QUY CHẾ VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN CÔNG LÝ QUỐC TẾ VỀ GIẢI QUYẾT CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐINH PHẠM VĂN MINH

QUY CHẾ VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
CÔNG LÝ QUỐC TẾ VỀ GIẢI QUYẾT CHỦ QUYỀN
BIỂN ĐẢO

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐINH PHẠM VĂN MINH

Ket-noi.com forum công nghệ, giáo dục

QUY CHẾ VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
CÔNG LÝ QUỐC TẾ VỀ GIẢI QUYẾT CHỦ QUYỀN
BIỂN ĐẢO

Chuyên ngành

: Luật Quốc Tế

Mã số


MỞ ĐẦU

01

1. Đặt vấn đề

01

2. Tính mới và mục tiêu nghiên cứu

03

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

04

4. Phương pháp nghiên cứu

04

NỘI DUNG

05

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN
BIỂN ĐẢO VÀ TÒA ÁN CÔNG LÝ QUỐC TẾ

05

1.1. Tranh chấp chủ quyền biển, đảo


1.3.1. Cơ cấu tổ chức

12

1.3.2. Thẩm quyền

19


1.4. Quy chế hoạt động

22

1.5. Thủ tục tố tụng

23

1.5.1. Khởi kiện

23

1.5.2. Thủ tục bổ trợ

25

1.5.3. Thủ tục nội dung

32


2.2. Phân định biên giới biển trong khu vực Vịnh Maine 19811984 (Canada / Mỹ)

49

2.2.1. Nội dung vụ việc

49

2.2.2. Căn cứ để Tòa ra phán quyết

52

2.2.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

58

2.3. Tranh chấp biên giới đất liền, đảo và biển 1986-1992 ( El
Salvador / Honduras: Nicaragua xin can dự)

59

2.3.1. Nội dung vụ việc

59

2.3.2. Căn cứ để Tòa ra phán quyết

78

2.3.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam


2.5.2. Quá trình hoạch định và kết quả đường ranh giới

116

2.5.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

125

Chương 3: GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI VIỆT NAM KHI
THAM GIA GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TẠI TÒA ÁN CÔNG
LÝ QUỐC TẾ VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO

127

3.1. Đánh giá về những tranh chấp trên biển của Việt Nam hiện
nay

127

3.1.1. Trung Quốc

127

3.1.2. Philippines

131

3.1.3. Malaysia



3.2.3. Hồ sơ tranh tụng cần chuẩn bị

147

3.2.4. Những nội dung khác

148


KẾT LUẬN

152

Phụ lục bản đồ
Chú thích
Danh mục tài liệu tham khảo

Ket-noi.com forum công nghệ, giáo dục


MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
- Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đề tài này được thực hiện vì những lý do sau đây:
Thứ nhất, Toà án Công lý Quốc tế của Liên Hợp Quốc ( gọi tắt là ICJ) là một
thiết chế tài phán có ảnh hưởng trên thế giới, Tòa đã có những đóng góp lớn cho
việc duy trì hòa bình và công lý trên thế giới. Khi các tranh chấp đã đưa ra Tòa để
giải quyết thì phán quyết của Toà có giá trị pháp lý quốc tế và có hiệu lực bắt buộc

