TRẦN VĂN TƯỜNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
TRẦN VĂN TƯỜNG
2013 - 2015
HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
TRẦN VĂN TƯỜNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại
8
1.1.2.
Các đặc điểm chung của tranh chấp kinh doanh, thương mại
10
1.1.3.
Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
11
1.2.
Cơ sở của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
18
1.2.1.
Pháp luật tố tụng kinh doanh, thương mại (Bộ luật Tố tụng Dân sự
18
(2004))
2.1.1.
Về chủ thể trong tranh chấp kinh doanh, thương mại
22
2.1.2.
Về nội dung của tranh chấp kinh doanh, thương mại (Quyền và nghĩa
24
vụ của các bên trong quan hệ kinh doanh, thương mại)
2.1.3.
Về hình thức biểu hiện của tranh chấp kinh doanh, thương mại
26
2.2.
Pháp luật tố tụng về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại
27
Toà án nhân dân
2.2.1.
Thẩm quyền của Toà án
3.1.
TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
49
Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trên địa bàn
49
tỉnh Yên Bái
3.1.1.
Thực trạng tranh chấp kinh doanh, thương mại trên địa bàn tỉnh Yên
49
Bái
3.1.2.
Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án
54
nhân dân tỉnh Yên Bái
3.2.
Phương hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh
59
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực.
XÁC NHẬN CỦA
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
(Luận văn đã được chỉnh sửa
NGƯỜI CAM ĐOAN
theo ý kiến hội đồng chấm luận văn)
TS. Nguyễn Triều Dương
Trần Văn Tường
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
một trong những vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, thể hiện
rõ nét trong Nghị quyết số 08/NQ-TW, Nghị quyết số 48/NQ-TW, và được
nhấn mạnh trong Nghị quyết số 49/NQ-TW: “Xây dựng nền tư pháp trong
sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại,
phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động
tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu
lực cao”. Đặc biệt, khi nền kinh tế nước ta bước vào giai đoạn hội nhập quốc
tế, các tranh chấp về kinh doanh, thương mại đang diễn ra với chiều hướng
cho hoạt động xét xử của Toà án mà ở đây là Toà án nhân dân cấp huyện và
Toà Dân sự – Kinh tế - Lao động thuộc Toà án nhân dân cấp tỉnh gặp nhiều
khó khăn, vướng mắc, dẫn đến tình trạng có những vụ án kinh doanh, thương
mại kéo dài qua nhiều cấp giải quyết, hướng dẫn của ngành không đạt được
sự thống nhất, quan điểm giải quyết cũng không thống nhất giữa các cấp giải
quyết dẫn đến tình trạng bản án bị sửa, bị huỷ ngày càng nhiều...
Chính vì vậy, trong điều kiện hiện nay, nghiên cứu về giải quyết tranh
chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái sẽ có ý nghĩa
về lý luận và thực tiễn. Nhận thức đúng đắn về vai trò của Toà án cũng như
các quy định pháp luật liên quan đến việc giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại nói chung, đánh giá hoạt động giải quyết này trên địa bàn tỉnh
Yên Bái sẽ góp phần hoàn thiện nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại nói riêng cũng như hoàn thiện khung pháp luật kinh tế nói
chung.
3
Xuất phát từ những yêu cầu trên, học viên đã lựa chọn đề tài: “Giải
quyết tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn xét xử tại Toà án
nhân dân tỉnh Yên Bái” làm đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sĩ chuyên
ngành luật kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các vấn đề đặt ra xung quanh việc giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại luôn được sự quan tâm không chỉ những người hoạt động trong
công tác thực tiễn mà còn cả đối tượng nghiên cứu khoa học luật. Việc giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong khoa học pháp lý Việt Nam đã
được đề cập từ rất sớm, cụ thể: Đầu những năm 90, một số đề tài nghiên cứu
của các cơ quan Nhà nước được thực hiện: “Trọng tài kinh tế Nhà nước” – Bộ
Tư pháp chủ trì. Tiếp theo đó là các công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác
Thứ hai: Phân tích thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại ở Việt Nam hiện nay thông qua hệ thống các quy định
pháp luật về nội dung và pháp luật về hình thức.
Thứ ba: Nghiên cứu tình hình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương
mại trên địa bàn tỉnh Yên Bái, đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh,
thương mại của tỉnh.
