VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ THU HOÀI
TỘI GIẾT NGƢỜI QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Phạm Minh Tuyên
Hà Nội, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực.
Hà Nội, ngày 23 tháng 3 năm 2018
Tác giả luận văn
HOÀNG THỊ THU HOÀI
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADPL
Áp dụng pháp luật
BLHS
Bộ luật Hình sự
BLHĐ
Bộ luật Hồng Đức
BLGL
Bộ luật Gia Long
CTTP
Cấu thành tội phạm
HĐTP
Hội đồng Thẩm phán
NXB
Nhà xuất bản
được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quan trọng của quốc tế, của các quốc
gia khác nhau và của nước ta như: Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Liên hợp
quốc năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp
quốc năm 1966; Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên hợp quốc năm 1989;
Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776; Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam
1945... Tại Điều 3 của bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 khẳng định:
“Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân”. Trong bản “Tuyên
ngôn Độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử
ngày 2 tháng 9 năm 1945 không những đã kế thừa tinh hoa về quyền con người trên
thế giới mà còn phát triển những tư tưởng ấy lên một tầm cao mới bằng việc nhắc
lại những luận điểm bất hủ trong bản “Tuyên ngôn độc lập” của nước Mỹ và
“Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền” của Pháp. Người khẳng định: “Tất cả mọi
người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể
xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền
mưu cầu hạnh phúc”. Tại Điều 19 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận “Mọi người có
quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt
tính mạng trái luật” [22]. Tuy nhiên trước ảnh hưởng tiêu cực mà nền kinh tế thị
trường đem lại, tình trạng suy đồi đạo đức, truyền thống, lối sống ích kỉ cá nhân của
một bộ phận giới trẻ hiện nay trở thành vấn đề đáng báo động trong xã hội. Theo đó
tình hình tội phạm nói chung trong đó có tội phạm giết người nói riêng không
ngừng gia tăng trong những năm gần đây. Nhiều vụ án có thủ đoạn tinh vi xảo quyệt
gây khó khăn cho công tác điều tra, xét xử, có nhiều vụ đặc biệt nghiêm trọng với
hành vi dã man, tàn ác để lại hậu quả cũng thương tâm hơn, gây bất bình, phẫn uất
trong quần chúng nhân dân điển hình như vụ Lê Văn Luyện ở Bắc Giang, vụ án
Nguyễn Hải Dương ở Bình Dương…
Tỉnh Bắc Ninh là một trong những tỉnh tăng trưởng nhanh nhất miền bắc, nhất
là tốc độ tăng trưởng công nghiệp; là nơi tập trung dân cư đông đúc do tập trung
nhiều Khu công nghiệp lớn, chính vì vậy tình hình tội phạm diễn ra ở đây vô cùng
1
chung”, Võ Khánh Vinh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội năm 2014; Luận văn thạc sĩ
luật học “Tội giết người theo luật hình sự Việt Nam và đấu tranh phòng chống tội
phạm giết người” của tác giả Hoàng Công Huân, Hà Nội năm 1997; Khóa luận tốt
nghiệp “Đấu tranh phòng chống tội giết người ở Việt Nam trong giai đoạn hiện
2
nay” của tác giả Nguyễn Thùy Linh, Hà Nội năm 2005; Luận án tiến sĩ luật học
“Tội giết người trong luật hình sự Việt Nam và đấu tranh phòng chống loại tội
phạm này” của tác giả Đỗ Đức Hồng Hà, Hà Nội, năm 2007; Luận văn thạc sĩ luật
học “Tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam” của tác giả Thái Duy Đức,
Học viện Khoa học xã hội – Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, năm 2014;
Luận văn thạc sĩ luật học “Tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực
tiễn tỉnh Nam Định” của tác giả Nguyễn Chí Công, Học viện Khoa học xã hội –
Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, năm 2016; Luận văn thạc sĩ luật học “Tội
giết người qua thực tiễn xét xử tại TAND tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Nguyễn
Thúy Quỳnh, Học viện Khoa học xã hội – Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam,
năm 2013; Luận văn thạc sĩ luật học “Tội giết người theo pháp luật hình sự Việt
Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Phạm Huyền Trang, Học viện Khoa