các vấn đề liên quan đến biển trên thế giới diễn ra rất phức tạp. Ngày nay, các cuộc
tranh chấp liên quan đến vấn đề trên biển diễn ra ngày càng gay gắt không những ở
Việt Nam nói riêng và toàn thể thế giới nói chung.
Thứ tư, thực tiễn Việt Nam hiện nay đã và đang đối đầu với những vấn đề liên
quan đến tranh chấp trên biển rất phức tạp. Hiện tại nước ta đang ở thế “nước bé”
bên cạnh các cường quốc sát sườn cùng hướng đến những lợi ích trên biển. Chính
thực trạng này dẫn đến các tranh chấp trên biển vừa mang màu sắc chính trị vừa
mang yếu tố kinh tế. Nhận thức rõ điều này, tại Cương lĩnh xây dựng đất nước quá
độ lên CNXH được báo cáo tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI vừa qua cũng đã
khẳng định quyết tâm của Đảng ta:
“ kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với
sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự
chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh
thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại”.
Đặc biệt, Tại phiên họp ngày 21/06/2012, Quốc hội đã thông qua Luật Biển
Việt Nam với số phiếu tán thành gần như tuyệt đối (99,8%). Với việc thông qua
Luật Biển Việt Nam, lần đầu tiên nước ta có một văn bản luật quy định đầy đủ chế
độ pháp lý của các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài
phán của Việt Nam theo đúng Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982
(viết tắt là UNCLOS 1982). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để quản lý, bảo vệ và
phát triển kinh tế biển, đảo của nước ta. Qua đó cho thấy quyết tâm của toàn Đảng,


toàn nhân dân trong việc gìn giữ chủ quyền thiêng liêng trong thời kỳ xây dựng đất
nước thời đại mới.
Với những lý do nêu trên mà đề tài này được thực hiện vì tính cấp thiết và
thiết thực đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Những nội dung cần đạt được khi thực hiện luận văn
Một là, lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức của ICJ. Nguyên tắc hoạt động và
thẩm quyền của Tòa.

đã ký các ĐƯQT phân định và những vùng đang còn tồn tại tranh chấp.
Xây dựng chi tiết các bước tố tụng khi tham gia tranh tụng tại Tòa.
Kết quả luận văn hoàn chỉnh có nội dung phù hợp và đáp ứng được yêu cầu
bảo vệ tốt nghiệp chuyên ngành Luật Quốc Tế. Luận văn sẽ có giá trị sử dụng phục
vụ cho thực tiễn của Việt Nam cho hiện tại và trong tương lai.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về: Quy chế hoạt động ( quy trình, thủ tục tố tụng) của
Tòa án Công lý Quốc tế của Liên Hợp Quốc.
-Thực tiễn xét xử (các án lệ ) của Tòa về tranh chấp chủ quyền biển, đảo.
- Tình hình các tranh chấp trên biển của nước ta hiện này.
- Kinh nghiệm cho nước ta khi tham gia giải quyết tranh chấp trên biển.
Phạm vi nghiên cứu: Do điều kiện có giới hạn nên Luận văn sẽ nghiên cứu tại
Việt Nam, sử dụng nguồn tham chiếu chính là Website chính thức của ICJ, các tài
liệu của các nhà Luật học trong và ngoài nước. Luận văn dự kiến thực hiện trong 2
năm 2012 và 2013.


Ket-noi.com forum công nghệ, giáo dục

4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sẽ được thực hiện theo trình tự 4 bước như sau:
a) Phát hiện vấn đề nghiên cứu;
b) Xây dựng luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tiễn;
c) Tổng hợp kết quả, kết luận;
d) Khuyến nghị.


