Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của toà án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân - Pdf 13

CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC XÃ HỘI CẤP NHÀ NƯỚC (2001 – 2005)
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA
NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN
MÃ SỐ: KX 04
===[·¶]===

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KX.04.06
CẢI CÁCH CÁC CƠ QUAN TƯ PHÁP, HOÀN THIỆN HỆ
THỐNG CÁC THỦ TỤC TƯ PHÁP, NÂNG CAO HIỆU QUẢ VÀ
HIỆU LỰC XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

Chủ nhiệm đề tài: TS. UÔNG CHU LƯU
Thư ký đề tài: TS. DƯƠNG THỊ THANH MAI

6443
03/7/2007

Hà Nội 2006 2
Những người thực hiện:
Chủ nhiệm Đề tài: TS. Uông Chu Lưu

27. CN. Chu Thị Hoa
28. CN. Lê Thị Hoàng Thanh
29. CN. Nguyễn Thị Hồng Tươi

3
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

BLDS Bộ luật dân sự
BLLĐ Bộ luật lao động
BLHS Bộ luật hình sự
HĐBT Hội đồng Bộ trưởng
PLTTGQVAKT Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh té
PLTTGQVAHC Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án hành chính
PLTTGQVADS Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự
PLTTGQTCLĐ Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh ch
ấp lao động
TANDTC Toà án nhân dân tối cao
VKSNDTC Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
THA Thi hành án
TTHS Tố tụng hình sự
TTDS Tố tụng dân sự
TVQH Thường vụ Quốc hội
XLVPHC Xử lý vi phạm hành chính
TTHC Tố tụng hành chính
UBND Uỷ ban nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa


2. Thực hiện quyền tư pháp và hệ thống tư pháp
21

II. CÁC NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUYỀN TƯ PHÁP
38

1. Quan niệm
38

2. Hệ thống các nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền tư pháp
40

III. THỦ TỤC TƯ PHÁP VÀ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TƯ PHÁP TRONG
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
67

1. Khái niệm, phạm vi và đặc trưng của các thủ tục tư pháp ở Việt Nam
67

2. Các nguyên tắc của thủ tục tư pháp
69

3. Các yêu cầu đổi mới thủ tục tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp
quyền
71
5
4. Thủ tục tố tụng hình sự và thi hành án hình sự

HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TỪ KHI THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI
(1986) ĐẾN NAY
102

1. Nhận thức của Đảng về vị trí của đổi mới các cơ quan tư pháp trong tiến trình
thực hiện đường lối đổi mới
102

2. Những quan điểm, chủ trương cụ thể của Đảng về cải cách tư pháp theo định
hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân
107

III. THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ
QUAN TƯ PHÁP, THỦ TỤC TƯ PHÁP TỪ ĐẠI HỘI ĐẢNG VI ĐẾN NAY
114

1. Một số thành tựu chung về đổi mới tổ chức và hoạt động các cơ quan tư pháp
115

2. Đổi mới tổ chức và hoạt động của từng loại cơ quan tư pháp
120

CHƯƠNG III: CẢI CÁCH TƯ TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN
237

I. QUAN NIỆM CẢI CÁCH TƯ PHÁP, CÁC TIỀN ĐỀ VÀ THÁCH THỨC
ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở NƯỚC TA TRONG ĐIỀU
237

III/ CÁC YÊU CẦU CƠ BẢN ĐỐI VỚI CẢI CÁCH HỆ THỐNG TƯ PHÁP
TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
252

1. Yêu cầu Tư pháp dân chủ, gần dân, hiểu dân, giúp dân
252

2. Yêu cầu Tư pháp công khai, nghiêm minh, công bằng, nhân đạo, trách nhiệm
trước dân, trước nhà nước
253

3. Yêu cầu đảm bảo nguyên tắc độc lập, khách quan của các cơ quan và chức
danh tư pháp trong khi thực hiện quyền tư pháp
254