Để thực hiện những mục tiêu đề ra, học viên xác định nhiệm vụ làm
sáng tỏ những nội dung sau đây:
Thứ nhất: Xác định được các vấn đề lý luận chung về giải quyết tranh
chấp kinh doanh, thương mại như: Khái niệm, đặc điểm chung và phương
thức giải quyết và cơ sở của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương
mại.
Thứ hai: Tập trung vào phân tích các quy định pháp luật nội dung và
pháp luật về hình thức (tố tụng) trong giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại tại Toà án nhân dân.
5
Thứ ba: Phân tích thực trạng tranh chấp kinh doanh, thương mại và giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân trên địa bàn
tỉnh Yên Bái, từ đó đưa ra các phương hướng và giải pháp cụ thể hoàn thiện
pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong thời gian tới.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn tập trung chủ yếu vào việc phân tích, đánh giá các quy định
của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại
Toà án nhân dân trên phương diện luật nội dung và luật hình thức, trong đó
quy định pháp luật về luật hình thức (tố tụng) liên quan đến thẩm quyền của
Toà án được nghiên cứu triệt để. Luận văn cũng đồng thời đi sâu vào phân
thực trạng tranh chấp kinh doanh, thương mại và giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại trên địa bàn tỉnh Yên Bái – địa phương có tình hình kinh
tế đặc thù, để tìm ra các nguyên nhân của thực trạng đó.
Thứ tư: Luận văn đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp
luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trên cơ sở những nhu
cầu thực tế đòi hỏi trong tình hình mới hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại
Chương 3: Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại
Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái và phương hướng hoàn thiện pháp luật về giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về tranh chấp kinh doanh, thương mại
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại
Trong khoa học pháp lý, các khái niệm như: tranh chấp kinh tế, tranh
chấp thương mại hay tranh chấp kinh doanh, thương mại thường được đề cập
với nội hàm rộng, hẹp khác nhau. Nhìn chung, các khái niệm này đều được
hiểu là những xung đột, bất đồng về lợi ích, quyền và nghĩa vụ của các chủ
thể trong quan hệ thương mại.
tham gia quan hệ với nhau bị coi nhẹ hơn so với trách nhiệm của các bên đối
với cơ quan quản lý và trách nhiệm phát sinh do vi phạm hợp đồng kinh tế
được đánh giá “nhẹ” về yếu tố vật chất mà “nặng” về tính chất hành chính.
Có thể thấy, trong giai đoạn này, quan hệ kinh tế với tính chất đơn giản về nội
dung và thành phần chủ thể, được điều chỉnh bởi kinh tế Nhà nước nên các
tranh chấp kinh tế phát sinh không nhiều và chủ yếu là các tranh chấp phát
sinh từ hợp đồng kinh tế được ký kết giữa các đơn vị kinh tế với nhau để triển
khai kế hoạch kinh doanh đã được Nhà nước phê duyệt từ trước. Các tranh
chấp nếu phát sinh cũng không thể hiện rõ bản chất của tranh chấp kinh
doanh, thương mại vốn được coi là tranh chấp phát sinh do xung đột lợi ích
của các bên và việc giải quyết tranh chấp cũng không xuất phát từ quyền lợi
thiết thực của các bên mà chủ yếu vì sự ổn định, hài hoà chung cho cả nền
kinh tế.
Trong quá trình đổi mới, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam hội nhập cùng nền kinh tế
thế giới với việc nước ta trở thành thành viên thứ 150 của WTO năm 2007.
Từ đó, ngày càng xuất hiện nhiều hơn các chủ thể kinh doanh, bên cạnh
doanh nghiệp Nhà nước và hợp tác xã, các loại hình công ty và hộ kinh doanh
9
cá thể. Các quan hệ kinh tế xuất hiện ngày càng nhiều với hình thức phong
phú và tính chất phức tạp. Trong hoàn cảnh đó, Nhà nước phải tạo ra một môi
trường kinh doanh lành mạnh, để các quan hệ kinh tế được xây dựng và thực
hiện trên cơ sở nguyên tắc tự do, bình đẳng, cùng có lợi và tự chịu trách
nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình. Trong giai đoạn này, kinh doanh
đúng pháp luật để đạt lợi nhuận tối đa là mục tiêu của các doanh nghiệp. Môi
trường đó phát sinh ngày càng nhiều các tranh chấp liên quan đến việc thực
hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế, đồng
các chủ thể kinh doanh liên quan đến lợi ích kinh tế trong quá trình hoạt
động kinh doanh, thương mại”.