NỘI DUNG


trung ở các khu vực sau: Ấn Độ Dương, Nam Thái Bình Dương, biển Nam Trung
Hoa, Bắc Thái Bình Dương, biển Bắc Cực, Đại Tây Dương, biển Địa Trung Hải và
Biển Đen, biển Ca-ri-bê và Vinh Mê-xi-co[2].
1.1.1. Khái niệm tranh chấp chủ quyền biển đảo
Trước khi tìm hiểu về tranh chấp chủ quyền biển đảo thì phải hiểu thế nào là
tranh chấp quốc tế, theo đó tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh thực tế mà trong đó,
các chủ thể tham gia có những quan điểm trái ngược hoặc mâu thuẫn nhau và có
những yêu cầu, hay đòi hỏi cụ thể trái ngược nhau.[3]
Căn cứ vào thực tiễn quốc tế, có thể hiểu một cách chung nhất, tranh chấp chủ
quyền biển, đảo là một hình thức của tranh chấp quốc tế xảy ra giữa các chủ thể
của Luật quốc tế, theo đó các bên tranh chấp đưa ra các yêu cầu trái ngược nhau
và các căn cứ để chứng minh cho chủ quyền và quyền chủ quyền của mình đối với
các vùng biển, thềm lục địa, các đảo trong khu vực đang xảy ra tranh chấp.
Tranh chấp chủ quyền biển, đảo có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, là một hình thức tranh chấp quốc tế, có nghĩa là tranh chấp giữa các
chủ thể của luật quốc tế gồm Quốc gia; Tổ chức quốc tế; Các dân tộc đang đấu
tranh giành quyền dân tộc tự quyết có quyền tự trị hoàn toàn về nội trị đươc Liên
hợp quốc thừa nhận phù hợp với Nghị quyết 1514 của Đại hội đồng; Các chủ thể
đặc biệt khác của luật quốc tế (như Nammibia, Tòa thánh Vaticang, công quốc
Liechtenstein …);
Thứ hai, đối tượng của tranh chấp là chủ quyền và quyền chủ quyền đối với
các vùng biển, đảo xảy ra giữa các quốc gia có vùng biển, thềm lục địa tiếp liền, đối
diện nhau, vùng nước sử dụng có tính chất lịch sử, các đảo và quần đảo mà tại đó


các quốc gia hữu quan chưa có một sự phân định đường biên giới hay ranh giới rõ
ràng.
1.1.2. Các dạng tranh chấp chủ quyền biển đảo
Hiện nay, các quốc gia thường gặp các dạng tranh chấp liên quan đến chủ
quyền biển, đảo diễn ra chủ yếu dưới các dạng như sau:


b. Tranh chấp thềm lục địa tiếp liền, đối diện nhau


Thềm lục địa trong địa chất học, địa lý là phần lục địa bị ngập dưới đáy biển,
tiếp liền với bờ biển, có độ dốc rất thoải, độ sâu vài chục mét tới 350 m, trung bình
là 200 m. Bề rộng của thềm lục địa có thể từ 0 m đến 1.500 km. Tổng diện tích của
thềm lục địa trên thế giới ước tính khoảng 32 triệu km2, chiếm 9% bề mặt đại
dương. Phần lớn thềm lục địa đều có trầm tích trẻ phủ lên trên, có thể chứa sa
khoáng. Phía ngoài thềm lục địa, phần dìa thềm lục địa có độ dóc lớn hơn gọi là dóc
hoặc sườn lục địa, tận cùng ở bờ hay chân lục địa là nơi chuyển sang đáy đại
dương[5].
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 76 của UNCLOS 1982 về thềm lục đại:
“Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới
đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên
của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến
cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa
lục địa của quốc gia đó ờ khoảng cách gần hơn.”
Các dạng tranh chấp ở thềm lục địa thường gặp như sau:
- Tranh chấp thềm lục địa tiếp liền, đối diện nhau: đặc điểm của tranh chấp
này là các quốc gia nằm cạnh nhau hoặc gần nhau dẫn đến thềm lục địa tiếp liền
nhau hoặc đối diện nhau ở khoảng cách gần nên có hiện tượng thềm lục địa chồng
lấn nhau. Tại những khu vực tiếp liền, chồng lấn này các quốc gia hữu quan đưa ra
những yêu cầu về chủ quyền mâu thuẫn với nhau nên đã dẫn đến tranh chấp. Đây là
hình thức tranh chấp diễn ra phổ biến trên thế giới hiện này, một số vụ việc ICJ đã
phân xử như vụ Tranh chấp Thềm lục địa biển Bắc ( Cộng hòa liên bang Đức và
Đan Mạch; Cộng hòa liên bang Đức và Hà Lan) (1967-1969), Thềm lục địa biển
Êgiê ( Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ 1976-1978), Thềm lục địa ( Tuynidi và Giamahirya
Arập Libi 1978- 1982), Thềm lục địa ( Giamahirya Arập Libi và Manta 1982-1985).
- Tranh chấp giữa các quốc gia về tài nguyên phi sinh vật trong lòng thềm lục

sử dụng lâu dài, ổn định, có mối quan hệ gắn bó “máu thịt” với người dân bản địa
qua nhiều thời kỳ, được các quốc gia hữu quan thực hiện các hành vi mang tính
quyền lực nhà nước về quản lý, sử dụng, bảo vệ trong một thời gian dài và không có
tranh chấp với quốc gia khác nằm bên ngoài vùng nước này.
d. Tranh chấp đảo và quần đảo


