Bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên phạm tội bằng chế định hình phạt trong luật hình sự việt nam (qua thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân tỉnh hà giang) - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI VĂN SƠN

BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN PHẠM TỘI BẰNG CHẾ ĐỊNH HÌNH PHẠT
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI VĂN SƠN

BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN PHẠM TỘI BẰNG CHẾ ĐỊNH HÌNH PHẠT
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG)

Chuyên nghành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Trịnh Quốc Toản

1

Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ
QUYỀN CON NGƢỜI CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN
PHẠM TỘI BẰNG CHẾ ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.

Khái niệm, đặc điểm ngƣời chƣa thành niên và ngƣời chƣa
thành niên phạm tội

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm người chưa thành niên
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm người chưa thành niên phạm tội
1.2.

9

9
9
12

Sự cần thiết bảo vệ quyền con ngƣời của ngƣời chƣa thành
niên phạm tội bằng chế định hình phạt trong Luật hình sự
Việt Nam

1.3.

17

Khái quát lịch sử Luật hình sự Việt Nam quy định hình phạt

CON NGƢỜI CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM
TỘI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
2.1.

Các quy định về hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 1999
áp dụng đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội

2.2.

38

38

Thực tiễn áp dụng hình phạt của Tòa án nhân dân tỉnh Hà
Giang về bảo vệ quyền con ngƣời của ngƣời chƣa thành niên
phạm tội

2.3.

45

Một số tồn tại, hạn chế, vƣớng mắc trong thực tiễn áp dụng
hình phạt về bảo vệ quyền con ngƣời của ngƣời chƣa thành
niên phạm tội và nguyên nhân của nó

59

Chƣơng 3: NHU CẦU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN
NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT
HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI


Chế định hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015 dưới
góc độ bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên
phạm tội

3.3.2. Một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng

77
80

KẾT LUẬN CHUNG

86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

88


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật Hình sự

CRC

Công ước về quyền trẻ em

EU


PLHS

Pháp luật hình sự

Quy tắc Bắc Kinh

Những quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về
việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên

TAND

Tòa án nhân dân

TTHS

Tố tụng hình sự

TNHS

Trách nhiệm hình sự

UDHR

Tuyên ngôn thế giới về quyền con người

UNICEF

Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc



Thống kê tỷ lệ tội phạn là NCTN so với tổng số tội
phạm khác bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xét

48

xử giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015
Bảng: 2.2

Thống kê tội danh của NCTN phạm tội bị Tòa án
nhân dân tỉnh Hà Giang xét xử (từ đủ 14 tuổi đến

49

dưới 16 tuổi) giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015
Bảng: 2.3

Thống kê tội danh của NCTN phạm tội bị Tòa án
nhân dân tỉnh Hà Giang xét xử (từ đủ 16 tuổi đến

49

dưới 18 tuổi) giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015
Bảng: 2.4

Thống kê thực tiễn áp dụng hình phạt đối với
người chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân
dân tỉnh Hà Giang xét xử giai đoạn từ năm 2011
đến năm 2015


với người chưa thành niên (NCTN) phạm tội là biện pháp cưỡng chế nghiêm
1


khắc nhất của Nhà nước, buộc đối tượng này phải chịu trách nhiệm đối với
những hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ gây ra, đồng thời những quy định
đó cũng là hành lang, cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền con người đối với NCTN
phạm tội một cách tốt nhất. Hay nói cách khác chế định hình phạt trong Luật
hình sự Việt Nam để bảo vệ quyền con người của NCTN phạm tội là một chế
định đặc biệt. Tính chất đặc biệt ở chỗ chế định hình phạt được quy định nhẹ
hơn so với người đã thành niên phạm tội có các tình tiết tương đương. Sở dĩ
NCTN được hưởng chính sách giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Nhà nước khi
có hành vi phạm tội vì họ có đặc điểm về nhân thân, họ chưa phát triển đầy đủ
về thể chất, tâm sinh lý, chưa thể nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã
hội của hành vi mà mình thực hiện. Nhận thức của họ còn thiếu chín chắn dễ bị
kích động, bị lôi kéo nếu ở môi trường xấu và không được chăm sóc giáo dục
chu đáo dẫn đến vi phạm pháp luật. Bên cạnh đó, so với người đã thành niên ý
thức phạm tội của NCTN nói chung chưa sâu sắc, họ dễ tiếp thu sự giáo dục của
xã hội, nhà trường và gia đình để từ bỏ con đường phạm tội. Luật nhân quyền
quốc tế và hệ thống pháp luật Việt Nam coi đây là một trong những nhóm dễ
bị tổn thương và cần có chính sách pháp luật đặc biệt để bảo vệ các quyền,
lợi ích hợp pháp của họ [21]. Chính vì thế quy định chế định hình phạt trong
Luật hình sự Việt Nam áp dụng đối với NCTN phạm tội phải nhẹ hơn so với
người đã thành niên nhằm bảo vệ quyền con người đối với NCTN phạm tội
một cách tốt nhất.
Nhằm hạn chế tối đa những hành vi xâm phạm đến các quyền con người
của NCTN phạm tội, trong các giai đoạn lịch sử pháp luật hình sự nước ta đã có
rất nhiều quy định chặt chẽ về nguyên tắc cũng như trình tự, thủ tục tố tụng.
Đặc biệt là giai đoạn xét xử và áp dụng hình phạt của Tòa án nhân dân đối với
NCTN phạm tội phải đảm bảo tôn chỉ, mục đích đó là “Chủ yếu nhằm giáo dục,

phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử đối với NCTN
phạm tội ở địa bàn tỉnh Hà Giang, trong giai đoạn 5 năm trở lại đây (2011 2015). Trên cơ sở đó kiến nghị việc hoàn thiện pháp luật hình sự đối với NCTN,
3


tìm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng về mặt thực tiễn nhằm góp phần bảo vệ
quyền con người của người của NCTN phạm tội. Đây cũng là lý do để học viên
quyết định lựa chọn đề tài: Bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên
phạm tội bằng chế định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam (qua thực tiễn
xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang) làm Luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Bảo đảm quyền con người của NCTN nói chung, bảo đảm quyền con
người của NCTN phạm tội và việc áp dụng hình phạt trong xét xử án hình sự, đã
được nhiều nhà khoa học và cán bộ làm công tác thực tiễn nghiên cứu. Có nhiều
công trình khoa học được công bố, có một số luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ,
một số giáo trình giảng dạy, bài viết trên các tạp chí dưới các góc độ và mức độ
khác nhau, cụ thể như:
* Dưới góc độ luận án tiễn sĩ, luận văn thạc sĩ luật học: Có các công
trình “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam”của tác giả Trần Hưng Bình, Luận án tiến sỹ luật
học năm 2013, Học viện khoa học xã hội - Viện hàm lâm khoa học xã hội Việt
Nam; “Hình phạt tù có thời hạn, áp dụng đối với người chưa thành niên phạm
tội theo Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền, Luận văn
thạc sỹ luật học năm 2012, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; "Bảo vệ
quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự Việt Nam" của tác giả
Nguyễn Thị Thanh, Luận văn thạc sỹ luật học năm 2008, Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội...
* Dưới góc độ đề tài khoa học, bài viết trên báo, tạp chí: Có nhiều tài
liệu đề cập đến như: Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Khoa
luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội 2009;

2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến
năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng
6 năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Ngoài ra Luận văn
cũng kế thừa có chọn lọc những vấn đề lý luận và thực tiễn đã được các nhà
nghiên cứu đi trước đưa ra, những tài liệu, công trình đã được công bố trên các
6


tài liệu, bài viết, tạp trí của các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như:
Phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy luận lôgic, phương pháp hệ thống,
thống kê xã hội học...; Các phương pháp nghiên cứu được kết hợp giữa lý luận
và thực tiễn để rút ra kết luận khoa học của mình đối với vấn đề nghiên cứu.
5. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của Luận văn đúng như tên gọi của đề
tài: Bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên phạm tội bằng chế
định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam (qua thực tiễn xét xử của Tòa án
nhân dân tỉnh Hà Giang).
Đối tượng nghiên cứu của luận văn gồm 02 vấn đề chính:
- Các vấn đề chung về quyền con người của NCTN phạm tội bằng chế
định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam.
- Các vấn đề thực tiễn áp dụng các chế định hình phạt đối với NCTN
phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam. (Qua thực tiễn xét xử
của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang) giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015.
6. Kết quả nghiên cứu
Thứ nhất: Thông qua việc nghiên cứu các quy định của Luật nhân quyền
quốc tế và quy định của pháp luật hình sự Việt Nam. Luận văn làm sáng tỏ
những vấn đề chung cơ bản của chế định hình phạt trong Luật hình sự Việt
Nam đối với việc bảo vệ quyền con người của NCTN phạm tội. Nhận xét, đánh
giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật đối với việc bảo vệ quyền con



Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI
CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
BẰNG CHẾ ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, đặc điểm ngƣời chƣa thành niên và ngƣời chƣa
thành niên phạm tội
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm người chưa thành niên

Mỗi con người từ khi sinh ra đến khi trưởng thành đều có quá trình phát
triển và được chia thành nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, trong đó có một
giai đoạn đặc biệt để có bước phát triển nhảy vọt cả về thể chất và tâm hồn, đó
là thời kỳ được gọi là ngƣời chƣa thành niên. Khi nói đến NCTN chúng ta
thường hiểu rằng đó là người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân cách
(thể chất và tinh thần), chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân.
Đó là thời kỳ gắn liền với những thay đổi về tâm sinh lý mà bất kỳ người đã
thành niên nào cũng phải trải qua. Đây là thời kỳ chuyển tiếp mà NCTN không
hẳn là trẻ em, nhưng cũng không phải là người đã thành niên.
Thuật ngữ NCTN thường được dùng phổ biến ở tất cả các nước trên thế
giới cũng như ở các ngành khoa học khác nhau, nhưng khi nói đến khái niệm về
NCTN thì đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Ngay cả trong văn bản pháp
luật thực định cũng có những tên gọi khác nhau như “Người chưa thành niên;
trẻ vị thành niên hoặc trẻ em”. Trên phương diện luật pháp quốc tế khái niệm
NCTN được đề cập tại các văn kiện pháp lý quan trọng và nó trở thành giá trị
chuẩn mực chung cho tất cả các dân tộc, các quốc gia muốn hướng tới nhằm
thúc đẩy sự tôn trọng để bảo vệ quyền con người của NCTN. Cụ thể các văn
kiện quốc tế như:
Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em (CRC) tại Điều 1 quy
định "Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi,


11


1.1.2. Khái niệm, đặc điểm người chưa thành niên phạm tội
Khái niệm NCTN phạm tội không những mang tính pháp lý mà còn có ý
nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc. Khái niệm này phụ thuộc vào sự tồn tại của mỗi
xã hội và sự phát triển về thể chất, tinh thần của con người sống trong xã hội
đó, nó phản ánh thông qua ý chí của giai cấp thống trị. Trong các văn bản Quốc
tế và các chương trình của LHQ về vấn đề trẻ em sử dụng đồng thời cả hai khái
niệm trẻ em và người chưa thành niên. Hệ thống pháp luật ở tất cả các quốc gia
trên thế giới khi quy định NCTN phạm tội đều chú ý tới độ tuổi của họ, và nỗ
lực tìm mọi cách bảo đảm hệ thống pháp luật liên quan đến NCTN phạm tội
tuân thủ theo đúng luật quốc tế về quyền con người. Bên cạnh đó Công ước còn
có tính ràng buộc, tập hợp các quy tắc, hướng dẫn đã được cộng đồng quốc tế
thông qua để quy định chi tiết việc áp dụng pháp luật với NCTN. Đây là những
nguyên tắc và tiêu chuẩn mà nhiều quốc gia thành viên đã đồng ý và nêu rõ
trong các tuyên ngôn, nguyên tắc, quy tắc và các hướng dẫn chuẩn. Mặc dù
những văn bản này không có hiệu lực ràng buộc về mặt pháp lý với các quốc
gia thành viên, nhưng chúng được xây dựng từ pháp luật quốc tế và được đông
đảo các nước trên thế giới đồng tình ủng hộ. Do vậy, các văn bản chủ yếu mang
tính khuyến nghị, định hướng đối với các quốc gia thành viên, góp phần thực
hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em [23, tr.424-429].
- Tại Nga, Bộ luật Hình sự liên bang quy định tuổi chịu trách nhiệm hình
sự ở Điều 20 đó là "Người đủ 16 tuổi vào thời điểm phạm tội phải chịu trách
nhiệm hình sự; Người đủ 14 tuổi vào thời điểm phạm tội phải chịu trách nhiệm
hình sự về các tội tại các điều 105; 111; 112; 126; 131; 132; 158; 161; 162;
163; 166; 167; 205; 206; 207; 213; 214; 226; 229; 267 [9, tr.40].
- Tại Pháp, Điều 122.8 Bộ luật Hình sự quy định "Những người chưa
thành niên nhận thức được hành vi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các

sở để bảo vệ quyền con người của NCTN phạm tội qua việc Tòa án xét xử và
quyết định hình phạt đối với họ.

