TRẦN VĂN HÙNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬT KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG
MẠI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN
DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
TRẦN VĂN HÙNG
2014 - 2016
HÀ NỘI - 2016
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
TRẦN VĂN HÙNG
văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong viện đại học mở, đặc
biệt là các thầy cô trong Khoa Đào tạo Sau Đại học đã cho tôi những kiến thức
bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua, cũng như giúp tôi có kiến
thức để thực hiện luận văn của mình.
Cuối cùng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, những
người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện
đề tài luận văn của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2016
Tác giả Luận văn
Trần Văn Hùng
4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................... 2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .................................................................... 3
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài ..................................... 4
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài ....................................................................... 5
THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH
SƠN LA ...................................................................................................... 60
3.1. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết các tranh
chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án ................................................. 60
3.2. Một số kiến nghị về thực hiện các quy định của pháp luật trong giải
quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân huyện
Mai Sơn, tỉnh Sơn La ................................................................................ 71
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 ............................................................................ 78
KẾT LUẬN ................................................................................................ 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................. 81
6
BẢNG TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Ý nghĩa
1
BLTTDS
Bộ luật Tố tụng Dân sự
2
HĐXX
Viện kiểm sát
8
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
9
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
7
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, vấn đề nâng
cao hiệu quả xét xử của Tòa án luôn được Đảng và Nhà nước Tòa án quan
tâm. Chủ trương này được thể hiện rất rõ ràng trong Nghị quyết 08/NQ-TW,
Nghị quyết 48/NQ-TW và được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 49/NQ-TW
''Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo
vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử
được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao''. Đầu năm 2011 vừa qua, Đại hội
lần thứ XI đã họp, thảo luận và thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) và chiến lược
chưa phù hợp, chưa thống nhất dẫn đến cách hiểu không thống nhất và việc
vận dụng không đạt được tính thuyết phục. Điều này làm cho hoạt động xét
xử của Tòa án còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, dẫn đến án bị sửa, bị
hủy. Do đó, trong điều kiện hiện nay, nghiên cứu về giải quyết tranh chấp
KDTM từ thực tiễn xét xử ở Tòa án có ý nghĩa về lí luận cũng như thực tiễn,
nhất là khi hàng loạt các văn bản pháp luật mới được ban hành có điều chỉnh
về vấn đề này đã lần lượt ra đời và có hiệu lực như BLTTDS 2015, Luật
doanh nghiệp 2014… với nhiều thay đổi quan trọng.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, học viên xin lựa chọn và thực hiện
đề tài ''Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại từ thực tiễn xét xử
của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La'' để làm rõ các vấn đề lý
luận về giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án và đánh giá thực tiễn thi
hành tại TAND huyện Mai Sơn, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả công tác giải quyết các tranh chấp KDTM tại Tòa án nói chung
và tại TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nói riêng.
2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các vấn đề liên quan đến tranh chấp KDTM và giải quyết tranh chấp
KDTM bằng Tòa án không phải là vấn đề mới lạ trong khoa học pháp lí Việt
Nam. Ngay từ đầu những năm 1990, đã có những đề tài nghiên cứu của các
cơ quan Nhà nước như: Trọng tài Kinh tế Nhà nước, Bộ Tư pháp… Tiếp đó,
nhiều cơ sở đào tạo luật học như Đại học Luật Hà Nội, Khoa luật Đại học
Quốc gia đã cập nhật vấn đề này vào giáo trình của mình nhằm giới thiệu các
loại hình tài phán kinh tế cho sinh viên. Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở
các cấp độ và khía cạnh khác nhau như: Khóa luận tốt nghiệp của Bùi Thái
Hà ''Giải quyết tranh chấp về hợp đồng trong KDTM tại Tòa án - những vấn
đề lí luận, thực tiễn'', Luận văn thạc sĩ Luật học của Cung Mỹ Anh ''Giải
quyết tranh chấp KDTM theo qui định của BLTTDS - Những vướng mắc và
tổng hợp các ý kiến khác nhau nhằm chỉ ra những ưu, nhược điểm, những
vướng mắc khi áp dụng pháp luật khi giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa
án từ thực tiễn xét xử. Từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể để hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hoạt động xét xử của TAND nói chung và TAND
huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nói riêng trong giải quyết tranh chấp KDTM.