Đây là hình thức tranh chấp diễn ra khá phổ biến hiện này, các bên tranh chấp
đưa ra những yêu cầu của mình nhằm xác lập chủ quyền trên các đảo, quần đảo mà
tại đó chưa có sự phân định rõ ràng về chủ quyền hoặc do các yếu tố lịch sử để lại.
Một số tranh chấp hiện này đang diễn ra như tranh chấp Quần đảo Kuril giữa
Nhật Bản và Nga, tranh chấp trên đảo Senkaku/Điếu Ngư giữa Trung Quốc và Nhật
Bản, hay Việt Nam chúng ta với hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa ... Bên cạnh
đó, đã có một số tranh chấp được các bên đưa ra các thiết chế tài phán quốc tế để
phân xử như Chủ quyền trên các đảo Pulau Ligita/Pulau Sipadan giữa Inđônêxia
kiện Malaysia 1998- 2002, Chủ quyền trên Pedra Branca/Pulan Bata Puteh, Mid
Rock và South Ledge giữa Malaysia và Singapore 2003 … hay các bên phân định
chủ quyền trên các đảo bằng thương lượng ký kết hiệp định, như tại Điều 3 của
Hiệp định về Vùng nước lịch sử giữa nước ta và Campuchia quy định “Hai bên vẫn
lấy đường gọi là đường Brévié được vạch ra năm 1939 làm đường phân chia đảo
trong khu vực này”.
1.1.3. Giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế
đã được ghi nhận trong Công ước La-Hay năm 1899 và 1907. Điều 1 của Công ước
về giải quyết các xung đột quốc tế ký tại La-Hay ngày 18/10/1907 quy định:
“Nhằm ngăn ngừa hết mức việc sử dụng vũ lực trong quan hệ giữa các quốc
gia, các cường quốc kết ước thỏa thuận sử dụng mọi nổ lực để đảm bảo giải quyết
hòa bình các tranh chấp quốc tế”.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc, Liên Hợp Quốc đã được thành lập,
một tổ chức quốc tế đa phương toàn cầu với sứ mạnh duy trì hòa bình và an ninh

Công Lý Quốc Tế, kể cả những vụ việc mà Tòa Án Thường Trực Công Lý Quốc Tế
đang thụ lý xét xử dở dang. Tại các Điều từ 92 đến 96 của Hiến chương Liên Hợp
Quốc quy định về địa vị, chức năng và những nội dung chính trong hoạt động của
Tòa. Ngoài ra, hoạt động của Tòa còn được quy định tại Quy chế của Tòa và Luật
của Tòa. Đây được xem là các cơ sở pháp lý cho thẩm quyền hoạt động của Tòa.


