TIỂU LUẬN xây DỰNG và HOÀN THIỆN NHÀ nước PHÁP QUYỀN xã hội CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - Pdf 33

TIỂU LUẬN:

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM


Làm rõ quan điểm mà Đảng ta đã đưa ra tại Đại hội X của Đảng về xây dựng và
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách một nhiệm
vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, trong bài viết
này, tác giả đã tập trung luận giải: 1. Lý luận về Nhà nước pháp quyền; 2. Xây dựng
Nhà nước pháp quyền với tư cách một tất yếu lịch sử, tất yếu khách quan đối với Việt
Nam hiện nay; 3. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa thể hiện
được các giá trị phổ biến, vừa khẳng định được bản sắc đặc thù; 4. Những đặc trưng
của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 5. Đổi mới, hoàn thiện bộ
máy nhà nước theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Từ Đại hội lần thứ IX, khi thông qua việc sửa đổi một số điều trong Hiến pháp năm
1992, Đảng ta đã xác định phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của
Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế. Việc xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã được Đảng ta đặt
ra như một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Về vấn đề
này, tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta đã khẳng định chủ trương “đẩy nhanh công cuộc
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên các mặt: hệ thống thể chế, chức
năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy; cán bộ, công chức; phương thức hoạt động”(1).


Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, biến Nghị quyết Đại hội
thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội, trước hết chúng ta cần nhìn lại một
cách khái quát những gì đã làm được cả trên lĩnh vực nghiên cứu lý luận lẫn hoạt
động thực tiễn; đồng thời phải giải quyết một cách hiệu quả nhất những vấn đề mới

này, về thực chất, là hết sức đa dạng, phong phú và rất phức tạp, được xác định bởi
các điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hoá, tâm lý xã hội và môi trường địa lý của mỗi
quốc gia dân tộc. Chúng không chỉ tạo ra cái đặc sắc, tính riêng biệt của mỗi dân tộc
trong quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển, mà còn quyết định mức độ tiếp
thu và dung nạp các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền. Việc thừa nhận tính
đặc thù của nhà nước pháp quyền có ý nghĩa nhận thức luận quan trọng. Với ý nghĩa
này, nhà nước pháp quyền là một phạm trù vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính
đặc thù; vừa là giá trị chung của nhân loại, vừa là giá trị riêng của mỗi dân tộc, quốc gia.
Do vậy, không thể có một nhà nước pháp quyền như một mô hình chung thống nhất cho
mọi quốc gia, dân tộc. Mỗi quốc gia, dân tộc, tuỳ thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính
trị, kinh tế, xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước
pháp quyền thích hợp.
2. Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền đang được đặt ra như
một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan.
Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam bắt nguồn từ
chính lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta. Ngay từ khi thành lập và trong
quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã và luôn là một nhà
nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy
định của Hiến pháp, pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp
luật. Các đạo luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân
dân và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở Hiến pháp
năm 1946, năm 1959. năm 1980 và năm 1992. Những lần Hiến pháp được sửa đổi và
thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp luật cho tổ chức và hoạt động của bản
thân các cơ quan nhà nước. Vì vậy, có thể nói, quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập
năm 1945 và Hiến pháp năm 1946, được định hướng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về
xây dựng nhà nước. Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ và ngày nay, quá trình
này đang được tiếp tục đẩy mạnh trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước.





hội rộng lớn và khả năng to lớn trong việc tập hợp, tổ chức các tầng lớp nhân dân
thực hành và phát huy dân chủ.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tuy không loại bỏ được sự phân
tầng xã hội theo hướng phân hoá giàu nghèo, nhưng có khả năng xử lý tốt hơn công
bằng xã hội. Những mâu thuẫn xã hội phát sinh trong điều kiện phát triển nền kinh tế
thị trường do được điều tiết thông qua pháp luật, chính sách và các công cụ khác của
nhà nước nên ít có nguy cơ trở thành các mâu thuẫn đối kháng và tạo ra các xung đột
có tính chất chia rẽ xã hội. Đây là một trong những điều kiện đảm bảo ổn định chính
trị, đoàn kết các lực lượng xã hội vì các mục tiêu chung của sự phát triển.
Tính nhất nguyên chính trị và sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất cầm quyền tạo khả
năng đồng thuận xã hội, tăng cường khả năng hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa các
giai tầng, các cộng đồng dân cư và các dân tộc. Nhờ vậy, nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa có được sự ủng hộ rộng rãi từ phía xã hội, nguồn sức mạnh từ sự đoàn
kết toàn dân, phát huy được sức sáng tạo của các tầng lớp dân cư trong việc nâng cao
quyền làm chủ của nhân dân.
4. Những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Một là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đây là đặc
trưng cơ bản, được ghi nhận trong Hiến pháp của nước ta và được thể hiện trong các
quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước từ trung ương đến
địa phương của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây
vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, vừa là quan điểm
chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện việc cải cách bộ máy nhà nước.
Ba là, Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ
thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hệ thống pháp luật thể hiện đầy đủ,
đúng đắn ý chí của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã

a) Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo hướng nâng cao chất lượng, thực
hiện tốt chức năng lập pháp và giám sát tối cao.
Hiến pháp năm 1992 đã xác định Quốc hội nước ta là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất với 3 chức năng: lập hiến, lập pháp,


quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước và giám sát tối cao.
Cần đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò của Quốc hội trong tổng thể bộ máy nhà
nước, theo đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nhưng không phải
toàn bộ quyền lực nhà nước đều thuộc về Quốc hội. Vấn đề đặt ra là, cần phải xây
dựng được một Quốc hội thực quyền chứ không phải là Quốc hội toàn quyền.
Đối với chức năng lập hiến và lập pháp, cần quán triệt nguyên tắc hiến định: Quốc
hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Để đảm bảo quyền này của
Quốc hội, cần nghiên cứu để hạn chế quyền ban hành pháp lệnh của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội, tiến tới quy định Uỷ ban Thường vụ Quốc hội không ban hành pháp
lệnh, đồng thời phân định rõ thẩm quyền lập pháp của Quốc hội với thẩm quyền lập
quy của Chính phủ, từng bước hạn chế uỷ quyền lập pháp.
Đối với việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội, vấn đề thiết thực và
quan trọng nhất là hiệu quả của sự giám sát thông qua cơ chế xử lý kết quả giám sát
của Quốc hội, bảo đảm các kết luận giám sát của Quốc hội phải được tôn trọng và
thực hiện nghiêm túc bởi các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Để tạo lập được cơ chế giám sát tối cao một cách thực tế đối với hoạt động của nhà
nước, cần tổ chức nghiên cứu để tiến tới thành lập một cơ quan bảo hiến, đảm bảo
địa vị tối cao, thiêng liêng, bất khả xâm phạm của Hiến pháp trong Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của nước ta.
Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên của
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), bảo đảm sự tương thích của pháp luật quốc gia
với các không gian pháp lý có tính quốc tế đang đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh việc
đổi mới công tác lập pháp. Chúng ta không những phải soạn thảo và thông qua nhiều
đạo luật mới, mà còn phải rà soát, sửa đổi toàn bộ những đạo luật đã có sao cho đáp

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn toả sáng trong cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh" do Đảng ta phát động và đang được toàn Đảng, toàn
dân hưởng ứng. Thiết nghĩ, đây là dịp tốt để mọi cán bộ, công chức, viên chức liên
hệ vào công việc của mình đang đảm nhiệm, tạo chuyển biến tốt để phục vụ nhân
dân một cách thiết thực thì chắc chắn, Đảng và Nhà nước ta tăng thêm được uy tín
của mình đối với nhân dân. Đó cũng là cách thức tốt nhất để nhân dân góp phần thiết
thực vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân.r

(*) Giáo sư, Viện sĩ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006. tr. 253.


(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 22.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.126 – 127.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.127.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.127.

VĂN HÓA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO VĂN HOÁ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

NGUYỄN VĂN PHÚC (*)
Phân tích sự thể hiện văn hoá trong các xã hội phương Đông phong kiến và các xã
hội phương Tây hiện đại, tác giả cho rằng, sự gia tăng hàm lượng văn hoá là xu thế
chung của sự phát triển của quản lý nhà nước. Chính sự gia tăng hàm lượng văn hoá
là nhân tố tạo nên hiệu quả của quản lý nhà nước. Trong điều kiện hiện nay ở nước
ta, những bất cập trong quản lý nhà nước thể hiện ở cả bình diện phương thức quản

