Một số thành tựu cải cách Chính phủ theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - Pdf 12



Một số thành tựu cải cách
Chính phủ theo yêu cầu xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Phiên họp thường kỳ của Chính phủ. Ảnh: ST

Cải cách bộ máy nhà nước theo hướng tăng cường tính pháp
quyền mà trọng tâm là cải cách Chính phủ và hệ thống hành
chính nhà nước được chính thức đề ra tại Nghị quyết Đại hội VII
của Đảng (năm 1991).

Cải cách bộ máy nhà nước theo hướng tăng cường tính pháp
quyền mà trọng tâm là cải cách Chính phủ và hệ thống hành
chính nhà nước được chính thức đề ra tại Nghị quyết Đại hội VII
của Đảng (năm 1991). Đến nay, sau gần 20 năm, công cuộc cải
cách Chính phủ theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền
Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều
mặt. Trong đó, có một số thành tựu cần được phân tích, đánh giá
khách quan, đầy đủ, để có thể kế thừa và phát huy trong việc tiếp
tục đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính đồng bộ với cải
cách lập pháp, cải cách tư pháp, cũng như đồng bộ với đổi mới hệ
thống chính trị nói chung.
1. Những quy định mới của Hiến pháp năm 1992 bảo đảm vị
trí độc lập tương đối của Chính phủ
Thành tựu quan trọng nhất về mặt thể chế là những quy định mới
của Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa, bổ sung đổi năm 2001) về

trọng là:
-* Từ bỏ các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến
công tác kế hoạch hoá tập trung, trực tiếp của Nhà nước đối với
nền kinh tế quốc dân, chuyển sang các nhiệm vụ quản lý vĩ mô
bằng các công cụ chính sách, pháp luật;
-* Từ bỏ thực hiện nhiệm vụ cải tạo nền kinh tế;
-* Đưa vấn đề chống quan liêu, tham nhũng thành nhiệm vụ cụ
thể của Chính phủ;
-* Ổn định các nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong khuôn
khổ Hiến pháp, loại bỏ quy định của Hiến pháp năm 1980 cho
phép Quốc hội có thể giao cho Chính phủ những nhiệm vụ, quyền
hạn khác ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Hiến
pháp mà không phải sửa đổi Hiến pháp.
Một trong những thay đổi quan trọng nhất của Hiến pháp năm
1992 là đổi mới cơ chế hoạt động của Chính phủ. Cụ thể hoá
nguyên tắc tập trung dân chủ, Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ
chức Chính phủ đã định ra ba nguyên tắc then chốt cho hoạt động
của Chính phủ phù hợp với quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đó là các nguyên
tắc:* Chính phủ “là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, “những vấn đề quan
trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ phải được thảo luận tập
thể và quyết định theo đa số” (2); Thủ tướng Chính phủ “lãnh đạo
công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, UBND các
cấp” (3); “Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu
trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực, ngành mình phụ trách
trong phạm vi cả nước” (4).
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Chính
phủ, về nguyên tắc, Chính phủ có hai cơ chế hoạt động khác
nhau: cơ chế lãnh đạo của tập thể Chính phủ đối với những vấn

đảm sự thống nhất trong tổ chức thực thi quyền hành pháp và
hành chính nhà nước, bảo đảm trật tự, kỷ cương, tính thông suốt
trong hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương
đến cơ sở.*
2. Hệ thống thể chế được đổi mới và hoàn thiện, phù hợp với
cơ chế kinh tế thị trường đáp ứng các yêu cầu xây dựng Nhà
nước pháp quyền
Phù hợp với quá trình chuyển đổi phương thức quản lý từ trực
tiếp vi mô, chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính sang quản lý gián
tiếp vĩ mô bằng hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật đồng bộ,
pháp luật ngày càng trở thành công cụ quản lý, điều hành chủ
yếu, quan trọng nhất trong việc thực hiện chức năng, thẩm quyền
quản lý của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Trong bối cảnh
này, hoạt động quan trọng nhất đối với cơ quan hành chính nhà
nước là tạo dựng và duy trì khuôn khổ chính sách, pháp luật cho
các hoạt động của công dân, tổ chức. Thực tế cho thấy, công tác
xây dựng và hoàn thiện thể chế ngày càng trở nên quan trọng và
đã thực sự trở thành hoạt động cơ bản, chủ yếu của Chính phủ và
bộ máy hành chính ở trung ương. Công tác xây dựng và ban hành
văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ
đang trở thành nhiệm vụ trung tâm, được ưu tiên hàng đầu trong
hoạt động chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ.
Việc xem xét, thông qua các dự án tại các phiên họp của Chính
phủ cũng đã được cải tiến. Số lượng các dự án luật, pháp lệnh
Chính phủ cho ý kiến, trình Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc
hội những năm gần đây tăng nhanh đáng kể: năm 1999 là 12 dự*
án (02 luật, 10 pháp lệnh), năm 2000 là 11 dự án (05 luật, 06
pháp lệnh), năm 2001 là 22 dự án (11 luật, 10 pháp lệnh, 01 nghị
quyết), năm 2002 là 6 dự án (04 luật, 02 pháp lệnh), năm 2003 là