1.2.2. Vị trí và vai trò
Tại Điều 92 Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định “ Tòa án Công lý Quốc Tế
là cơ quan tư pháp chính của Liên Hiệp Quốc. Tòa án hoạt động phù hợp với một
Quy chế kèm theo, được xây dựng trên cơ sở Quy chế Pháp viện thường trực Quốc
tế và là một bộ phận không thể tách rời của Hiến chương này”. Tòa là một cơ quan
chính của Liên Hợp Quốc bên cạnh các cơ quan khác như Đại hội đồng, Hội đồng
bảo an, Hội đồng kinh tế xã hội, Ban thư ký, Hội đồng quản thác. Cơ sở pháp lý cho
hoạt động của Tòa được quy định tại Hiến chương, Quy chế và Luật của Tòa.
Từ khi thành lập đến nay, Tòa đã giải quyết hơn 130 vụ việc tranh chấp quốc
tế và đưa ra nhiều kết luận tư vấn cho các Tổ chức quốc tế góp phần to lớn vào việc
duy trì hòa bình cho thế giới cũng như tạo ra các án lệ có tác dụng định hướng cách
“ứng xử” cho các quốc gia trong đời sống quốc tế. Tại cuộc họp thượng đỉnh về
pháp quyền diễn ra ngày 24/09/2012 trong khuôn khổ kỳ họp lần thứ 67 của Đại hội
đồng Liên Hợp Quốc. Theo đó, Tổng Thư ký Ban-Ki-Moon đã một lần nữa nhận
mạnh đến vị trí, vai trò của Tòa như sau[8]:
“Trong lĩnh vực pháp quyền ở cấp độ quốc tế, các quốc gia cần tuân thủ phán
quyết của ICJ, cơ quan tư pháp được Liên Hợp Quốc thành lập năm 1945 nhằm
giải quyết tranh chấp pháp lý giữa các nước thành viên”.
Về vấn đề này, tại cuộc họp Chủ tịch ICJ, Ông Peter Tomka nhấn mạnh:
“Giải quyết tranh chấp tại ICJ thường góp phần làm giảm căng thẳng giữa
các nước, nhất là trong những trường hợp tranh chấp về chủ quyền hoặc các vùng
biển”.



Việc bầu cử thẩm phán khi đến nhiệm kỳ bầu cử được thực hiện như sau:
Bước 1: Ít nhất trong vòng 3 tháng trước khi bầu cử, Tổng thư ký Liên hợp
quốc ra một văn bản gửi đến các Tiêu ban Dân tộc của Tòa trọng tài thường trực


yêu cầu các Tiểu bản này trong khoảng thời hạn quy định, đưa ra những ứng cử viên
có thể nhận nhiệm vụ thành viên của Tòa án (Điều 5, khoản 1 Quy chế của Tòa).
Bước 2: Các Tiểu ban sau khi nhận được văn bản yêu cầu của Tổng thư ký, sẽ
tiến hành hỏi ý kiến các cơ quan xét xử cao nhất, các khoa luật, các trường Đại học
tư pháp và các viện Hàn lâm của các quốc gia đó cũng như các phân viện của các
viện Hàn lâm quốc tế chuyên nghiên cứu luật về các ứng viên. Sau khi đã thu thập
được các ý kiến trên Tiêu ban tiến hành lập danh sách các ứng viên để gửi cho Tổng
thư ký. Danh sách này phải đảm bảo không một tiểu ban nào được đưa ra quá 4 ứng
cử viên, trong đó không quá 2 ứng viên có cùng quốc tịch của một quốc gia được
tiểu ban đại diện. Số lượng ứng cử viên được tiểu ban đưa ra trong bất kỳ trường
hợp nào cũng không được vượt quá 2 lần số ghế bầu (Điều 5, khoản 2 và Điều 6
Quy chế của Tòa).
Bước 3: Sau khi nhận được danh sách các ứng viên từ các Tiểu ban nói trên,
Tổng thư ký Liên hiệp quốc lập danh sách theo thứ tự ABC tất cả những người
được đề cử, Tổng thư ký trình bản danh sách lên Đại hội đồng và Hội đồng bảo an
để tiến hành bầu ( Điều 7 Quy chế của Tòa).
Bước 4: Đại hội đồng và Hội đồng bảo an khi bầu cử ủy viên Tòa án hoàn toàn
độc lập nhau ( Điều 8 Quy chế của Tòa). Nguyên tắc chỉ đạo việc bầu được quy
định tại Điều 9 Quy chế của Tòa như sau:
“Khi bầu cử các cử tri cần phải cân nhắc không những chỉ mỗi ứng cử viên
nói riêng phải thỏa mãn tất cả những yêu cầu đã nêu ra mà toàn bộ cơ cấu thành
phần các thẩm phán nói chung cần phải đảm bảo đại diện của các hình thái văn
hóa chủ yếu nhất và các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới.”
Quy định này nhằm mục đích đảm bảo công bằng cho tất cả các quốc gia và