IV/ NHỮNG NỘI DUNG CỦA CẢI CÁCH TƯ PHÁP
255

1. Hoàn thiện thể chế về tư pháp
255

2.Cải cách tổ chức và hoạt động của toà án
257

3. Cải cách tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát
272

4. Cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra
275

pháp thông qua các thủ tục tố tụng do luật đị
nh để đưa ra phán quyết cuối cùng thể hiện
quyền lực Nhà nước. Hoạt động xét xử của Toà án nhân dân cũng là nơi thể hiện chất
lượng hoạt động và uy tín của hệ thống cơ quan tư pháp nói riêng và của toàn bộ hệ
thống cơ quan Nhà nước nói chung. Với ý nghĩa đó, việc cải cách các cơ quan Tư pháp
và các hoạt động tư pháp là đòi hỏi tự thân, xuất phát từ vị trí, vai trò quan tr
ọng của
quyền tư pháp trong cơ cấu quyền lực nhà nước.
Qua 60 năm xây dựng và trưởng thành, hệ thống tư pháp đã đạt được những
thành tựu quan trọng. Trong phạm vi, chức năng và nhiệm vụ của mình, các cơ quan tư
pháp đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và củng cố chính quyền Cách mạng của
nhân dân, bảo vệ chế độ XHCN, pháp chế XHCN và quyền dân chủ của nhân dân, b
ảo
vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, của nhân dân, bảo vệ tính mạng, tự do, danh dự và
nhân phẩm của công dân.
Cải cách tư pháp là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, được Đảng và Nhà nước quan tâm
lãnh đạo, chỉ đạo. Trong những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị
Đảng CSVN đã có một số Nghị quyết, Chỉ th
ị về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước và
Pháp luật, trong đó có nhấn mạnh đến nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ
quan tư pháp như Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa VII); Nghị quyết Trung ương 3
(Khóa VIII), Nghị quyết trung ương 7 (Khóa VIII); Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ IX; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị "về một số nhiệm
v
ụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới"; và đặc biệt là ngày 2 tháng 6 năm
2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49 – NQ/TW "về Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020". Theo đó, vấn đề đổi mới, cải cách hệ thống cơ quan tư pháp từ tổ
có hiệu quả. Đối tượng phạm tội là thanh thiếu niên và người nước ngòai chiếm tỷ lệ
ngày càng cao. Loại tội phạm có tổ chức hoạt động theo kiểu “xã hội đen”, tội phạm
khủng bố, bắt cóc con tin, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội
phạm trong lĩnh vực tin học… sẽ di
ễn biến phức tạp và có xu hướng ngày càng gia tăng.
- Các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, và các loại
khiếu kiện và tranh chấp có yếu tố nước ngoài có chiều hướng tăng về số lượng và phức
tạp, đa dạng hơn. 1
Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49 – NQ/TW "về Chiến lược cải cách tư pháp" 10
- Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với các cơ quan tư pháp ngày càng cao. Việc
xử lý tội phạm, giải quyết các khiếu kiện, bảo vệ quyền công dân phải được thực hiện có
hiệu quả, kịp thời, nghiêm minh, bảo đảm công lý. Các cơ quan tư pháp phải thật sự là
chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là
công cụ hữ
u hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả
với các loại tội phạm và vi phạm.
- Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội của đất nước cũng đặt ra yêu cầu
phải đề ra những nội dung cải cách tư pháp sao cho phù hợp, thống nhất, đồng bộ với
đổi mới hoạt động lập pháp, cải cách hành chính.
Xuất phát từ những
đòi hỏi của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và thực
trạng tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp đã trình bày trên đây, việc nghiên cứu
thực hiện đề tài KX 04-06 "Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ
tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Toà án trong nhà nước pháp quyền

