Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân và vì dân
TS. Hoàng Đình Cúc
1. Pháp quyền và nhà nước pháp quyền
Một trong những đặc trưng của nhà nước là mối liên hệ mật thiết với pháp quyền.
pháp quyền là hình thức điều tiết hành vi của con người, là tổng thể những chuẩn
mực hành vi do nhà nước đặt ra và chuẩn y nhằm duy trì trật tự kinh tế, chính trị, xã
hội và những trật tự khác có trong xã hội, đó là ý chí của giai cấp thống trị được
nâng lên thành luật. Trong chế độ công xã nguyên thuỷ không có pháp quyền. Trật
tự đời sống xã hội thời kỳ này được duy trì bằng sức mạnh của tập quán, truyền
thống, uy tín, tinh thần của trưởng lão thị tộc đại diện cho lợi ích chung của các
thành viên. Khi xã hội phân chia thành giai cấp, những lợi ích đối lập nhau xuất hiện,
tập quán, truyền thống, uy tín không thể điều tiết được hành vi của con người, mà
chỉ có pháp quyền. Xã hội có giai cấp không thể tồn tại, nếu không thể chế hoá bằng
pháp quyền các mối quan hệ sở hữu, gia đình, hôn nhân và các quan hệ khác.
Thông qua pháp quyền được trình bày dưới hình thức luật, nhà nước thực hiện
chức năng lập pháp.
Lịch sử xã hội loài người từ trước đến nay có bốn kiểu nhà nước có liên hệ mật thiết
với pháp quyền là nô lệ, phong kiến, tư sản và vô sản. nhà nước pháp quyền mà
chúng ta quan niệm không phải là một kiểu nhà nước gắn liền với một giai cấp như
nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản, xã hội chủ nghĩa, mà là một hình thức tổ chức
nhà nước, một trình độ phát triển của nhà nước về phương diện tổ chức quyền
lực để bảo đảm Hiến pháp và pháp luật giữ địa vị tối cao. nói một cách khái quát là,
hệ thống các tư tưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức, hoạt
động của bộ máy nhà nước và trong đời sống xã hội. Nhà nước pháp quyền là nhà
nước quản lý xã hội theo pháp luật.
Đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền bao gồm:
Trước hết, sự đảm bảo tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội,
trong đó pháp luật phải phản ánh ý chí chung của nhân dân và lợi ích chung của xã
hội.
Thứ hai, Nhà nước thực hiện và bảo vệ các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội
đó. Người
cho rằng chế độ nào cũng có chuyên chính, vấn đề là ai chuyên chính ai, vì lợi ích
của đa số hay thiểu số.
Thứ hai, nhà nước pháp quyền Việt Nam là nhà nước pháp quyền hợp hiến, hợp
pháp. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3.9.1945, Người đề ra
hai nhiệm vụ liên quan tới xây dựng nhà nước pháp quyền là: tổ chức Tổng tuyển
cử và Xây dựng Hiến pháp để xác lập nền tảng dân chủ và nhà nước hợp hiến, hợp
pháp ở Việt Nam.
Thứ ba, hệ thống pháp luật ở Việt Nam là hệ thống pháp luật dân chủ, tiến bộ,
hướng tới các giá trị nhân văn. Hồ Chí Minh cho rằng pháp luật của ta là pháp luật
dân chủ vì nó bảo vệ quyền tự do rộng rãi của nhân dân lao động. Muốn vậy, nhà
nước phải thực sự của dân, chăm lo tới lợi ích của nhân dân. Thứ tư, nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công cụ bảo vệ và phát huy quyền làm
chủ của nhân dân, bảo vệ và phát triển quyền con người. Quyền con người của tư
tưởng Hồ Chí Minh bao gồm quyền tự do cá nhân, quyền bình đẳng giữa các dân
tộc trên thế giới, độc lập dân tộc và giải phóng con người.
Như vậy, tư tưởng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh rất phong phú, nhất
quán và những tư tưởng ấy đã được Đảng ta vận dụng, phát triển để xây dựng nhà
nước pháp quyền trong quá trình đổi mới đất nước.
Tư tưởng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta khẳng định trong quá
trình đổi mới có cơ sở tư tưởng dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền trong
lịch sử, đặc biệt là nền dân chủ tư sản và tư tưởng dân chủ, xây dựng nhà nước
pháp quyền Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh. nhận thức về xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN Việt Nam được thể hiện qua các Văn kiện của Đảng trong công
cuộc đổi mới như sau:
Đại hội lần thứ VI của Đảng đã dứt khoát từ bỏ mô hình kinh tế phi hàng hoá, phi
thị trường, mô hình kinh tế tập trung bao cấp và chủ trương phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần. Sự chuyển hướng ấy đã đặt ra yêu cầu chúng ta cần
nhận thức rõ hơn vai trò của pháp luật và phải “quản lý xã hội bằng pháp luật, chứ
không phải bằng đạo lý”.
chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân;
Thứ hai, quyền lực của nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt
chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp,
tư pháp;
Thứ ba, quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của nhà
nước;
Thứ tư, tăng cường pháp chế XHCN, quản lý xã hội bằng pháp luật đồng thời coi
trọng giáo dục, nâng cao đạo đức XHCN; Thứ năm, tăng cường vai trò lãnh đạo của
Đảng đối với nhà nước(3).