của Hội đồng thẩm phán với nhiệm kỳ 3 năm. Cuộc bầu cử được tổ chức vào ngày
mà thành viên của Tòa án được bầu tại cuộc bầu cử 3 năm một lần để bắt đầu thời
hạn của chức vụ của họ hoặc ngay sau đó. Nguyên tắc đa số tuyệt đối là cần thiết và
không có điều kiện liên quan đến quốc tịch khi bầu được áp dụng. Chủ tịch và Phó
Chủ tịch có thể được bầu lại.
Chế định thẩm phán của ICJ là một chế định mang tính chất chính trị-pháp lý.
Về mặt chính trị, các thẩm phán được bầu phải làm việc một cách độc lập mà không
được đại diện cho chính phủ của mình hay bất kỳ chính phủ nào. Khi xét xử một vụ


việc không được dành một sự ưu tiên hay thuận lợi hơn cho bất kỳ quốc gia nào mà
phải xét xử dựa trên luật pháp quốc tế và bảo vệ công lý, hòa bình. Về mặt pháp lý,
chức năng, địa vị và nhiệm vụ của thấm phán, Chủ tịch, Phó Chủ tịch được quy
định trong Quy chế từ Điều 2 - 33 và Luật của Tòa Điều 1 – 18, 32 – 37. Để thể
hiện vai trò độc lập của mình, mỗi thành viên của Tòa án có nghĩa vụ trước khi
nhận nhiệm vụ phải trịnh trọng tuyên bố trong phiên họp công khai của Tòa án:
“Tôi long trọng tuyên bố rằng tôi sẽ thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của
tôi là Thẩm phán vinh dự, trung thành, một cách vô tư và tận tâm”.
Về mặt vật chất để đảm bảo sự độc lập trong quá trình hoạt động của thẩm
phán, Chủ tịch, phó Chủ tịch và các thẩm phán được lĩnh lương cả năm. Chủ tịch
Toà được hưởng phụ cấp đặc biệt cả năm, trường hợp mà Phó Chủ tịch Tòa thừa
hành Chủ tịch Toà thì được hưởng phụ cấp của Chủ tịch tính theo từng ngày. Các
thẩm phán ad-hoc thì được hưởng thù lao theo từng ngày khi thực hiện chức trách
của mình. Lương của thư ký do Đại hội đồng ấn định theo đề xuất của Tòa án. Các
khoản lương, phụ cấp, thù lao do Đại hội đồng ấn định. Nó có thể ít hơn trong thời
gian phục vụ. Các khoản lương, phụ cấp, thù lao đã nêu ở trên đây được miễn mọi
khoản thuế (Điều 32 Quy chế của Tòa án).
Thực tiễn qua các cuộc bầu cử từ khi ICJ được thành lập cho thời điểm hiện
nay, cơ cấu thẩm phán thường được bố trí đảm bảo đại diện của các hình thái văn
hóa chủ yếu nhất và các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới. Tuy nhiên, 5 quốc

2009.
11. Thẩm phán: Xue Hanqin (sinh năm 1955) - Quốc tịch: Trung Quốc, Thành
viên của Toà án kể từ ngày 29 tháng 06 năm 2010, tái đắc cử kể từ 06 Tháng
02 năm 2012.
12. Thẩm phán: Joan E. Donoghue - Quốc tịch: Mỹ, Thành viên của Toà án kể
từ ngày 09 tháng 09 năm 2010.
13. Thẩm phán: Giorgio Gaja (sinh năm 1939) - Quốc tịch: Italia, Thành viên
của Toà án kể từ ngày 06 Tháng 02 năm 2012.
14. Thẩm phán: Julia Sebutinde (sinh năm 1954) - Quốc tịch: Uganda, Thành
viên của Toà án kể từ ngày 06 Tháng 02 năm 2012.
15. Thẩm phán: Dalveer Bhandari - Quốc tịch: Ấn Độ, Thành viên của Toà án
kể từ ngày 27 Tháng 04 năm 2012.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status