hành chính của các cơ quan nhà nước vào các quan hệ dân sự,
kinh tế, thương mại nói chung và hoạt động của các doanh nghiệp
nói riêng, giảm thiểu cơ chế xin - cho.
3. Chức năng của Chính phủ và các cơ quan trong hệ thống
hành chính nhà nước được điều chỉnh, bảo đảm sự phù hợp
với cơ chế kinh tế mới và hội nhập kinh tế
Một trong những kết quả quan trọng nhất của cải cách hành chính
trong hơn 10 năm qua, nhất là kể từ khi thực hiện Chương trình
tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 theo
Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là đã
từng bước điều chỉnh, làm rõ chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ
và của từng cơ quan trong hệ thống hành chính, khắc phục những
chồng chéo, trùng lắp, lẫn lộn chức năng, nhiệm vụ trong hoạt
động của bộ máy hành chính. Nhiều loại công việc trước đây do
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giải quyết, quyết định nay đã
được chuyển cho các bộ, ngành hoặc phân cấp cho chính quyền
địa phương thực hiện. Quá trình xây dựng và ban hành đầy đủ
các nghị định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức các bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã mang lại các kết quả
quan trọng, như: khắc phục được sự chồng chéo, trùng lắp về
chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm được nguyên tắc một việc chỉ giao
cho một cơ quan thực hiện và phân cấp mạnh và đồng bộ cho
chính quyền địa phương các cấp. Trên thực tế, Chính phủ đã thực
hiện bước điều chỉnh lớn và quan trọng về thẩm quyền giữa các
cấp hành chính cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Theo đó,
chính quyền địa phương được phân cấp, tự chủ nhiều hơn, nhất là
trong các lĩnh vực ngân sách, tài chính, đầu tư, đất đai, y tế, giáo
dục
Tiếp tục từng bước xoá bỏ cơ chế chủ quản đối với doanh nghiệp,
loại bỏ chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh

Cơ cấu bên trong các bộ, cơ quan ngang bộ cũng được điều
chỉnh, sắp xếp tương đối phù hợp theo hướng xác định rõ tính
chất, chức năng của từng loại cơ cấu tổ chức trực thuộc, loại bỏ
những cơ cấu trung gian, phân biệt rõ các đơn vị giúp Bộ trưởng
thực hiện chức năng quản lý nhà nước với các tổ chức sự nghiệp
cung cấp dịch vụ công.
Cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn ở địa phương cũng được
đổi mới, sắp xếp phù hợp với tổ chức ngành ở Trung ương và
điều kiện cụ thể của địa phương. Chính phủ đã ban hành các nghị
định quy định về cơ cấu các cơ quan chuyên môn thuộc UBND
cấp tỉnh, cấp huyện, khẳng định mô hình tổ chức cứng, được tổ
chức nhất quán theo quy định của Trung ương và đồng thời trao
quyền cho địa phương tự quyết định các loại tổ chức mềm phù
hợp.
Việc điều chỉnh, sắp xếp các cơ quan trong hệ thống hành chính,
nhất là đối với các cơ quan của Chính phủ làm cho bộ máy hành
chính nhà nước từ trung ương đến địa phương trở nên gọn nhẹ
hơn, minh bạch và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hơn.
5. Chế độ làm việc, quan hệ công tác của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ được đổi mới, đạt được những thành tựu
quan trọng
Phương thức ra quyết định của Chính phủ được quy định và thực
hiện một cách linh hoạt. Không phải tất cả các vấn đề thuộc
nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ đều được Chính phủ quyết
định theo nguyên tắc “thảo luận tập thể và quyết định theo đa số”
(8). Chỉ có một số vấn đề quan trọng theo quy định của Luật tổ
chức Chính phủ mới được giải quyết theo nguyên tắc này. Mặt
khác, không ít vấn đề thuộc thẩm quyền của Thủ tướng, nhưng để
tham khảo thêm ý kiến các thành viên Chính phủ, Thủ tướng có
thể đưa ra thảo luận tại phiên họp Chính phủ trước khi quyết