Đó là năm quan điểm cơ bản đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội VII.
Hội nghị Trung ương 3 khoá VIII (6.1997) có nhận xét rằng, trong quá trình đổi
mới, Đảng ta “đã từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về
xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do dân, vì dân”. Đồng thời khi
phân tích nguyên nhân những yếu kém, hội nghị đã nêu lên một số vấn đề có tính
phương pháp luận: “Việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trong điều kiện
chuyển đổi nền kinh tế là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều
việc phải vừa làm, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm”. Nghị quyết khẳng định tiếp tục thực
hiện nghị quyết Trung ương 8 khoá VII và nhấn mạnh ba yêu cầu là tiếp tục phát
huy tốt hơn và nhiều hơn quyền làm chủ của nhân dân qua các hình thức dân chủ
đại diện và dân chủ trực tiếp; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước cộng hoà
XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với nhà nước.
Đại hội IX chỉ rõ: Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan
Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp(4).
Từ thực tiễn nhận thức và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, ta có thể rút ra
những đặc trưng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam như sau:
- Thứ nhất, nhà nước pháp quyền là nhà nước phải có hệ thống pháp luật đồng bộ,
hoàn chỉnh, chất lượng cao, thể hiện được ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân
nước của mình. Trong chế độ ta, giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo xã hội. Vì
vậy, nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân, được thể hiện ở toàn bộ hoạt
động của nhà nước từ pháp luật, cơ chế, chính sách, đến nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của nhà nước, nhằm từng bước thực hiện ý chí và nguyện vọng của
nhân dân, phục vụ lợi ích giai cấp, nhân dân lao động và cả dân tộc.
Lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc là thống
nhất. Sự thống nhất ấy bắt nguồn từ bản chất của cách mạng XHCN do giai cấp
công nhân lãnh đạo. Vì vậy, nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân, đồng
thời cũng gắn bó chặt chẽ với tính dân tộc, tính nhân dân. Bản chất giai cấp công
nhân, tính dân tộc và tính nhân dân hoà quyện vào nhau, được quán triệt, cụ thể
hoá, thể chế hoá trên mọi lĩnh vực, mọi tổ chức, mọi hoạt động của nhà nước. Và
cũng chỉ có nhà nước
mang bản chất giai cấp công nhân do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo mới
đại biểu cho lợi ích chung của nhân dân lao động, của dân tộc. Tính nhân dân thể
hiện ở chỗ nhà nước là của dân, quyền lực thực sự ở nơi dân, chính quyền do dân
lập nên và tham gia quản lý; nhà nước thể hiện ý chí, lợi ích và nguyện vọng của
nhân dân; cán bộ công chức nhà nước là công bộc của dân. Tính dân tộc của nhà
nước được thể hiện ở chỗ, tổ chức và hoạt động của nhà nước ta kế thừa và phát
huy những truyền
thống, bản sắc tốt đẹp của dân tộc và con người Việt Nam. Nhà nước có chính sách
dân tộc đúng đắn, chăm lo lợi ích mọi mặt cho các dân tộc trong cộng đồng người
Việt Nam và thực hiện đoàn kết dân tộc, coi “đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân là
đường lối chiến lược và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ tổ quốc; giữ vững
quan điểm của Đảng về độc lập, tự chủ trong quan hệ đối ngoại; kết hợp đúng
đắn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp
công nhân”.
3. Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp hoàn thiện nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ X
Phương hướng tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân đã được Đại hội Đảng lần thứ X chỉ rõ: “Xây
nhiệm về hoạt động, tổ chức, nhân sự, tài chính, bổ nhiệm chức danh người đứng
đầu cấp dưới.
- Tách hoạt động hành chính với hoạt động sự nghiệp, các hoạt động công
quyền với hoạt động dịch vụ.
- Thực hiện đầy đủ nguyên tắc công khai, dân chủ và phục vụ nhân dân đối
với các cơ quan và công chức nhà nước. Thực hiện nghiêm ngặt chế độ công vụ
trong các cơ quan nhà nước.
- Nghiên cứu việc thành lập các cơ quan tài phán hành chính để giải quyết
các khiếu kiện hành chính.
- Thực hiện phân cấp mạnh, hợp lý cho chính quyền địa phương, nhất là
trong việc quyết định ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa
vụ tài chính đối với Trung ương.
Thứ tư, đối với hệ thống các cơ quan tư pháp:
- Xây dựng hệ thống các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,
nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người.
- Đẩy mạnh chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Cải cách tư pháp
khẩn trương, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trung tâm; thực hiện cơ
chế công bố gắn với hoạt động điều tra.
- Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động
lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Thứ năm, về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.
- Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân, bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong
phạm vi được phân cấp.
- Phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân.
- Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với
chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo.
Thứ sáu, về tổ chức bộ máy hành chính và hoạt động của cơ quan hành chính, cán
bộ, công chức.