13


Bảng 1.1: Quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
của một số quốc gia trên thế giới
Hoa kỳ
Ấn Độ
Bangladesh
Pakistan
Nam Phi
Vương quốc Anh (Scotland)
Indonesia
Ethiopia
Iram
Vương quốc Anh (Anh)
Vương quốc Anh (xứ Wales)
Ukraine
Hàn Quốc
Uganda
Pháp
Ba Lan
Liên bang Nga
Đức
Ý
Trung Quốc
Nhật Bản
Ai cập

18
(Nguồn: TAND Tối cao)

Nhìm vào Bảng biểu quy định độ tuổi chịu TNHS của mỗi quốc gia có
thể nói hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia tùy thuộc vào từng điều kiện kinh
tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định; sự đánh giá về trình
độ phát triển và nhận thức xã hội để có thể quy định độ tuổi chịu TNHS đối với
NCTN phạm tội nhằm đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả trên thực
tiễn của mỗi quốc gia đó.
Một hoạt động mà các quốc gia trên toàn cầu đang nỗ lực thực hiện là
14


tìm mọi cách bảo đảm hệ thống pháp luật liên quan đến NCTN phạm tội tuân
thủ theo đúng Luật quốc tế về quyền con người. Kể từ năm 1989 các nước trên
thế giới đã và đang đưa những nguyên tắc quốc tế vào các luật và chính sách
quốc gia, đã có nhiều văn bản quốc tế về quyền con người đối với trẻ em và
NCTN ra đời. Trong các văn bản quốc tế và các chương trình của LHQ về trẻ
em luôn sử dụng đồng thời cả hai khái niệm trẻ em và NCTN, việc tăng cường
bảo vệ các quyền của trẻ em nói chung, NCTN phạm tội nói riêng là một khía
cạnh quan trọng trong hoạt động của các cơ quan và chương trình của LHQ.
Đối với pháp luật hình sự Việt Nam quy định độ tuổi chịu TNHS đầy đủ
là từ đủ 16 tuổi trở lên, còn độ tuổi chịu TNHS hạn chế là độ tuổi từ đủ 14 tuổi
đến dưới 16 tuổi và được quy định cụ thể trong Điều 12 BLHS. Chúng ta có thể
hiểu về mặt lý luận BLHS quy định người chưa đủ mười 14 tuổi sẽ không phải
chịu TNHS về bất kể hành vi nguy hiểm nào mà họ đã gây ra cho xã hội. Vì
người chưa đủ 14 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, trí tuệ, chưa
nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội mà mình đã gây ra. Họ chưa
đủ khả năng để tự chủ hành động của mình, nên họ không bị coi là có lỗi về
hành vi nguy hiểm của mình gây ra, tức là họ không hội tụ đầy đủ yếu tố cấu

phạm tội bao gồm “Những người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 18 tuổi
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong LHS là tội
phạm” [16, tr.458]. Như vậy, Bộ luật hình sự chưa đưa ra khái niệm cụ thể về
NCTN phạm tội, mà chỉ đưa ra các quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình
sự đối với NCTN phạm tội và các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng dựa trên một số đặc điểm sau để xác định NCTN phạm tội đó là:
- Có hành vi phạm tội do NCTN thực hiện.
- Người thực hiện hành vi phạm tội đã đủ tuổi chịu TNHS tương ứng với
loại tội phạm và lỗi gây ra tội phạm.
- Người đó thực tế phải chịu TNHS sau khi các cơ quan có thẩm quyền
cân nhắc tính cần thiết phải xử lý bằng hình sự mà không thể áp dụng các biện
pháp tư pháp khác để quản lý, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
16


Trong lĩnh vực nghiên cứu về NCTN phạm tội, đồng tác giả Lê Cảm và
Đỗ Thị Phượng có cuốn “Tội phạm hình sự đối với người chưa thành niên những khía cạch pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật
học”, tại Phần I - Những khía cạnh pháp lý hình sự đã đưa ra khái niệm về
NCTN phạm tội như sau "Người chưa thành niên phạm tội là người đủ 14
tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do hạn
chế bởi đặc điểm tâm - sinh lý và có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm" [19, tr.18]. Có thể nói, đây là một
khái niệm hoàn chỉnh nhất về NCTN phạm tội cho đến thời điểm hiện nay được
các nhà khoa học nghiên cứu.
1.2. Sự cần thiết bảo vệ quyền con ngƣời của ngƣời chƣa thành niên
phạm tội bằng chế định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam
Về nhận thức chung thì quyền con người được hiểu là một phạm trù đa
diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người (nhân quyền).
Mỗi định nghĩa về quyền con người là một sự biểu hiện khác nhau ở góc độ
nhìn nhận về vấn đề nhân quyền sao cho phù hợp với sự nhìn nhận của người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status