động của cơ quan tư pháp phù hợp với điều kiện thực t
ế của Việt Nam trong điều kiện
xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Những định hướng lớn về cải cách tư pháp nói riêng và cải cách bộ máy nhà
nước nói chung liên tục được đề cập qua các kỳ Đại hội Đảng VI, VII, VIII và IX là nền
tảng tư tưởng vững chắc cho công cuộc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ
quan tư
pháp nước ta. Chúng ta cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu khá đa dạng và
tương đối cụ thể về cải cách tư pháp dưới nhiều góc độ khác nhau, điển hình là các đề
tài khoa học cấp nhà nước: "Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy lập pháp,
hành pháp, tư pháp ở nước ta gắn với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN"
- 1993; "Cải cách hệ thống tư pháp Việt Nam" - 1992; "Cơ sở lý lu
ận và thực tiễn của
việc đổi mới tổ chức và hoạt động của thi hành án Việt Nam trong giai đoạn mới" -
2000; các đề tài khoa học cấp bộ như: "Đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân
dân" - 1990; "Xây dựng mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án" - 1996; "Hoàn
thiện chế định hội thẩm nhân dân trong điều kiện cải cách tư pháp" - 1998; "Cơ sở lý
luận và thực tiễn của vi
ệc xã hội hoá một số hoạt động của cơ quan tư pháp" - 1998, v.v.
Ngoài ra, còn có một số công trình khoa học có giá trị tham khảo như: sách "Tổng hợp
các kiến nghị khoa học góp phần đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp" -
Viện nghiên cứu khoa học pháp lý 2000; "Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự
nghiệp đổi mới" - GS.TSKH. Đào Trí Úc; "Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng
hoà xã hội chủ ngh
ĩa Việt Nam", v.v.
Các công trình khoa học này đã góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận và thực
tiễn về mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp nước ta, phúc đáp
những yêu cầu bức xúc của cuộc sống. Trong số đó, có nhiều kiến giải, luận điểm khoa
học đã được vận dụng vào thực tiễn và thu được những kết quả khả

- Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt độ
ng của các cơ quan tư pháp;
- Phương hướng cải cách các cơ quan tư pháp; xác định mô hình tổ chức, hoạt
động của các cơ quan tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân, vì dân.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Đề tài
Cơ sở phương pháp luận thực hiện đề tài là Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cách tiế
p cận của Ban
chủ nhiệm đề tài là cách tiếp cận tổng thể: đặt mỗi cơ quan trong một tổng thể các cơ
quan tư pháp có mối quan hệ tương tác lẫn nhau và đặt hệ thống các cơ quan tư pháp
trong mối tương quan với hệ thống các cơ quan lập pháp và hành pháp của Nhà nước. 13
Ngoài các phương pháp nghiên cứu cơ bản là phương pháp duy vật biện chứng,
phương pháp suy luận logic, đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu bằng cả một số phương pháp
nghiên cứu đặc thù khác như:
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: trong lĩnh vực tư pháp, số lượng các đề tài đã
triển khai nghiên cứu tương đối nhiều. Tuy còn có hạn chế về nhận thức, về quan điểm
đổ
i mới và về tính hệ thống nhưng mỗi đề tài đều đã đạt được những kết quả nhất định
có thể được kết thừa một cách có chọn lọc. Phương pháp này sẽ góp phần làm phong
phú lượng thông tin đầu vào của đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: trước đây, do nhiều yếu tố khách quan và
chủ quan, việc nghiên cứu của chúng ta thường mang nặng tính lý luận. Để tạo các lu
ận
cứ vững chắc cho nghiên cứu lý luận và nâng cao sức thuyết phục và tính khả thi của
các kiến nghị, đề tài chú trọng công tác nghiên cứu thực tiễn được thực hiện thông qua
các cuộc điều tra xã hội học, khảo sát.

