z
CNH - HĐH và vai trò của nó trong quá trình tiến lên CNXH ở nước ta
Nghiên cứu triết học
Đề tài:" XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM "
công chức; phương thức hoạt động”(1).
Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, biến Nghị quyết Đại hội
thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội, trước hết chúng ta cần nhìn lại
một cách khái quát những gì đã làm được cả trên lĩnh vực nghiên cứu lý luận lẫn
hoạt động thực tiễn; đồng thời phải giải quyết một cách hiệu quả nhất những vấn
đề mới đặt ra trong tiến trình phát triển đất nước.
1. Về phương diện lý luận, các nhà khoa học đã đi tới một số khẳng định quan
trọng: nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà là giá trị phổ
biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ.
Với quan niệm này, nhà nước pháp quyền đã được nhìn nhận như một cách thức
tổ chức nền dân chủ, cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân
chủ. Các giá trị phổ biến của nó được trình bày dưới các dạng thức khác nhau và
phụ thuộc vào lập trường chính trị – pháp lý, quan điểm học thuật của mỗi
người. Ngay cả cách trình bày cũng có thể khác nhau, nhưng về thực chất, đều
nhấn mạnh các giá trị sau đây:
- Nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ. Theo đó, dân
chủ vừa là bản chất, vừa là điều kiện, là tiền đề để xây dựng nhà nước pháp
quyền.
- Bộ máy nhà nước pháp quyền được tổ chức và vận hành trên cơ sở các nguyên
tắc tổ chức quyền lực một cách dân chủ.
- Một chế độ tư pháp thật sự dân chủ, cơ quan xét xử chỉ tuân theo pháp luật với
một chế độ tố tụng công khai, dân chủ.
Sự phủ nhận quan điểm xem nhà nước pháp quyền như một kiểu nhà nước có ý
nghĩa nhận thức luận quan trọng trong việc nhìn nhận đúng bản chất của nhà
nước pháp quyền. Ý nghĩa nhận thức luận này bao hàm các khía cạnh sau:
- Chỉ từ khi dân chủ tư sản xuất hiện, mới có cơ hội và điều kiện để xây dựng
nhà nước pháp quyền. Do vậy, trên thực tế, nhà nước pháp quyền tư sản đang
được xây dựng ở hầu hết các nước tư bản phát triển và đang phát triển .
- Nhà nước pháp quyền với tư cách cách thức tổ chức và vận hành của một chế
độ nhà nước và xã hội không những được xây dựng ở chế độ tư bản, mà còn
quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến
pháp năm 1946, được định hướng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà
nước. Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ và ngày nay, quá trình này đang
được tiếp tục đẩy mạnh trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước.
Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
xuất phát từ định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu "độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội, nhằm xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"(2). Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây
dựng được một chế độ xã hội có tính mục tiêu như vậy thì công cụ, phương tiện
cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và một
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế
toàn cầu hoá. Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sau khi nước ta trở thành thành
viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đòi hỏi chúng ta tiếp tục đẩy
mạnh cải cách hành chính Nhà nước, cải cách pháp luật, đảm bảo cho Nhà nước
không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội, thực hành dân chủ, giữ vững độc lập, tự chủ và hội
nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.
3. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một Nhà nước vừa phải
thể hiện được các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền, vừa khẳng định
được bản sắc đặc thù của riêng mình.
Sự khác nhau cơ bản giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
nói riêng, có thể khái quát trên các nét chính sau:
Một là, cơ sở kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ
nghĩa của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật khách quan của thị
trường, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường trong chủ
nghĩa tư bản và kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã hội. Do vậy, đặc tính của
pháp. Đây vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, vừa
là quan điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện việc cải cách bộ máy nhà nước.
Ba là, Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan
hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hệ thống pháp luật thể hiện đầy
đủ, đúng đắn ý chí của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy
tiến bộ xã hội. Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật là của tất cả công dân,
không loại trừ đối với bất cứ ai.
Bốn là, Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân;
nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ,
đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật. Mục tiêu cao cả của Đảng Cộng sản
Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền con người, quyền công
dân được thể chế hoá thành luật và được Nhà nước ta tổ chức thực hiện có kết
quả.
Năm là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và thực hiện
đầy đủ các điều ước quốc tế mà Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
ký kết hoặc tham gia.
Sáu là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt
động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là đặc trưng cơ bản
để phân biệt nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền tư
sản chủ nghĩa.