Để Luận văn đạt được những mục đích đã đề ra thì việc nghiên cứu
phải thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Thứ nhất, Luận văn nghiên cứu những vấn đề lí luận về tranh chấp
KDTM và giải quyết tranh chấp KDTM tại TAND;
- Thứ hai, đánh giá toàn diện và khách quan thực trạng áp dụng trong quá
trình giải quyết tranh chấp KDTM của TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La;
- Thứ ba, chỉ ra các phương hướng cụ thể, đề xuất các phương án giải
quyết phù hợp của TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nhằm góp phần giúp
4
cơ quan chức năng tháo gỡ khó khăn, cũng như hoàn thiện các qui định của
pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở phân tích một số nội dung chủ yếu của BLTTDS 2004 (đối
chiếu với BLTTDS 2015) về thẩm quyền giải quyết và trình tự, thủ tục giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, Luận văn chủ yếu tập trung vào
việc phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết
tranh chấp KDTM tại TAND, phân tích thẩm quyền giải quyết KDTM của
Tòa án, phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM
qua số liệu thống kê các vụ án tranh chấp KDTM được giải quyết của TAND
huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La những năm gần đây. Tuy nhiên, do tính bao
quát của đề tài, Luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu một số vấn đề bức
xúc, cần thiết liên quan đến pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTM bằng
riêng và công tác giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án nói chung.
7. Kết cấu Luận văn
Ngoài phần Lời mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo, Mục lục, Danh
mục các từ viết tắt và Kết luận, Luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tranh chấp kinh doanh, thương mại
và pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án.
Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân huyện
Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
6
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại và giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại tranh chấp kinh doanh, thương mại
1.1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại
Ngay từ xa xưa, khi Nhà nước còn chưa hình thành thì mọi người đã
tiến hành các hoạt động sản xuất và trao đổi sản phẩm hàng hoá theo các
phương thức giản đơn khác nhau. Hay nói một cách khác, lịch sử ra đời và
phát triển của kinh tế có từ rất lâu trước khi Nhà nước xuất hiện và đưa ra
các chế định để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, xã hội. Cùng với sự ra đời và
lợi. Do đó, hai hoạt động này đã được BLTTDS gọi chung là hoạt động kinh
doanh, thương mại và đưa vào cùng một quy trình khi giải quyết tranh chấp
là hoàn toàn phù hợp. BLTTDS 2004 không dùng khái niệm “tranh chấp về
hợp đồng kinh tế” như Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 mà
dùng khái niệm “tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại” và đã
liệt kê các hành vi kinh doanh, thương mại nào có tranh chấp thì thuộc thẩm
quyền của TAND (Còn BLTTDS 2015 thì không liệt kê các tranh chấp nào
là tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà chỉ đưa ra
khái niệm, nêu lên bản chất của tranh chấp KDTM tại khoản 1 Điều 30
BLTTDS 2015). Có thể nhận thấy rằng, khái niệm tranh chấp KDTM thực
chất là những mâu thuẫn phát sinh từ việc các chủ thể kinh doanh có sự bất
đồng đến mức trái ngược nhau trong hoạt động kinh doanh, đầu tư, cung ứng
9
dịch vụ...gọi chung là trong hoạt động KDTM. Cách định nghĩa này mặc dù
còn nhiều hạn chế song cũng đã chỉ ra được bản chất của tranh chấp KDTM
là mâu thuẫn, xung đột về những lợi ích phát sinh khi tham gia các hoạt động
KDTM. Tuy nhiên, phạm vi giữa mâu thuẫn, xung đột và tranh chấp là khác
nhau, chỉ khi nào mâu thuẫn và xung đột lớn, đến mức không thể điều hòa
thì tranh chấp mới xảy ra.
Ngoài các định nghĩa trên về tranh chấp KDTM thì giáo trình Luật
thương mại - tập 2 của trường Đại học Luật Hà Nội cũng đưa ra quan điểm
về tranh chấp thương mại: “Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn
(bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình
thực hiện các họat động thương mại”. Từ những phân tích trên, có thể thấy
hiện nay, vẫn chưa đưa ra được cách hiểu thống nhất, đặc biệt là chưa có văn
bản pháp luật nào quy định cụ thể khái niệm tranh chấp KDTM mà mới chỉ
dừng lại ở vấn đề quan điểm của một số tác giả trên cơ sở tiếp cận nó thông
qua luật nội dung và luật tố tụng.