nước như hoạt động của Tiểu ban Tổng kết lý luận – thực tiễn 20 năm đổi mới ở nước
ta; Tiểu ban Cải cách tư pháp của Bộ Chính trị, hoạt động xây dựng Đề án về Chiến
lược cải cách tư pháp, Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
đến năm 2010,
định hướng đến năm 2020; Ban soạn thảo các đạo luật và sửa đổi các đạo
luật quan trọng như Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003; Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004; Bộ
luật Dân sự 2005; Pháp lệnh giám định tư pháp 2005; các dự thảo Bộ luật Thi hành án,
Luật về Luật sư, Luật Công chứng v.v.
6. Những điểm mới trong kết quả nghiên cứu của Đề
tài
Thứ nhất, đề tài là công trình chuyên khảo, nghiên cứu toàn diện, có hệ thống
về cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý và thực tiễn về cải cách tư pháp ở Việt Nam mà từ
trước đến nay chưa được giải quyết triệt để, thể hiện ở những điểm sau:
- Đề tài đã khái quát được bức tranh toàn cảnh của ngành tư pháp Việt Nam thông
qua việc phân tích, đánh giá những ưu
điểm và hạn chế trong tổ chức và hoạt động của
các cơ quan tư pháp, đồng thời tìm ra được nguyên nhân của hạn chế (đề tài không trình
bày theo hướng liệt kê về thực trạng tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp).
- Đề tài đã luận giải được cơ sở lý luận và quá trình hình thành quan điểm của
Đảng về cải cách tư pháp từ 1986 đến nay; thực tiễn tri
ển khai các Nghị quyết của Đảng
về cải cách tư pháp, giới hạn trong phạm vi các cơ quan điều tra, kiểm sát, toà án, thi
hành án và nhóm cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp.
- Trên cơ sở đó, đề tài đã xác định yêu cầu tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động
của các cơ quan tư pháp có căn cứ khoa học, có tính khả thi, phù hợp với định hướng
xây dựng nhà n
ước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân.
Thứ hai, làm rõ và chính xác hơn những nội dung đã được đề cập trước đây.
• Làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn của nguyên tắc độc
lập xét xử của Toà án.

Về các tiêu chí cụ thể đánh giá hiệu qu
ả xét xử, cần đề cập tới 5 loại tiêu chí là
tiêu chí về số lượng án xét xử so với án thụ lý, tiêu chí tuân thủ các quy định về luật thủ
tục và luật nội dung, tiêu chí về chất lượng và tiêu chí về tính khả thi của bản án.
Thứ ba, về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong
nhà nước pháp quyền
Hiện nay, trong số các nhà lý luận vẫn còn một số tranh luận xung quanh v
ấn đề
thế nào là các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong nhà nước
pháp quyền XHCN của dân do dân vì dân; tiêu chí nào để xác định các nguyên tắc đó;
nội hàm của mỗi nguyên tắc, v.v. Qua nghiên cứu, Ban chủ nhiệm đề tài nhận thấy quan 16
điểm được nhiều nhà khoa học ủng hộ là có các nguyên tắc chung về tổ chức và hoạt
động của toàn bộ các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhưng khi vận dụng vào tổ chức
và hoạt động của các cơ quan tư pháp lại có nội hàm riêng, ví dụ nguyên tắc tập trung
dân chủ; có các nguyên tắc riêng chỉ đặc trưng cho tổ chức và hoạt động của các cơ
quan tư pháp, lại có những nguyên tắ
c đặc thù chỉ hoàn toàn được áp dụng đối với một
hoặc một vài cơ quan tư pháp cụ thể. Việc tổ chức và hoạt động của từng cơ quan tư
pháp chịu sự chi phối, tác động đan xen của cả hệ thống các nguyên tắc chung, riêng và
đặc thù đó. Đề tài đã tiếp tục làm rõ để có cách hiểu thống nhất về nội hàm của từng
nguyên tắc, việc “thể
chế hóa” và áp dụng các nguyên tắc đó trong thực tiễn.
Thứ tư, đề tài đã đưa ra bản thiết kế mô hình tổ chức của các cơ quan tư pháp
và bổ trợ tư pháp: Toà án, Viện Kiểm sát, cơ quan điều tra, thi hành án, các tổ chức
luật sư, tư vấn pháp luật, giám định tư pháp, công chứng theo các đòi hỏi của nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
7. Cơ cấu Báo cáo t