1.1.2. Các đặc điểm chung của tranh chấp kinh doanh, thương mại
Việc phân định tranh chấp kinh doanh, thương mại hay tranh chấp
thuộc các ngành luật khác như tranh chấp dân sự, tranh chấp trong quan hệ
quốc tế…phụ thuộc vào tính chất của mối quan hệ pháp luật; chủ thể của các
mối quan hệ đó cũng như lợi ích của mối quan hệ đó mạng lại. Tranh chấp
kinh doanh, thương mại có các đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về nội dung: Là những tranh chấp phát sinh trong hoạt động
kinh doanh, thương mại như: mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, phân
phối, đại diện, đại lý, ký gửi, thuê và cho thuê, thuê mua, xây dựng...
Thứ hai, về chủ thể: Các bên tranh chấp có đăng ký kinh doanh, chủ thể
trong tranh chấp kinh doanh, thương mại chủ yếu là các thương nhân. Trong
một số trường hợp chủ thể của tranh chấp kinh doanh, thương mại có thể là
các cá nhân, tổ chức không phải là thương nhân. Ví dụ tranh chấp giữa công
ty và thành viên của công ty là tranh chấp giữa một bên chủ thể là thương
nhân (công ty) và một bên là cá nhân không phải là thương nhân (thành viên
công ty).
11
Thứ ba, về cách thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại: Do
các bên tranh chấp tự định đoạt – Điều này thể hiện ở các bên trong tranh
chấp có nhiều hơn một cách để giải quyết tranh chấp như: Hoà giải, thương
lượng, trọng tài, toà án. Việc chọn phương pháp giải quyết nào là quyền của
các bên nhưng vẫn trên cơ sở tôn trọng lợi ích của nhau và lợi ích của Nhà
nước.
Thứ tư, về tính chất: Tranh chấp kinh doanh, thương mại mang tính tài
sản. Tranh chấp kinh doanh, thương mại là tranh chấp mang yếu tố vật chất
của thương lượng thường là những cam kết, thoả thuận về những giải pháp cụ
thể nhằm tháo gỡ những bất đồng phát sinh trước đó.
Tuy nhiên, hình thức thương lượng có một số hạn chế như: Khó thực
hiện nếu các bên đã mâu thuẫn căng thẳng trong các vấn đề tranh chấp và
không có thiện chí với nhau. Giá trị pháp lý của biên bản thương lượng chưa
được quy định cụ thể và không có giá trị cưỡng chế thi hành.
1.1.3.2. Hoà giải
Hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên cũng chấp nhận hay chỉ
định, đóng vai trò trung gian nhằm hỗ trợ các bên tìm kiếm những giải pháp
thích hợp cho việc giải quyết xung đột. Nếu hoà giải thành công sẽ đạt được
giải pháp là tự thoả thuận giữa các bên để giải quyết tranh chấp. So với hình
thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hoà giải có điểm khác là sự có
mặt của bên thứ ba với tư cách là người trung gian để giúp đỡ các bên tìm ra
giải pháp. Giống như thương lượng, hoà giải là một biện pháp mang tính
truyền thống không phải chỉ mới xuất hiện trong giai đoạn hiện nay mà được
hình thành từ rất lâu. Mặc dù hoà giải cũng là biện pháp mang tính hiệu quả
và được nhà kinh doanh ưa chuộng để giải quyết tranh chấp nhưng hạn chế là
quá trình hoà giải các bên tranh chấp cũng không chịu sự chi phối bởi các quy
định có tính khuôn mẫu, bắt buộc của pháp luật về thủ tục hoà giải. Kết quả
13
hoà giải thành được thực thi cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của
các bên tranh chấp mà không có bất kỳ cơ chế pháp lý nào bảo đảm thi hành
những cam kết của các bên trong quá trình hoà giải.