học xã hội – Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, năm 2017;…
Có thể thấy rằng liên quan đến tội phạm giết người đã có rất nhiều các tác giả
quan tâm và tiếp cận dưới các góc độ khác nhau. Có tác giả nghiên cứu tội giết
người dưới góc độ tội phạm học, có tác giả thì nghiên cứu tội giết người dưới góc
độ phân tích, bình luận khoa học các quy phạm pháp luật hình sự hoặc nghiên cứu
TNHS về tội giết người ở những địa bàn khác nhau. Trong những năm qua, cũng có
những công trình nghiên cứu tội giết người dưới góc độ ADPL hình sự của ngành
Tòa án, nhưng ở địa bàn tỉnh Bắc Ninh chưa có đề tài nào nghiên cứu về tội giết
người qua thực tiễn xét xử tại TAND tỉnh Bắc Ninh. Do đo, đề tài này không trùng
với những đề tài đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
trong xét xử tại TAND tỉnh Bắc Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tội giết người dưới góc độ luật hình sự và áp dụng luật hình
sự từ thực tiễn xét xử của TAND tỉnh Bắc Ninh từ năm 2013 đến năm 2017. Các
quy định của pháp luật hình sự được nghiên cứu trong BLHS hiện hành là chủ yếu.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận: chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng và nhà nước về các vấn đề về tội phạm và hình phạt, về
đấu tranh phòng, chống tội phạm.... Đồng thời, Luận văn còn sử dụng một hệ thống
các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp tổng hợp, thống kê dựa trên
những bản án, quyết định, số liệu thống kê, báo cáo tổng kết hàng năm của TAND
tỉnh Bắc Ninh; phương pháp so sánh đối chiếu để tìm ra những điểm mới trong quá
trình nghiên cứu; phương pháp phân tích đánh giá nhằm rút ra những kết luận, từ đó
đưa ra những đề xuất, giải pháp hữu ích; phương pháp tham khảo chuyên
gia…trong đó phương pháp phân tích là phương pháp chủ đạo.
4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: Luận văn nhằm làm rõ khía cạnh pháp lý về định tội danh và quyết
định hình phạt đối về tội giết người góp phần xây dựng, hoàn thiện thêm lý luận về
định tội danh và quyết định hình phạt trong khoa học pháp lý hình sự. Luận văn có
thể làm tài liệu dùng trong học tập và nghiên cứu.
Về thực tiễn: Luận văn đề xuất việc hoàn thiện các quy định của BLHS hiện
hành đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
giết người. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng trong việc xây dựng
chính sách quản lý xã hội nhằm ngăn chặn đẩy lùi tội giết người trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh.
7. Cơ cấu của luận văn
khác hoặc giết bào thai một cách hiểm độc và bất hợp pháp”. Tại Điều 1 Chương
III BLHS Thụy Điển định nghĩa tội giết người như sau: “Tội giết người là hành vi
tước đoạt tính mạng của người khác”. Việt Nam tuy theo xu hướng thứ hai: Không
định nghĩa thế nào là tội giết người mà chỉ nêu tên tội danh. Như vậy qua điều luật
ta không thể hiểu thế nào là tội giết người. Trong khoa học pháp lý hình sự Việt
Nam cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tội giết người. Quan điểm
thứ nhất cho rằng: “Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người
khác một cách trái pháp luật”. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Tội giết người là hành
vi trái pháp luật của người đủ năng lực TNHS cố ý tước bỏ quyền sống của người
khác”. Quan điểm thứ ba cho rằng: “Tội giết người là hành vi làm chết người khác
một cách cố ý và trái pháp luật” [11, tr.18,19]. Quan điểm thứ tư cho rằng: “Tội giết
người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do
người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định thực hiện”. Nhìn chung các quan
điểm đều cho rằng: Giết người là hành vi trái pháp luật cố ý làm chết người ngoài ý
6
muốn của người khác. Qua nghiên cứu các quan điểm trên thấy rằng: Quan điểm
thứ nhất và quan điểm thứ ba không đề cập đến dấu hiệu năng lực TNHS của người
phạm tội và độ tuổi của người phạm tội hoặc quan điểm thứ hai có đề cập đến dấu
hiệu năng lực TNHS nhưng không đề cập đến độ tuổi của người phạm tội. Quan
điểm thứ tư có phần phản ánh đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm giết người và tác
giả đồng tình với quan điểm này.
