong pháp
luật. Luật pháp thể hiện ý chí của con ngƣời, việc thể chế hóa pháp luật thành
quyền phụ thuộc vào ý chí của con ngƣời.
Xixêrông (104- 44 TCN) đƣa ra tƣ tƣởng về pháp luật tự nhiên có từ
thời Hy lạp la mã cổ đại. Pháp luật tự nhiên bắt nguồn từ bản chất của con
ngƣời trong sự tồn tại với giới tự nhiên, nó tồn tại trƣớc nhà nƣớc và pháp luật

khủng khiếp và ngày tận thế mặt khác bản thân mỗi cá nhân là một bản chất
đạo đức vì vậy đòi hỏi mỗi cá nhân phải phấn đấu, tu dƣỡng, trau dồi những
phẩm chất tốt đẹp để đến với vƣơng quốc của hạnh phúc.
Quyền lực nhà nƣớc phải đƣợc thực hiện nhƣ một thứ quyền lực phục
vụ, là công cụ để thực hiện tình yêu và sự công bằng. Ông đòi hỏi nhà cầm
quyền phải dùng quyền uy vào phục vụ nhân dân, lấy công bằng làm gốc và 18
từ thiện làm ngọn, dám hy sinh vì ngƣời khác và biết giới hạn khát vọng cá
nhân. Ông cảnh báo sự sa sút về phẩm chất và tƣ cách ngƣời cầm quyền chính
là nguyên nhân làm sụp đổ nhà nƣớc.
Tômát Đacanh (1225- 1274), theo quan điểm thần học ông khẳng định:
trật tự xã hội và quyền thống trị của nhà nƣớc bắt nguồn từ ý chí của Chúa.
Nhà nƣớc theo ông không phải là hình thức của tự nhiên, mà là tất yếu của
cuộc sống con ngƣời. Ông tuyên truyền cho sự thống trị của nhà thờ đối với
xã hội công dân, cuộc sống trần gian chỉ là sự chuẩn bị cho cuộc sống trên
thiên đƣờng.
Ông cũng phân biệt các thể chế xã hội khác nhau: thể chế quân chủ, thể
chế quý tộc, tập đoàn thống trị và chuyên quyền biến dạng là nền dân chủ.
Ông coi chế độ quân chủ là hình thức cao nhất và ƣu tiên cho nhà nƣớc với
hình thức kết hợp giữa thiết chế quân chủ, quý tộc và dân chủ. Là ngƣời theo
chủ nghĩa quân chủ ông cho rằng hoàng đế trần gian không những là ngƣời
cai trị mà còn là ngƣời sáng tạo ra quốc gia.
Một tƣ tƣởng tiến bộ của Tômát Đacanh là dùng pháp luật để trừng trị
kẻ dị giáo và quản lý xã hội. Ông chia luật thành 4 loại khác nhau: luật vĩnh
cửu luật của Chúa; luật tự nhiên phản ánh luật vĩnh cửu bằng ý chỉ của con
ngƣời gồm quy luật bảo tồn giòng giống và quan hệ chung sống của con
ngƣời; nhân luật ( nhân luật thành văn) là pháp luật phong kiến hiện hành,
phản ánh luật tự nhiên rút ra từ trí tuệ của Chúa, mọi sự phản kháng trật tự

bản chất của con ngƣời. luật pháp có hai loại đó là luật pháp có tính tự nhiên
và luật pháp đƣợc xác lập theo ý chí. Luật pháp tự nhiên là tính quy luật tự
nhiên, mặc định phải tuân theo còn luật pháp xác lập theo ý chí là luật nhà
nƣớc, pháp luật của nhà nƣớc cần phải phù hợp với pháp luật tự nhiên.
Điểm tiến bộ của ông là pháp luật phải có ý chí, hàm chứa trong đó
quyền tự nhiên của con ngƣời, khẳng định và đặt vấn đề triết thuyết pháp
quyền tự nhiên.

Trích đoạn Cách tiếp cận khái niệm nhà nƣớc pháp quyền từ góc độ chính trị học Vấn đề pháp luật, dân chủ, tổ chức quyền lực trong nhà nƣớc pháp quyền xã Cơ sở kinh tế của nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Về nội dung pháp luật trong nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Về cách thức tổ chức quyền lực trong nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status