1.1.3.3. Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng trọng tài
Có thể thấy, đây là phương thức giải quyết tranh chấp rất phổ biến và
được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là
quy định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng, bên cạnh đó tuân thủ các
nguyên tắc xét xử cũng là một trong những điểm đặc thù của hoạt động giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại để nhằm mục đích bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng, cũng như tạo điều kiện hoạt
động đồng bộ cho toàn bộ nền kinh tế. Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại phải tuân thủ những nguyên tắc đặc trưng riêng như: Nguyên tắc
đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự; Nguyên tắc hoà giải; Nguyên tắc
cung cấp chứng cứ và chứng minh; Nguyên tắc giải quyết nhanh chóng, kịp
thời; Nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Bên cạnh
đó, còn một số nguyên tắc chung thể hiện tính dân chủ và pháp chế xã hội chủ
nghĩa như: Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; Nguyên tắc xét xử
công khai; Nguyên tắc đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng;
Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật…
Trong phạm vi luận văn, tác giả không trình bày toàn bộ các nguyên tắc
của tố tụng mà chỉ trình bày một số nguyên tắc mang tính đặc trưng chi phối
nhiều trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà
án.
Thứ nhất, nguyên tắc đảm bảo quyền tự định đoạt của các đương sự:
Theo Điều 5 BLTTDS, nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của
đương sự được quy định: “1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện,
yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Toà án chỉ thụ lý
giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và
15
chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. “2. Trong quá
trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các
yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái
pháp luật và đạo đức xã hội.”
Thứ hai, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp của cá nhân, cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền: Để bảo đảm cho đương sự thực hiện được nghĩa vụ cung
cấp chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ và Toà án
có đầy đủ chứng cứ để giải quyết nhanh chóng và đúng đắn thì phải quy định
trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc cung cấp chứng cứ
cho đương sự và Toà án. Vì vậy, điều 7 BLTTDS đã quy định rất rõ về
nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền. Hiện nay, khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS có sửa
đổi, bổ sung Điều 7 BLTTDS như sau: “ Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và
đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát tài liệu, chứng cứ mà
mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm
sát và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng
cứ đó; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn
bản cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết và nêu rõ lý do của việc không
cung cấp được tài liệu, chứng cứ.” Sửa đổi, bổ sung như trên của Luật sửa
đổi, bổ sung BLTTDS chủ yếu là bổ sung chủ thể “Viện kiểm sát” để phù hợp
với việc sửa đổi, bổ sung nguyên tắc kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố
tụng dân sự.
Thứ ba, nguyên tắc hoà giải: Nguyên tắc hoà giải trong tố tụng kinh tế
được quy định tại Điều 10 BLTTDS, theo đó: “Toà án có trách nhiệm tiến
hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau
về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.” Bản chất
của quan hệ kinh tế được thiết lập trên cơ sở tự nguyện và quyền tự định đoạt
17
của đương sự, do đó việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ
này được thực hiện theo những biện pháp nhất định, trong đó hoà giải là một
Để thực hiện được nguyên tắc này, bản thân Toà án phải được tổ chức
và hoạt động sao cho có hiệu quả, đặc biệt là trình độ của Thẩm phán được
nâng cao không chỉ trong lĩnh vực pháp luật nói chung mà còn cả trong lĩnh
vực kinh doanh, thương mại.
Thứ năm, nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng:
Đây là nguyên tắc quan trọng để nâng cao chất lượng xét xử, BLTTDS ra đời
đã có những quy định rõ ràng về nguyên tắc này, tạo cơ chế phân định trách
nhiệm cá nhân Thẩm phán, Thư ký và những người tiến hành tố tụng khác.
Có thể nói rằng, mỗi hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh,
thương mại đều có những đặc điểm và hạn chế nhất định, chỉ có các đương sự
và các luật sư của họ mới hiểu rõ họ cần đến hình thức giải quyết tranh chấp
nào trong những vụ việc cụ thể. Thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp
trong kinh doanh hiện nay ở các nước trên thế giới như Anh – Mỹ, Đức,
Pháp…[14] thì các hình thức như thương lượng, hoà giải, trọng tài chiếm ưu
thế, còn ở Việt Nam thì việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
bằng con đường Toà án đóng vai trò quan trọng nhất, được các chủ thể tranh
chấp lựa chọn.
1.2. Cơ sở của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
1.2.1. Pháp luật tố tụng kinh doanh, thương mại (Bộ luật Tố tụng
Dân sự (2004))
BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình
tự, thủ tục khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết các vụ án, tranh chấp về dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động; quy định trình tự thủ tục giải
quyết các vụ việc này tại Toà án; quyền hạn và trách nhiệm của người tiến
hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, của cá nhân, tổ
19
chức liên quan và nguyên tắc cơ bản về thi hành án nhằm bảo đảm cho việc