Dựa trên cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS
năm 1999 (nay là khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015) thì “Tội phạm là hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS hoặc
pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập , chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ
kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp
pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công
mặt chủ quan của tội phạm. Bốn yếu tố đó đã hợp thành cấu thành của tội phạm. CTTP
là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy
định trong luật hình sự cho phép phân biệt tội này với tội khác, trường hợp phạm tội
này với trường hợp phạm tội khác trong cùng một loại tội phạm. Vì vậy CTTP được
coi là khái niệm pháp lý, là sự mô tả khái quát loại tội phạm nhất định. Việc nghiên cứu
CTTP có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm hiểu bản chất pháp lý của mỗi loại tội
phạm, đồng thời giúp ta phân biệt được tội phạm này với tội phạm khác để xác định
đúng tội danh và xử lý một cách đúng nhất.
BLHS không nói rõ cụ thể từng dấu hiệu pháp lý của từng loại tội một nhưng
qua thực tiễn xét xử và nghiên cứu ta có thể rút ra những dấu hiệu pháp lý riêng của
nó. Tội giết người có những dấu hiệu pháp lý sau:
* Khách thể của tội giết người:
Theo PGS.TS Lê Cảm thì “Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được
pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm, nhưng bị tội
phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc đe dọa thực tế gây nên) thiệt hại đáng kể nhất
định”[4, tr.2].
Vì giết người như đã nhấn mạnh là hành vi tước đoạt tính mạng của người
khác một cách trái pháp luật do người có năng lực TNHS và độ tuổi theo quy định
của pháp luật thực hiện, nên quyền được sống đặc trưng cho khách thể của tội giết
người. Tội giết người xâm phạm đến quyền sống của con người thông qua sự tác
động làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động - chính là con
người đang sống. Việc xác định đối tượng tác động của tội giết người có ý nghĩa vô
cùng quan trọng. Bởi lẽ, nếu hành vi nào đó tác động vào đối tượng không phải hay
chưa phải là con người thì không xâm phạm đến quyền sống của con người nên
không phạm tội giết người.
8
Quyền được sống là một trong những quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của
sự điều khiển của ý chí từ chủ thể thực hiện hành vi đó và có thể thực hiện bằng các
phương tiện như: đâm, chém, đấm đá, bóp cổ, đầu độc, dìm xuống nước … Có thể
9
dùng các hành động như: dao, gậy, chân tay, thuốc độc, súng … Nhưng cũng có thể
là không hành động cũng gây ra cái chết cho người khác là việc chủ thể không làm
việc mà pháp luật yêu cầu phải làm mặc dù có điều kện để làm. Ví dụ như người mẹ
không cho con ăn dẫn đến đứa bé bị chết đói [26, tr.10].
Tuy nhiên, không phải bất kì trường hợp nào hậu quả dẫn đến chết người cũng
được coi là tội giết người, mà chỉ những hành vi nào trái pháp luật mới cấu thành tội
giết người. Ví dụ như hậu quả chết người do hành vi của chủ thể thực hiện trong
trường hợp phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết thì không bị coi là tội phạm.
Hay trường hợp cán bộ Thi hành án đi thi hành án tử hình cũng không bị coi là tội
phạm. Ngoài các trường hợp này thì tất cả những hành vi tước đoạt mạng sống của
người khác đều bị coi là trái pháp luật và bị pháp luật trừng trị, kể cả trường hợp
được sự đồng ý của nạn nhân.
Hậu quả của tội giết người thường là thiệt hại do hành vi phạm tội giết người
gây ra cho quan hệ nhân thân, cho quyền sống của con người, tức là cái chết của
nạn nhân. Nhưng cũng có trường hợp nạn nhân không chết mà chỉ bị thương, hoặc
không làm sao cả (ví dụ đầu độc nạn nhân nhưng nạn nhân phát hiện ra và không sử
dụng). Tuy nhiên, việc nạn nhân không chết là nằm ngoài ý muốn của người phạm
tội. Đó là trường hợp tội phạm chưa đạt.