Qua những nội dung trình bày trên đây, chúng ta thấy rằng, trong quá trình xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chúng ta đã tiếp thu
được những tinh hoa, những giá trị toàn nhân loại. Đó là các chế định pháp lý,
như tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, sự tôn trọng và bảo vệ các
quyền và tự do của con người như những giá trị xã hội cao quý nhất, sự ngự trị
của pháp luật trong các lĩnh vực sinh hoạt của xã hội, tính tối cao của pháp luật
trong các lĩnh vực hoạt động của nhà nước và trong việc điều chỉnh các quan hệ
xã hội.
5. Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
nước ta.
Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên
của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), bảo đảm sự tương thích của pháp luật
quốc gia với các không gian pháp lý có tính quốc tế đang đòi hỏi chúng ta phải
đẩy mạnh việc đổi mới công tác lập pháp. Chúng ta không những phải soạn thảo
và thông qua nhiều đạo luật mới, mà còn phải rà soát, sửa đổi toàn bộ những đạo
luật đã có sao cho đáp ứng được yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới. Do
vậy, công tác lập pháp của nước ta trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII trở nên
cấp bách hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây.
b) Xây dựng một Chính phủ gọn về tổ chức, rõ về chức năng, hiệu lực, hiệu quả
trong hoạt động.
Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thực hiện
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chức năng quản lý nhà nước
của Chính phủ gồm hai nhóm cơ bản sau đây:
- Nghiên cứu chính sách thể chế;
- Điều hành mang tính chất hành chính công quyền.
Để thực hiện tốt chức năng hành pháp của Chính phủ, Nghị quyết Đại hội Đảng
lần thứ X ghi rõ: “Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động
của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất,
thông suốt, hiện đại. Luật hoá cơ cấu, tổ chức của Chính phủ; tổ chức bộ quản lý
đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm tinh gọn và hợp lý. Phân cấp mạnh, giao quyền
chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương, nhất là trong việc quyết định về
ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối
với Trung ương"(3).
Cụ thể, chính phủ cần thực hiện bốn nhóm quyền hạn và nhiệm vụ sau đây:
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thống nhất bộ máy hành chính nhà nước từ
Trung ương đến cơ sở, đảm bảo cho toàn bộ hệ thống này hoạt động có hiệu lực,
hiệu quả, đủ mạnh để hoàn thiện các chức năng của quyền hành pháp.
- Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong đời sống nhà nước và đời
sống xã hội.
tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp.
Phát huy vai trò giám sát của hội đồng nhân dân. Tổ chức hợp lý chính quyền
địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị,
hải đảo"(5).
Mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp cần bảo đảm
sự thống nhất không gian kinh tế và không gian pháp lý. Quyền tự chủ của chính
quyền địa phương phải đặt trong sự quản lý của Trung ương về thể chế và chính
sách vĩ mô. Mỗi cấp chính quyền là một bộ phận cấu thành của hệ thống hành
chính nhà nước thống nhất. Do đó, không thể coi việc đảm bảo quyền tự chủ của
chính quyền địa phương như là sự thoát ly, tách rời khỏi Nhà nước Trung ương
và không thể làm phát sinh tình trạng cát cứ, cục bộ địa phương, không để tạo ra
sự đối lập lợi ích giữa địa phương và Trung ương.
Đổi mới, cải cách tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương phải gắn
liền với việc đổi mới tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng ở các cấp địa
phương.
e) Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức theo yêu cầu xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, công chức của nước ta đã có sự phát triển
cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh những mặt trưởng thành, đội ngũ cán bộ
công chức còn nhiều mặt yếu kém, điều có tính phổ biến là còn thiếu tính chuyên
nghiệp.
Do vậy, nhiệm vụ hiện nay cần quan tâm trước hết là xây dựng và áp dụng chức
danh, tiêu chuẩn của các loại cán bộ công chức trong bộ máy hành chính, các tổ
chức sự nghiệp. Tiến hành phân cấp quản lý biên chế hành chính, biên chế sự
nghiệp nhà nước và thực hiện cơ chế quản lý mới đối với biên chế sự nghiệp,
thực hiện cơ chế hợp đồng đối với biên chế sự nghiệp để tạo quyền tự chủ về
nguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu công chức, viên chức cho các đơn vị sự
nghiệp. Đổi mới công tác tuyển dụng cán bộ, công chức, chuyển từ phương thức
xét tuyển sang phương thức thi tuyển để lấy người có trình độ vào làm việc
trong các cơ quan quản lý nhà nước; đồng thời chú ý đến các vùng sâu, vùng xa,