pháp nói riêng.
Có thể khái quát một số cách tiếp cận chính về quyền tư pháp trong các tài liệu
nghiên cứu hiện nay. Tư pháp từ góc độ ngữ nghĩa Hán – Việt, được hiểu là trông coi,
bảo vệ pháp luật. Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh giải thích tư pháp là pháp đình y
theo pháp luật mà xét định các việc ở trong phạm vi pháp luật
[2]
. Tư pháp, dịch từ thuật
ngữ Justice có hai nghĩa – theo nghĩa hẹp, tư pháp là xét xử; theo nghĩa rộng, từ góc độ
triết lý, tư pháp được coi là ý tưởng cao đẹp về một nền công lý, ở đó, mọi vi phạm pháp
luật đều được phát hiện và xử lý nghiêm minh, mọi tranh chấp trong xã hội được giải
quyết hợp với lẽ phải và sự công bằng, các quyền t
ự do, dân chủ cơ bản của con người
được bảo đảm, lòng tin của nhân dân vào pháp luật được duy trì
[3]
. Từ góc độ tổ chức
quyền lực nhà nước, theo học thuyết phân chia quyền lực khá phổ biến ở các nhà nước
tư sản, tư pháp là một nhánh quyền lực độc lập với quyền lập pháp, quyền hành pháp và
đồng nghĩa với quyền xét xử (tài phán) do toà án thực hiện
[4]
. Trong khi đó, khá phổ 2
Đào Duy Anh – Từ điển Hán – Việt, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1966
3
Nguyễn Đình Lộc- “Vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động các cơ quan tư pháp ở nước ta”- Tạp chí Dân chủ và
pháp luật, số chuyên đề 6/1995, tr.4-8, 32-35.
4
Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, điều III, khoản 1 – “Quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ sẽ được trao cho
Toà án tối cao và những toà án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp”- Hiến pháp Nhật

biệt. Như vậy, quyền lực nhà nước trong vận hành, thực thi gắn liền một cách hữu cơ
với hoạt động của con người, với bộ máy. Hoạt động vận hành quyền lực nhà nước trở
thành một loại hình lao động đặc thù, có thể gọi bằng một tên chung là lao
động quyền
lực. Lao động quyền lực ra đời là kết quả của sự phân công lao động xã hội của loài
người.
Trong quá trình vận hành, qua sự phát triển của lao động quyền lực thuộc các chế
độ xã hội khác nhau, trước nhu cầu phân loại hoá, khâu đoạn hoá quy trình thực thi
quyền lực nhà nước, trước nhu cầu bảo đảm tính liên tục và một năng suất lao động
quyền lực ngày càng cao hơn, đã xu
ất hiện sự phân công trong nội bộ bản thân lao động Bản, điều 76- “Toàn bộ quyền tư pháp được giao cho Toà án tối cao và các Toà án cấp dưới được thành lập theo
pháp luật ” 19
quyền lực. Lập pháp, hành pháp, tư pháp với tính cách là những phương thức thực thi,
thể hiện quyền lực nhà nước là kết quả của sự phân công nội bộ ở từng khâu đoạn của
quy trình lao động quyền lực nhà nước. Sự định hình lao động lập pháp, hành pháp, tư
pháp không phải là sản phẩm chủ quan, duy ý chí của con người mà bắt nguồn từ đặc
trưng, tính khác biệt trong sự
vận hành của quyền lực nhà nước ở các khâu đoạn khác
nhau mà nếu thiếu một trong các khâu đoạn ấy quyền lực nhà nước sẽ không thể vận
hành xuôn sẻ, không thể hiện được sức mạnh và hiệu lực của mình.
Lập pháp là chức năng xã hội - chính trị đặc thù của Nhà nước nhằm thể chế hoá
nhu cầu xã hội thành các quy tắc xử sự có tính quy phạm, khuôn mẫu, phù hợ
p với ý chí
của chủ thể cầm quyền, có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội. F.Angghen đã kiến