giác trong quản lý nhà nước. Các nhà nước phong kiến đã sử dụng phương thức đức
trị trong quản lý xã hội. Phương thức này vận hành thông qua một hệ thống những
yêu cầu, những chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hoạt động của toàn bộ xã hội, và đặc
biệt là hoạt động của những nhà quản lý, tức những bậc đế vương, quan lại các cấp.
Hệ thống những chuẩn mực đức trị chính là hệ chuẩn mực Nho giáo với Trung, Hiếu,
Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín... Tương ứng với các chuẩn mực đạo đức đó là nhân cách
đạo đức, các phẩm chất đạo đức cá nhân của các nhà quản lý. Vua sáng, tôi hiền,
những vị quan phụ mẫu là những tấm gương sáng cho mọi người noi theo... Trong
tinh thần ấy, văn hóa của quản lý nhà nước trong các quốc gia Nho giáo đã được thể
hiện. Cố nhiên, văn hoá này phản ánh và bảo vệ một trật tự kinh tế xã hội trì trệ. Bởi
thế, tác động của nó tới sự phát triển xã hội là rất hạn chế. Hơn nữa, không phải lúc
nào các nhà quản lý cũng gương mẫu thực thi đức trị. Nhưng dù sao, sự thể hiện và
thực hiện văn hóa quản lý Nho giáo đã góp phần tạo nên cả một thời đại phong kiến
phương Đông về cơ bản là ổn định và trường trị; cho dù sự trường trị ấy càng về sau


càng mang nặng tính trì trệ.
Tiến trình phát triển của quản lý nhà nước ở phương Tây hiện đại cũng cho thấy vai
trò của văn hoá trong quản lý và xu thế gia tăng hàm lượng văn hóa trong quản lý.
Trước những năm 30 của thế kỷ XX, thường người ta mới chỉ biết đến văn hoá của
phương thức quản lý. Đó là việc sử dụng pháp luật nghiêm minh, hợp lý hóa, tinh
giản bộ máy tổ chức; chú ý giải quyết một cách hợp lý quan hệ giữa trách nhiệm và
quyền hạn, nghĩa vụ và quyền lợi, kỷ luật và khen thưởng... ; đồng thời, xem việc
giải quyết tốt các vấn đề đó là động lực thúc đẩy quản lý nhà nước. Việc chỉ biết đến
các động lực có tính quy phạm, pháp lệnh lạnh lùng tuy có đem lại những hiệu quả
nhất định nhưng không phát huy được tối đa tính tích cực xã hội của con người, của
nhân viên, cấp dưới... Nghĩa vụ và quyền lợi, kỷ cương, kỷ luật và khen thưởng là
những kích thích tố từ bên ngoài; chúng chỉ phát huy được tối đa tác dụng khi được
chuyển hoá thành sức mạnh bên trong của các chủ thể quản lý. Trong trường hợp
này, phương diện văn hóa và sự bộc lộ nó trong quản lý nhà nước cũng như vai trò

quan tâm ngày một đầy đủ hơn. Đây chính là một phương diện quan trọng trong văn
hóa của quản lý nhà nước. Cùng với lý thuyết Z, trong quản lý nhà nước ở phương
Tây hiện đại, các thành tựu của khoa học - công nghệ đã được sử dụng ngày càng
nhiều, khiến cho hiệu lực và hiệu quả của quản lý ngày càng gia tăng. Việc áp dụng
các thành tựu khoa học - công nghệ (tin học hóa, xây dựng chính phủ điện tử…)
đang trở thành trung tâm chú ý của cải cách hành chính nhằm tiết kiệm nhân lực, tài
lực và nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước. Không chỉ khoa học - công nghệ,
khoa học xã hội và nhân văn cũng được áp dụng ngày một tích cực hơn trong quản lý
nhà nước. Nhờ vậy, hoạt động quản lý nhà nước không tự giới hạn ở việc chỉ dựa
trên những hiểu biết về các nguyên lý và những quy tắc mang tính công nghệ thuần
túy. Trong thực tiễn, người ta nhận thấy rằng, hiệu quả của quản lý nhà nước không
chỉ phụ thuộc vào phương thức, công nghệ quản lý mà còn phụ thuộc rất nhiều
vào nhân cách các nhà quản lý. Nhân cách nhà quản lý biểu hiện không đơn giản chỉ
ở những hiểu biết và khả năng “vận hành” công nghệ quản lý của họ. Nó còn được
biểu hiện ở sự quan tâm đến cấp dưới, nhân viên trong việc tạo điều kiện thuận lợi
cho họ làm việc cũng như cho cuộc sống và gia đình của họ; điều đó có tác dụng rất
lớn đối với việc nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý. Nhân cách nhà quản lý
còn biểu hiện ở những phẩm chất cá nhân, đặc biệt là sự nêu gương trong công việc