Để xác định một hành vi phạm tội giết người còn phải xem xét mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả chết người xảy ra. Về nguyên tắc
người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm về hành vi do mình gây ra. Người có hành
vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác phải chịu trách nhiệm về hậu
quả chết người đã xảy ra nếu hành vi họ đã thực hiện là nguyên nhân của hậu quả
chết người đã xảy ra [27, tr.11].
* Chủ thể của tội giết người:
chịu TNHS” (Khoản 1 Điều 13 BLHS năm 1999 và Điều 21 BLHS năm 2015 sửa
đổi, bổ sung năm 2017). Quy định như vậy là hợp lý bởi lẽ người không có năng lực
TNHS là những người không nhận thức được hành vi của mình là đúng hay sai,
được làm hay không được làm. Hành động của họ là vô thức. Tuy nhiên pháp luật
cũng quy định trường hợp năng lực TNHS bị hạn chế. Đó là trường hợp do mắc
bệnh nên hạn chế nhận thức, điều khiển hành vi. Những người này vẫn phải chịu
TNHS do hành vi của mình gây ra nhưng khi lượng hình sẽ được xem xét là tình tiết
giảm nhẹ, được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 (nay là điểm
q khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) “Người phạm tội là
người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
của mình”.
Về độ tuổi chịu TNHS của tội giết người được quy định tại khoản 2 Điều 12
BLHS năm 1999quy định “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải
chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng”. Tại
11
khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định “Người
từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng, tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134,…”. Như vậy,
tội giết người dù là tội rất nghiêm trọng hay là tội đặc biệt nghiêm trọng, dù lỗi cố ý
trực tiếp hay gián tiếp thì bất kỳ chủ thể nào đủ 14 tuổi trở lên đều phải chịu trách
nhiệm về hành vi tước đoạt mạng sống của người khác. Tuy nhiên, không phải mọi
trường hợp xác định độ tuổi của người phạm tội đều dễ dàng, có những trường hợp
không còn giấy khai sinh hoặc chỉ còn giấy khai sinh bản sao nhưng lại không chính
xác… Để giải quyết vấn đề này TANDTC đã có hướng dẫn tại mục 11 phần II công
văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 về cách tính tuổi chịu TNHS của người
phạm tội. Hướng dẫn này giúp giải quyết các vụ án được thống nhất trên cả nước,
đảm bảo quyền lợi của người phạm tội cũng như trừng trị thích đáng kẻ phạm tội.
Ngoài ra điều luật còn quy định chủ thể của tội phạm của một số trường hợp cụ thể
nên người phạm tội có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Ví dụ như trường hợp
dùng đường dây điện cao áp để đánh cá dưới sông, người phạm tội nhận thức được
hành vi của mình có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của người khác nhưng vẫn để
mặc hậu quả xảy ra. Việc xác định đúng dấu hiệu lỗi trong CTTP giết người sẽ giúp
phân biệt tội phạm giết người với các tội phạm khác cũng gây ra hậu quả chết người
như tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người; tội hiếp dâm làm nạn nhân chết;
tội cướp tài sản (hậu quả nạn nhân chết)... Trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử
cho thấy, nếu xác định không đúng lỗi của người phạm tội đối với hậu quả chết
người là cố ý hay vô ý sẽ dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực như định tội không đúng,
không đảm bảo được tính công minh, có căn cứ và đúng pháp luật của hình phạt
được quyết định, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan tiến hành tố
tụng và giảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Vì vậy, muốn xác
định đúng lỗi của người phạm tội đối với cái chết của nạn nhân là cố ý hay vô ý,
phải làm sáng tỏ hai vấn đề: Một là, người phạm tội có thấy trước hậu quả chết
người không? Hai là, nếu thấy trước thì họ mong muốn, chấp nhận hay loại trừ khả
năng này xảy ra [7, tr.26]?