Trần Huy Liệu- Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam- Luận án Tiến sĩ Luật học, H, 2003, tr.14
6
C. Mác, F. Angghen, Tuyển tập, tập II, tr. 345, bản tiếng Nga.
7
Mông teskiơ. S.L- Tinh thần pháp luật, tr. Nxb
8
C.Mác, F. Angghen. Sđd, tập I, tr 440.
20
Vi hot ng lp phỏp v hnh phỏp, Nh nc ban hnh v t chc thc hin
phỏp lut iu chnh ng x ca cỏc cỏ nhõn, t chc, buc h phi bit gii hn
hnh vi ca mỡnh trong cỏc khuụn kh, trt t do phỏp lut xỏc lp (trt t phỏp lut).
Tuy nhiờn, phỏp lut v trt t phỏp lut ú, do nhiu nguyờn nhõn khỏch quan v ch
quan, thng xuyờn ng trc kh n
ng, nguy c b nhng cỏ nhõn, t chc nht nh
vi phm, cú khi l vi phm rt nghiờm trng, gõy thit hi ln cho nhng quan h xó hi
m Nh nc phi bo v. V.I. Lờnin trong tỏc phm Nh nc v cỏch mngch ra
rng, s l khụng tng khi cho rng phỏp lut ng nhiờn c tt c mi ngi tuõn
th; ngay c trong xó hi cng sn ch ngha tng lai, khi khụng cũn c s xó hi cho
s tn ti ca phỏp lut thỡ nhng quy tc ca trt t cụng cng vn cú th s b mt s
ngi nht nh vi phm
[9]
.
Chớnh nhu cu, ũi hi Nh nc phi trụng coi, gỡn gi phỏp lut khi s xõm
hi, nhu cu khụi phc v duy trỡ trt t phỏp lut vỡ li ớch sng cũn v phỏt trin ca
Nh nc, ca xó hi, ca tng ngi dõn to thnh mt phng din hot ng th
ba ca quyn lc nh nc - t phỏp vi chc nng bo v phỏp lut. õy l mt nhu

[10]
. Một khi luật không được bảo vệ,
“luật đã mất thiêng thì mọi cái đều hết hy vọng. Luật không còn hiệu lực thì không một
cái gì hợp lý có thể duy trì sức mạnh được nữa”
[11]
.
Nhìn từ phía xã hội, từ phía người dân, quyền tư pháp lại hiện ra với những sắc
thái khác biệt, không thuần tuý chỉ là bảo vệ pháp luật vì nó có quan hệ khăng khít với
các phạm trù “công lý, lẽ phải, sự công bằng xã hội”. Mặc dù, trong nội dung bảo vệ
pháp luật đã bao hàm các yếu tố về công lý, lẽ phải, sự công bằng nhưng dẫu sao nói
đến bảo vệ pháp luật trong nhận thức phổ bi
ến, trước hết và trực tiếp vẫn thấy nhà nước,
thấy lợi ích trước mắt và lâu dài của người cầm quyền. Còn trong con mắt người dân,
các cơ quan tư pháp, đặc biệt là toà án, không chỉ là một cơ quan nhà nước thông thường
mà còn là biểu tượng của công lý, của lẽ phải. Khi phải đối mặt với quan toà nơi công
đường, người dân chờ đợi sự công minh, sáng suốt: “Toà án là người đại diện của công
lý và quan toà là cán cân công lý”. Mỗ
i phán xét và phán quyết của quan toà đều có thể
đụng chạm đến những quyền thiêng liêng, cao quý của người dân nên người dân cũng
đặt toà án ở vị trí thiêng liêng “đèn trời soi xét”. Trong nhà nước pháp quyền của dân,
do dân, vì dân, bản thân pháp luật đã mang tính công lý và các cơ quan tư pháp bằng
hoạt động áp dụng pháp luật của mình thể hiện công lý, sự công minh, công bằng, không
thiên lệch trong từng vụ án, từng phán quyết của Toà đối với từng hành vi, sự kiện pháp
lý. Bảo v
ệ pháp luật là chức năng của quyền tư pháp, xét theo thuộc tính cố hữu, đã hàm
chứa một nội dung mang đậm tính công lý: kẻ phạm tội phải bị trừng trị, người vay nợ
phải trả khi nợ đến hạn, kẻ gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại gây ra, đó là quy luật
muôn đời. Trong tinh thần đó có thể nói phán xét, phán quyết của Toà án trực tiếp tác
động đến ni
ềm tin, lý tưởng, khát vọng công lý, công bằng xã hội, đến thái độ, cách nhìn