cũng như trong đời tư. Chính những điều đó có tác dụng rất lớn đối với việc động
viên ý thức trách nhiệm, tinh thần làm việc của cấp dưới, nhân viên. Không chỉ thế,
trong quản lý nhà nước, người ta còn nhận ra vai trò của các nhân tố khác, như kinh
nghiệm cá nhân, kỹ năng, linh cảm, trực giác, cảm hứng sáng tạo của nhà quản lý; đó
là những nhân tố cấu thành “năng lực sáng tạo theo quy luật cái đẹp” của các nhà
lãnh đạo, quản lý, là nghệ thuật quản lý. Như vậy, quản lý nhà nước được nhìn nhận
và tiến hành vừa như một khoa học, vừa như một nghệ thuật. Sự thống nhất giữa
phương diện khoa học và phương diện nghệ thuật trong quản lý nhà nước làm cho
văn hóa của quản lý nhà nước được thể hiện và thực hiện ngày càng đầy đủ, toàn
diện hơn; đồng thời nhân lực, vật lực, tài lực được tiết kiệm, hiệu quả của quản lý

quan giải quyết công việc cho dân và doanh nghiệp. Bộ máy chính quyền cơ sở nhiều
nơi yếu kém”(5).
Để khắc phục tình trạng đó, cần phải đẩy mạnh hơn nữa cải cách hành chính, làm
cho cải cách hành chính đi vào thực chất, nâng cao hàm lượng văn hoá của quản lý
nhà nước; khắc phục tình trạng “cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu”(6) như hiện
nay. Mục tiêu của cải cách hành chính phải nhằm vào việc xây dựng được một hệ
thống quản lý nhà nước đủ mạnh trên các phương diện duy trì trật tự, động viên xã
hội, đổi mới chính sách; các quyết sách phải được khoa học hóa, các quá trình tổ
chức, thực thi phải mang tính chuyên nghiệp, đồng bộ và mang tính nghệ thuật cao...
Điều đó cũng có nghĩa là gia tăng hàm lượng văn hóa cho hoạt động quản lý nhà
nước.
Như đã chỉ ra, văn hóa của quản lý nhà nước thể hiện cả trên phương diện phương
thức quản lý lẫn trên phương diện nhân cách của những người hoạt động trong lĩnh
vực quản lý. Vì vậy, đối với phương thức quản lý, cần phải có những cải cách, đổi
mới cần thiết nhằm đáp ứng các yêu cầu của tình hình hiện nay. Những đổi mới đó
phải nhằm vào những vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, cần có cơ chế tăng cường hơn nữa chức năng hiệp đồng của bộ máy hành
chính các cấp. Do xu thế gia tăng chức năng của quản lý nhà nước trong điều kiện
hiện đại, do sự gia tăng quyền tự quyết của chính quyền ở các địa phương, các ngành
nên yêu cầu tăng cường chức năng hiệp đồng nhằm phối hợp giải quyết những vướng
mắc, những mâu thuẫn về quyền hạn, trách nhiệm trong quản lý luôn là vấn đề cần
giải quyết.


Thứ hai, tinh giản bộ máy là yêu cầu có tính thường xuyên của cải cách hành chính.
Nó góp phần tiết kiệm nhân lực, tài lực. Cố nhiên, sự tinh giản này đòi hỏi nâng cao
nhân cách, năng lực chuyên môn của đội ngũ công chức.
Thứ ba, thu hẹp phạm vi hành chính của chính phủ, đẩy mạnh xã hội hóa những lĩnh
vực mà chính phủ quản lý kém hiệu quả.
Thứ tư, đẩy mạnh hơn nữa việc áp dụng các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại

người hoạt động trong lĩnh vực quản lý nhà nước là một trong những biện pháp vừa cấp
bách, vừa lâu dài nhằm nâng cao hàm lượng văn hóa của quản lý nhà nước, qua đó nâng
cao hiệu quả của quản lý nhà nước.
Trên bình diện chuyên môn, biểu hiện yếu kém, bất cập nổi bật hiện nay là tính thiếu
chuyên nghiệp. Cụ thể là, vẫn còn những người lãnh đạo, quản lý một lĩnh vực hoạt
động xã hội mà chưa được đào tạo về chuyên môn đủ để đảm bảo cho công tác lãnh
đạo ở lĩnh vực đó. Ngay từ năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói rằng, một
người muốn lãnh đạo ngành hỏa xa thì phải học về ngành đó. Đối với đội ngũ công
chức, tình trạng làm trái ngành nghề hoặc đúng ngành nghề nhưng trình độ chuyên
môn không đáp ứng yêu cầu vẫn còn là hiện tượng phổ biến. Trong những năm gần
đây, việc tổ chức thi tuyển công chức tuy đã được thực hiện, nhưng hiệu quả chưa
cao. Cần nâng cao hơn nữa tính chuyên nghiệpcủa các nhà quản lý và công chức hoạt
động trong bộ máy quản lý nhà nước; tính chuyên nghiệp thể hiện cả ở việc có đủ tri
thức chuyên môn, kỹ năng, sự thành thạo khi giải quyết các công việc chuyên môn
lẫn ở tác phong, ở quan hệ giao tiếp, ứng xử... Tất cả những điều đó biểu hiện văn
hóa, sức mạnh bản chất người, “năng lực sáng tạo theo quy luật cái đẹp” của đội ngũ
cán bộ, công chức; chúng góp phần tạo nên hiệu quả của quản lý nhà nước.
Tóm lại, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao văn hoá của quản lý nhà nước là
một trong những nhiệm vụ vừa cấp thiết, vừa lâu dài nhằm nâng cao hiệu quả của
quản lý nhà nước trong điều kiện nước ta hiện nay./.

(*) Phó giáo sư, tiến sĩ triết học, Trưởng phòng Đạo đức và Mỹ học, Viện Triết học,
Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 213.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.213.


(3) Xem: Hành chính học và những vấn đề cải cách hành chính. Nxb Sự thật, Hà
Nội, 1992, tr. 26 – 29.

Từ đó, tác giả khẳng định sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin
về chủ nghĩa tư bản nhà nước trên cơ sở phân tích một số điểm khác biệt về điều kiện
phát triển của nước ta hiện nay so với Liên Xô những năm 20 của thế kỷ trước. Tác
giả tin tưởng rằng, nếu vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước một cách khoa học,
chúng ta không những sẽ bắc được “cây cầu nhỏ”, mà còn có thể bắc được “cây cầu
lớn vững chắc, hiện đại” đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Sau hơn 20 năm, bắt đầu từ năm 1986, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được
những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Thành tựu này chứng tỏ đường lối đổi
mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Chủ nghĩa tư bản nhà nước xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX và hiện
nay, vẫn tiếp tục tồn tại, phát triển khá mạnh ở nhiều quốc gia. Ở miền Bắc nước ta,
chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức công ty hợp doanh cũng tồn tại từ cuối
những năm 50 của thế kỷ XX nhưng chỉ ít năm sau đó, đã bị thủ tiêu.


Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, các Văn kiện Đại hội lần thứ VI, VII, VIII, IX
của Đảng ta ngày càng tiếp cận sâu hơn, đầy đủ hơn và hiệu quả hơn vấn đề chủ
nghĩa tư bản, chủ nghĩa tư bản nhà nước trong bức tranh toàn cảnh đa dạng hoá sở
hữu và các thành phần kinh tế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Trong Văn kiện Đại hội lần thứ X, với tinh thần đẩy mạnh toàn diện công
cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, Đảng ta tiếp tục đề
cập tới vấn đề chủ nghĩa tư bản nhà nước với chủ trương: “Trên cơ sở ba chế độ sở
hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành
phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư
bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”(1).
Sinh thời, cả C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, chủ
nghĩa xã hội trước hết là sản phẩm khách quan của chủ nghĩa tư bản và điều đó tất
yếu đòi hỏi những người cộng sản, nhân dân lao động cùng với nhà nước kiểu mới
của mình phải biết tiếp thu, kế thừa tất cả các giá trị tiến bộ được tạo ra bởi chủ nghĩa
tư bản để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Do những hạn chế lịch sử, C.Mác