Để xác định người phạm tội có thấy trước được hậu quả chết người hay không
phải căn cứ vào năng lực nhận thức của họ cũng như những dấu hiệu thuộc mặt
khách quan như: Tính chất của công cụ, phương tiện cũng như cách thức sử dụng,
vị trí bị tấn công, tình trạng sức khỏe và khả năng chống trả của nạn nhân…
Để xác định người phạm tội mong muốn, chấp nhận hay loại trừ khả năng hậu
quả chết người xảy ra ta có thể dựa vào những tình tiết như: sự lựa chọn công cụ,
phương tiện, phương pháp phạm tội cũng như cách sử dụng; diễn biến tâm lý của
người phạm tội; tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội; động cơ, mục đích phạm
tội…Trường hợp mong muốn thì người phạm tội không những lựa chọn công cụ,
phương tiện phạm tội có tính nguy hiểm cao, khi sử dụng họ thường nhắm vào
những vị trí trọng yếu trên cơ thể nạn nhân…Nếu chỉ có ý thức chấp nhận hậu quả,
thì người phạm tội không quan tâm đến công cụ, phương tiện, phương pháp phạm
13
phạm tội có ý định giết từ hai người trở lên chứ không phải chỉ giết một người.
b) Giết người dưới 16 tuổi: Là trường hợp người phạm tội cố ý tước đoạt tính
mạng của người dưới 16 tuổi. Hành vi giết người dưới 16 tuổi theo quy định của
BLHS đều bị coi là tình tiết định khung tăng nặng, bất kể người phạm tội có nhận
thức được người bị hại là người dưới 16 tuổi hay không. Quy định này phù hợp với
14
luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tuy nhiên, khi áp dụng tình tiết này chúng
ta cần chú ý đến cách tính tuổi của người bị hại theo các tài liệu liên quan đến ngày
sinh của bị hại. Trường hợp không có tài liệu để xác định và việc xác định cũng
không chính xác thì áp dụng cách tính tuổi của bị hại theo hướng có lợi cho người
phạm tội theo quy tắc tại mục 11 phần II Công văn số 81/2002/TANDTC ngày
10/6/2002 của TANDTC về việc giải đáp các vấn đề về nghiệp vụ như sau: Nếu chỉ
biết được tháng sinh của bị hại thì lấy ngày đầu tiên của tháng đó làm ngày sinh của
bị hại. Nếu chỉ biết được năm sinh của bị hại thì lấy ngày đầu tiên của tháng đầu
tiên của năm đó làm ngày sinh của bị hại.
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai: Là trường hợp người phạm tội biết rõ người
mình giết là phụ nữ đang có thai. Tại mục 2.3 Nghị quyết 01 của HĐTPTANDTC
ngày 12 tháng 5 năm 2006 quy định “Bị cáo và mọi người đều nhìn thấy được hoặc
bị cáo nghe được, biết được từ các nguồn thông tin khác nhau về người phụ nữ đó
đang mang thai” [13]. Quy định này thể hiện chính sách bảo vệ của pháp luật đối
với phụ nữ và trẻ em. Bởi lẽ, hành vi của người phạm tội không chỉ xâm hại đến
tính mạng của người mẹ mà còn xâm hại đến sự sống của đứa bé ở trong bụng mẹ.
Có thể nói đây là hành vi vô nhân đạo cần phải xử lý một cách nghiêm khắc.
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân: Giết
người đang thi hành công vụ là trường hợp nạn nhân là người đang thi hành nhiệm
vụ do cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội giao cho vì lợi ích của nhà nước, xã hội,
cộng đồng: Ví dụ cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ, cảnh sát cơ động đang đi
tuần tra, cán bộ kiểm lâm đang bảo vệ rừng …
tài sản … Thứ hai là giết người để che giấu một tội phạm khác là người phạm tội
sau khi phạm một tội nào đó nhưng sợ bị phát hiện, bị tố cáo nên đã giết người để
che giấu hành vi phạm tội của mình. Ví dụ như người phạm tội trộm cắp tài sản
nhưng bị nạn nhân phát hiện, sợ bị tố giác nên người phạm tội đã giết nạn nhân.
h) Giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân: Hành vi giết người để lấy
bất kì bộ phận cơ thể nào của nạn nhân với bất kì mục đích gì đều phạm tội. Kể cả
mục đích nghiên cứu khoa học hoặc nhằm cứu sống người khác. Nhà nước nghiêm
cấm mọi hành vi mua bán, trao đổi bộ phận cơ thể người. Hành vi giết người để lấy
bộ phận cơ thể của người khác để đạt mục đích cá nhân của bản thân mình là hành
vi nguy hiểm cần phải trừng trị nghiêm khắc. Tuy nhiên, cần xác định rằng, nếu vì
quá căm tức mà người phạm tội sau khi giết người đã lấy bộ phận cơ thể của nạn
nhân để nhằm mục đích khác cho hả giận thì không thuộc trường hợp phạm tội này.
i) Thực hiện tội phạm giết người một cách man rợ: Là trường hợp giết người
một cách dã man, tàn ác, không có tính người làm cho nạn nhân đau đớn nhiều
trước khi chết hoặc gây ra sự phẫn nộ trong dư luận xã hội. Ví dụ như tra tấn nạn
nhân cho đến chết hay giết nạn nhân chết từ từ để họ cảm thấy đau đớn, giết người
sau đó chặt nạn nhân ra từng khúc,…
k) Giết người bằng cách lợi dụng nghề nghiệp: Là trường hợp người phạm tội
sử dụng khả năng chuyên môn, nghiệp vụ của mình để thực hiện việc giết người
16
hoặc che giấu hành vi giết người của mình. Ví dụ như thầy thuốc lợi dụng chuyên
môn chữa bệnh của mình đã cho nạn nhân uống thuốc gây chết người. Nếu người có
hành vi giết người bằng phương pháp có tính chất nghề nghiệp, nhưng đó không
phải là nghề nghiệp của họ mà lợi dụng người có nghề nghiệp đó rồi thông qua
người này thực hiện mục đích giết người của mình thì không thuộc trường hợp
phạm tội này.
l) Giết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người: Là trường
hợp người phạm tội sử dụng các thủ đoạn nguy hiểm cũng như dùng các loại công
bình thường khác. Ví dụ: Giết người để lấy vợ, hoặc lấy chồng của nạn nhân; giết
người tình mà biết là có thai với mình để trốn tránh trách nhiệm; giết người đã giúp
đỡ mình, cho vay tiền, cho mượn đồ đạc trong những lúc khó khăn để khỏi phải trả
ơn, trả nợ…
Tại khoản 2 Điều 93 BLHS năm 1999 (nay là khoản 2 Điều 123 BLHS năm
2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm
năm áp dụng đối với các trường hợp phạm tội không thuộc các trường hợp quy định
ở khoản 1 Điều luật này.
BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định trường hợp mới tại
khoản 3, cụ thể “Người chuẩn bị phạm tội này thì bị phạt tù từ một đến năm năm”:
Là việc người phạm tội tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những
điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm giết
người (khoản 1 Điều 14 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 93 BLHS năm 1999 (nay là khoản 4 Điều 123
BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) còn quy định về hình phạt bổ sung:
người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một
đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm. Có điểm
khác so với BLHS năm 1999 là BLHS năm 2015 đã bỏ hình phạt bổ sung “cấm đảm
nhiệm chức vụ”.
Cấm làm những nghề hoặc công việc nhất định trong lĩnh vực cụ thể có điều
kiện để phạm tội; hoặc vì do họ có hành vi phạm tội đó cho nên nếu tiếp tục cho
làm những nghề hoặc công việc đó sẽ ảnh hưởng đến uy tín, danh dự chung.
Quản chế là buộc người bị kết án phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở
một địa phương nhất định, có sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân
địa phương. Trong thời gian quản chế, người bị kết án không được tự ý ra khỏi nơi
cư trú, bị tước một số quyền công dân theo Điều 39 của BLHS năm 1999 (nay là
Điều 44 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cấm cư trú là buộc người bị kết án phạt tù không được tạm trú và thường trú ở
một địa phương nhất định.
1.1.2. Ý nghĩa của việc quy định tội phạm này theo pháp luật hình sự Việt Nam.
hợp một cách phù hợp đảm bảo được mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội và
trừng trị, răn đe, phòng ngừa chung.