Từ đây có thể thấy, việc thực hiện quyền tư pháp có các đặc trưng sau:
Đặc trưng thứ nhất
, thực hiện quyền tư pháp là hoạt động áp dụng pháp luật
của các cơ quan có chức năng bảo vệ pháp luật để ra các phán quyết (xét xử) về các
hành vi vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp của các cá nhân, tổ chức.
Liên quan tới đặc trưng này có 2 vấn đề cần lưu ý:
Một là, thực hiện quyền tư pháp là hoạt động áp dụng pháp luật để bảo vệ pháp
lu
ật.
Áp dụng pháp luật là loại hình thực hiện pháp luật dựa trên cơ sở thực thi quyền
lực nhà nước với một bên chủ thể quan hệ pháp luật luôn luôn là cơ quan nhà nước. Kết
quả của hoạt động áp dụng pháp luật là một quyết định hoặc một hành vi mang tính
quyền lực nhà nước. Tuỳ theo tính chất, nội dung các quan hệ xã hội được điều chỉnh,
các quyết định áp d
ụng pháp luật có thể xếp thành hai loại chính:
- Một loại gồm các quyết định liên quan đến việc tổ chức, đưa pháp luật vào vận
hành, thực thi, bảo đảm để các chủ thể pháp luật sử dụng, hưởng quyền hoặc làm, thi
hành nghĩa vụ do pháp luật quy định. Đây thường là quyết định áp dụng pháp luật của
các cơ quan hành pháp trong quá trình điều hành, quản lý nhà nước bằng pháp luật.
-
Một loại khác gồm các quyết định liên quan đến việc áp dụng chế tài có tính
cưỡng chế, tính răn đe, phòng ngừa khi xem xét các vi phạm pháp luật hoặc giải quyết
các tranh chấp. Đây là các quyết định áp dụng pháp luật để bảo vệ pháp luật khỏi sự vi
phạm. Tuỳ theo tính chất, mức độ của sự vi phạm, các quyết định này có thể do các cơ
quan hành pháp hoặc cơ quan tư pháp ban hành. Như vậ
y, chức năng bảo vệ pháp luật
của quyền tư pháp gắn bó hữu cơ với loại hoạt động áp dụng pháp luật thứ hai này. Đây
là loại hình áp dụng pháp luật đặc biệt vì nó trực tiếp đụng chạm đến tính mạng, tài sản,
danh dự, nhân phẩm, các quyền, lợi ích cơ bản của con người và vì vậy, nó phải do các