hình.**
6. Thủ tục hành chính trong quan hệ giải quyết công việc của
cá nhân, tổ chức được cải cách mạnh mẽ
Với việc ban hành Nghị quyết số 38/CP ngày 4/5/1994 về cải
cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc
của công dân và tổ chức, cải cách thủ tục hành chính là sự mở
đầu và trở thành khâu đột phá của công cuộc cải cách hành chính.
Sau hơn 15 năm cải cách, thủ tục hành chính trên hầu hết các lĩnh
vực đều đã được rà soát, sửa đổi, ban hành mới theo hướng đơn
giản hoá, minh bạch, giảm phiền hà. Đặc biệt, thủ tục hành chính
trong những lĩnh vực bức xúc, liên quan trực tiếp tới người dân
và doanh nghiệp như đất đai, xây dựng, hộ tịch, hộ khẩu, đầu tư,
đăng ký doanh nghiệp, hải quan, thuế, kho bạc, xuất nhập khẩu
v.v đã được rà soát nhiều lần, loại bỏ những thủ tục phức tạp,
gây phiền hà, từng bước tạo lập lại niềm tin của người dân và
doanh nghiệp vào sự phục vụ của các cơ quan công
quyền.******
Từ năm 2003, chính quyền địa phương các cấp đã triển khai công
tác rà soát thủ tục hành chính gắn với việc thực hiện cơ chế “một
cửa” về thực hiện thủ tục hành chính theo quyết định của Thủ
tướng Chính phủ. Đến nay, cơ chế “một cửa” đã được triển khai
thực hiện rộng khắp ở tất cả các địa phương, đến tận cấp xã. Kết
quả rõ nhất của việc triển khai cơ chế “một cửa” là công khai
hoá, minh bạch hoá các quy định về thủ tục hành chính, giảm
phiền hà, giảm đáng kể thời gian chờ đợi cho người dân, trách
nhiệm của cán bộ, công chức được nâng cao, thông qua đó góp
phần đổi mới cơ bản mối quan hệ giữa cơ quan hành chính và
người dân, doanh nghiệp.
Những kết quả tích cực trong cải cách thủ tục hành chính đã làm
thay đổi mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với người dân và

mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị hỗ trợ cho Chính phủ
trong thực hiện các chức năng, thẩm quyền quản lý, điều hành
mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.

Nguyên tắc hàng đầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành
của Chính phủ là: “Mọi hoạt động của Chính phủ, thành viên
Chính phủ phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng” (9). Các nghị
quyết, chủ trương của Đảng đã được Chính phủ triển khai tổ chức
thực hiện theo chương trình, kế hoạch cụ thể. Trong công tác xây
dựng và hoàn thiện thể chế thuộc phạm vi thẩm quyền của Chính
phủ, từ xây dựng chương trình, nghiên cứu, soạn thảo, thẩm định,
thẩm tra đến xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật, thì
yêu cầu hàng đầu cũng là phải bảo đảm phù hợp với đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng (10).
(1) Hiến pháp năm 1980 khẳng định Chính phủ là “cơ quan chấp
hành và hành chính nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất”. Theo đó, Chính phủ trở thành một cơ quan
của Quốc hội, trực thuộc Quốc hội, cơ quan cấp dưới của Quốc
hội, nói cách khác, quyền hành pháp chưa đạt được vị trí, vai trò
độc lập trong quan hệ với quyền lập pháp.
(2) Điều 109 và Điều 115 của* Hiến pháp năm 1992.
(3) Khoản 1, Điều 114 của Hiến pháp năm 1992.
(4) Điều 116 của Hiến pháp năm 1992.
(5) Báo cáo kiểm điểm điều hành của Chính phủ năm 2004.
(6) Báo cáo kiểm điểm điều hành của Chính phủ năm 2005.
(7) Nguồn: Các báo cáo kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành
của Chính phủ hàng năm.
(8) Điều 115 của Hiến pháp năm 1992.
(9) Khoản 1 Điều 2 Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành
kèm theo Nghị định số 179/2007/NĐ-CP ngày 3/12/2007.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status