Quá trình vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước trong điều kiện Đảng Cộng sản cầm
quyền, Nhà nước kiểu mới của những người cộng sản và nhân dân lao động trực tiếp
quản lý và điều hành xã hội là một quá trình hợp quy luật. Quá trình này ngày càng
mang nhiều yếu tố tự giác hơn và tạo nên địa bàn mới ngày càng thuận lợi hơn cho
sự phát triển hơn nữa của lực lượng sản xuất và đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã
hội trên những cơ sở vững chắc hơn. Về luận điểm này, V.I.Lênin khẳng định: “Chủ
nghĩa tư bản nhà nước sẽ là một sự cứu nguy đối với chúng ta, giá như chúng ta thực
hiện được chủ nghĩa tư bản nhà nước ở nước Nga rồi, thì bước quá độ lên chủ nghĩa
xã hội hoàn toàn là đã dễ dàng, đã nằm gọn trong tay chúng ta rồi, bởi vì chủ nghĩa
tư bản nhà nước là cái gì có tính chất tập trung, được tính toán, được kiểm soát và
được xã hội hoá”(3).
Đối với chủ nghĩa tư bản nhà nước, V.I.Lênin đặc biệt quan tâm tới việc phải thực
hiện nó một cách nghiêm túc và có nguyên tắc. Theo ông, các nước từ sản xuất nhỏ
tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa bắt buộc phải
đi qua “hai cái trạm” là chủ nghĩa tư bản nhà nước và kiểm kê - kiểm soát.
Chính kiểm kê - kiểm soát đảm bảo cho chủ nghĩa tư bản nhà nước vận động theo


quỹ đạo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu thiếu “cái trạm” này, hoặc có nhưng hoạt
động thiếu nguyên tắc và không có hiệu quả thì chủ nghĩa tư bản nhà nước chỉ mang
lại những điều “xấu xa” như V.I.Lênin đã phân tích trong tác phẩm nổi tiếng Chủ
nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản.Và đương nhiên, con đường
tiến lên chủ nghĩa xã hội sẽ không hiện thực.
Việc phân tích lại toàn bộ tình hình về chủ nghĩa tư bản nhà nước và thực tiễn nước
Nga khi đó đã dẫn V.I.Lênin tới kết luận quan trọng rằng, trong điều kiện một nước tiểu
nông kém phát triển, tiềm lực kinh tế, kỹ thuật nhỏ bé, cần phải biết sử dụng các hình
thức kinh tế quá độ. Chính tại đây, vai trò của các quan hệ thị trường và tư bản chủ
nghĩa trong công cuộc xây dựng xã hội mới – xã hội chủ nghĩa - đã được xác định.
Quan niệm chủ yếu của V.I.Lênin là, trong một nước kém phát triển, giai cấp vô sản
không thể tự mình xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nó cần phải và không thể

tư bản nhà nước kiểu mới – là sự kết hợp giữa tư bản và Nhà nước vô sản, được thực
hiện trong điều kiện Đảng Cộng sản cầm quyền và được quản lý điều hành trực tiếp
bởi Nhà nước kiểu mới – Nhà nước của dân, do dân và vì dân, vận động trong quỹ
đạo định hướng xã hội chủ nghĩa và tạo điều kiện cho đất nước tiến lên chủ nghĩa xã
hội từng bước vững chắc.
Với quan niệm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc trở
lại vấn đề chủ nghĩa tư bản nhà nước ở nước ta hiện nay trở thành không thể tránh
khỏi, xét từ bất cứ góc độ nào. Định hướng xã hội chủ nghĩa (dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh) và mục tiêu phát triển với tốc độ cao và lâu bền
được thực hiện trong điều kiện thách thức gay gắt của thời đại đã và đang đặt ra hai
vấn đề phải đồng thời được giải quyết:
Một là, nguồn vốn. Đối với một nước nghèo như nước ta, nguồn vốn là vấn đề sống
còn của bất kỳ định hướng phát triển nào. Lôgíc vấn đề dẫn tới chỗ làm sao để huy
động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cả trong lẫn ngoài nước.
Hai là, lựa chọn các hình thức kinh tế quá độ thích hợp. Mục tiêu của sự lựa chọn
này là nâng cao trình độ xã hội hoá các quan hệ kinh tế, đồng thời thoả mãn yêu cầu
về một định hướng phát triển cụ thể của quá trình xã hội hoá đó - định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Trong những năm qua, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế thị
trường, khuyến khích sự phát triển của các thành phần kinh tế và khai thông các


dòng vốn quốc tế được thực hiện khá thành công. Trong một chừng mực nào đó,
đường lối này đáp ứng tích cực nhu cầu về nguồn lực phát triển và nâng cao trình độ
xã hội hoá của nền kinh tế. Trên quan điểm mácxít, đây là một bước tiến thực sự lên
chủ nghĩa xã hội.
Song, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa xác định rõ ràng và cụ thể về các phương thức
kinh tế có khả năng thoả mãn cả hai yêu cầu: nguồn vốn cho tăng trưởng và bảo đảm
bảo định hướng trong khuôn khổ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa (vì các nguồn vốn nước ngoài, trên thực tế, chủ yếu là từ các nước và các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status