bả
n chất, mang đầy đủ tính chất tư pháp, ví dụ quyền xử lý bằng chế tài nghiêm khắc các
hành vi vi phạm pháp luật của những chức danh nhà nước cao cấp
[12]
. Việc xử lý các vi
phạm pháp luật của các chức danh này phải do chính cơ quan quyền lực cao nhất thực 12
Điều 1 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ xác lập “Toàn bộ quyền lực lập pháp được thừa nhận tại đây sẽ được
trao cho Quốc hội Hoa Kỳ. Quốc hội gồm có Thượng viện và Hạ viện”(khoản 1) đồng thời quy định “Thượng viện
có quyền xét xử tất cả các vụ bị kết tội. Trong trường hợp xét xử Tổng thố
ng, Chánh án Toà án tối cao sẽ chủ toạ
phiên toà. Không ai bị kết án nếu không được sự nhất trí của hai phần ba các thượng nghị sỹ có mặt. Mức án áp
dụng trong những vụ buộc tội này không vượt quá sự cách chức và tước quyền của bị cáo đang đảm nhận một
chức tước danh dự, có lợi tức hoặc có lợi lộc trong chính quyền Hợp chủng quốc, tuy vậy, họ vẫn có thể
bị truy tố,
xét xử, kết án và trừng phạt theo luật định”(khoản 3). 24
hiện. Nhưng đó cũng chỉ là những trường hợp hạn hữu và do vậy, không thể làm biến
dạng chức năng lập pháp chủ yếu của cơ quan này.
Cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật được thành lập để
thực hiện từng chức năng cụ thể trong quy trình vận hành của quyền tư pháp nên
thường được g
ọi là cơ quan tư pháp. Ví dụ như cơ quan điều tra thực hiện chức năng
phát hiện và điều tra vi phạm pháp luật, tội phạm; viện kiểm sát hoặc viện công tố thực
hiện chức năng công tố (truy tố người phạm tội ra trước toà án và đại diện công quyền
thực hiện việc buộc tội tại phiên toà); toà án thực hiện chức năng xét xử và nhân danh

hữu hiệu để đặt mỗi bộ phận vào đúng vị trí của nó”
[13].
Vì luật pháp là công bố ý chí
của toàn dân nên khi ý chí chung đó bị xâm phạm, dư luận công chúng sẽ lên tiếng đòi
hỏi Nhà nước phải xem xét, đánh giá và phán quyết về trách nhiệm cùng những hậu quả
(chế tài) pháp lý mà người gây ra sự xâm phạm ấy phải gánh chịu. Như vậy, hình thức
kiểm tra, kiểm soát bằng quyền tư pháp có tính “thụ động” hơn, “vi mô” hơn so với
kiểm soát bằng quyền lập pháp, hành pháp - nghĩa là chỉ khi có vi phạ
m pháp luật hoặc
có tranh chấp cụ thể xảy ra, các hoạt động thực hiện quyền tư pháp mới bắt đầu vận
hành. Tuy nhiên, tác động xã hội của việc thực hiện quyền tư pháp lại rất lớn. Sự xem
xét, đánh giá và phán quyết nghiêm minh của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp
chính là sự tuyên bố những đánh giá, phán xét của dư luận công cộng, của niềm tin và
khát vọng công lý củ
a nhân dân, góp phần bảo vệ tính thiêng liêng, hiệu lực và sức
mạnh của luật pháp, do vậy mà nó mang trong mình khả năng phòng ngừa chung, vượt
ra ngoài phạm vi của một vụ việc cụ thể.
Tuy nhiên, không phải mọi vi phạm pháp luật, mọi tranh chấp pháp lý đều phải
được phán quyết bởi quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan thực hiện quyền tư
pháp. Chỉ những vi phạm pháp luật nghiêm trọng, những tranh chấp mà các bên không
t
ự thương lượng, hoà giải được, đặc biệt là những vi phạm, tranh chấp trong đó có một
bên là cơ quan nhà nước mới cần đến sự phát hiện, xem xét, đánh giá và phán quyết của
các cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Do vậy, cần tính đến sự tương tác, hỗ trợ giữa cơ
chế kiểm tra, kiểm soát bằng quyền tư pháp với cả hệ thống kiểm tra, kiểm soát xã hộ
i
khi thiết kế và đánh giá hiệu quả hoạt động của từng hệ thống. Có lẽ, từ góc độ này, JJ.
Rút xô đã nhận xét “Cơ quan tư pháp được điều hoà một cách thông minh sẽ là chỗ dựa
vững chắc cho một thể chế tốt”
[14]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status