Xuất phát từ tầm quan trọng của khách thể cần bảo vệ là tính mạng, sức khỏe
của con người, BLHS hiện hành của nước ta đã có một chương quy định về các tội
xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, trong đó tội
giết người được quy định ở điều đầu tiên của chương. Chương này chỉ xếp sau
chương các tội xâm phạm về an ninh quốc gia trong phần các tội phạm của BLHS.
Tội giết người được quy định tại Điều 93 BLHS năm 1999 (nay là Điều 123 BLHS
năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017), là một trong những tội được quy định nhằm
bảo vệ trực tiếp tính mạng con người, có mức hình phạt cao nhất là tử hình. Đây là
19
loại tội phạm mà người phạm tội cướp đi quyền được sống là quyền thiêng liêng,
quý giá của con người, gây ra nhiều đau thương mất mát về tinh thần cho người
thân, bạn bè của người bị hại, gây mất trật tự trị an xã hội, gây ra tư tưởng hoang
mang, sợ hãi trong nhân dân; người phạm tội này thường bị xử phạt với loại và mức
hình phạt rất cao, có thể là tử hình nên cũng gây ra nhiều đau buồn cho người thân
của người phạm tội. Đối với đa số những loại tội phạm khác thì hậu quả của tội
phạm có thể khắc phục được, nhưng đối với tội phạm giết người thường dẫn tới hậu
quả là người bị hại chết, nên không thể khắc phục được hậu quả. Do đó, việc quy
định loại tội phạm này trong BLHS Việt Nam một cách đầy đủ, rõ ràng nhằm phát
hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh những hành vi phạm tội giết người, đồng thời giáo
dục ý thức tuân thủ pháp luật, ý thức tôn trọng quyền tự do, an ninh cá nhân của
người khác; góp phần rất quan trọng vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội
phạm nói chung, tội phạm giết người nói riêng, bảo vệ trật tự an toàn xã hội.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển các quy phạm pháp luật hình sự Việt
Nam về tội giết ngƣời.
Trải qua quá trình phát triển của đất nước, sự hình thành và phát triển của các
quy phạm pháp luật hình sự về tội giết người gắn liền với sự hình thành và phát
BLGL hay còn gọi là Nguyễn Triều hình luật do Bắc thành Tổng trấn Nguyễn
Văn Thành soạn thảo và vua Gia Long cho ban hành vào năm 1815. Bộ luật có 398
điều, chia thành 22 quyển, điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau, tất cả các điều khoản của BLGL đều được xây dựng dưới quy phạm pháp luật
hình sự và áp dụng các chế tài hình sự. Khác BLHĐ, BLGL không quy định tội giết
người trong nhiều chương mà quy định tập trung tại một phần - Phần “Nhân mạng”,
gồm các tội cụ thể[12].
So với BLHĐ, BLGL đã có sự phát triển đáng kể là đã bổ sung thêm nhiều
trường hợp phạm tội giết người bị xử phạt nặng hơn hoặc nhẹ hơn trường hợp giết
người thông thường. BLGL là Bộ luật đầu tiên đề cập đến chế định miễn TNHS cho
người phạm tội. Ví dụ: Khoản 2 Điều lệ của Điều 4 Quyển 14 Phần “Nhân mạng”
như sau: “Người chồng ruột ở ngay nơi xảy ra sự việc gian dâm, giết chết gian phu
liền đó, chiếu luật không cần xử...”. BLGL mang tính pháp trị nhiều hơn, quy định
điều luật nghiêm khắc với người phạm tội. Tại khoản 13 Điều lệ của Điều 11 Quyển
14 Phần “Nhân mạng” BLGL quy định: “Người bịnh điên giết một hơi hai mạng
người bình thường trở lên thì xử treo cổ giam chờ”...
Mặc dù thấy còn có một số hạn chế, nhưng với sự xây dựng, kế thừa và phát
triển những thành tựu khoa học lập pháp của nước nhà BLHĐ, BLGL đã trở thành
“bộ luật lớn nhất của chế độ phong kiến Việt Nam, là bộ luật đầy đủ và hoàn chỉnh
nhất của nền cổ luật Việt Nam”, là một phần của di sản văn hoá Việt Nam mà triều
Lê, Nguyễn đã có công đóng góp cho lịch sử lập pháp của Nhà nước ta.
21