được bảo vệ tập thể (cho phù hợp với Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng); Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao
dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty… Tóm
lại, chủ thể của tranh chấp KDTM rất đa dạng, nhưng đa phần là các thương
nhân, có đăng ký kinh doanh.
- Thứ ba, về nội dung của tranh chấp KDTM
Tranh chấp KDTM chính là sự mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về
quyền và nghĩa vụ (về lợi ích vật chất) của các bên trong hoạt động KDTM.
Nói cách khác, tranh chấp KDTM có nội dung liên quan đến lợi ích vật chất
của các tranh chấp. Lợi ích vật chất đó thường được xem xét dưới góc độ là
11
giá trị của tranh chấp KDTM. Và nếu so với các tranh chấp khác trong xã hội
thì tranh chấp KDTM thường là loại tranh chấp có giá trị lớn.
1.1.1.3. Các loại tranh chấp kinh doanh, thương mại
Theo quy định tại Điều 29 BLTTDS 2004 thì tranh chấp KDTM thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm 4 nhóm:
- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa
cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi
nhuận (được liệt kê từ điểm a đến điểm o khoản 1 Điều 29);
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá
nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận (có thể tất cả hoặc một
trong các bên có đăng ký kinh doanh hoặc các bên đều không có đăng ký
kinh doanh) được quy định tại khoản 2 Điều 29;
- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các
thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động,
chấm dứt hoạt động của công ty được quy định tại khoản 3 Điều 29;
- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy
năm 2010 nếu các bên có thỏa thuận Trọng tài và thỏa thuận Trọng tài không
vô hiệu nhưng tranh chấp này lại không thuộc loại tranh chấp về kinh doanh,
thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án theo Điều 29 BLTTDS (khi một
bên tranh chấp không có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật) và
cũng không được xếp vào loại tranh chấp về dân sự theo Điều 25 BLTTDS.
Bởi vậy, theo BLTTDS 2004 thì khó có thể xác định được thẩm quyền giải
quyết tranh chấp phát sinh giữa một bên không nhằm mục đích sinh lợi với
thương nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp bên không
nhằm mục đích sinh lợi chọn áp dụng Luật Thương mại. Đây là sự bất cập
13
của BLTTDS 2004, tạo ra sự bất tương thích với quy định tương ứng của
pháp luật nội dung.
BLTTDS 2015 khi phân loại các tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án đã có sự sửa đổi, bổ sung đáng kể:
- Không liệt kê cụ thể các tranh chấp thuần túy là tranh chấp KDTM
giữa các bên có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích sinh lợi như trong
khoản 1 Điều 29 BLTTDS 2004, mà chỉ nêu bản chất của tranh chấp: “Tranh
chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ
chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận” (khoản
1 Điều 30 BLTTDS 2015);
- Bổ sung thêm một loại tranh chấp là: “Tranh chấp giữa người chưa
phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn
góp với công ty, thành viên công ty” (khoản 3 Điều 30 BLTTDS 2015);
- Bổ sung thêm nhóm tranh chấp: “Tranh chấp giữa công ty với người
quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản
trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần liên quan đến việc thành
lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của
các quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định lại hoặc mâu thuẫn hay
xung đột giữa các bên được dung hòa thông qua các phán quyết của người
đứng ra giải quyết tranh chấp hoặc của chính các bên.
1.1.2.2. Đặc điểm của giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
- Thứ nhất, phải đảm bảo nhanh chóng, kịp thời. Kinh doanh, thương
mại là một quan hệ mang đậm màu sắc kinh tế, yếu tố lợi nhuận là yếu tố
luôn được đặt lên hàng đầu. Và một trong các yếu tố ảnh hưởng tới lợi nhuận
của các chủ thể trong quan hệ KDTM là vấn đề quỹ thời gian. Thời gian có
15
thể ảnh hưởng tới giá hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ, quy mô, khả năng
luân chuyển hàng hóa, dịch vụ ở các thời điểm khác nhau là rất khác nhau,
ảnh hưởng rất lớn tới lợi nhuận. Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp KDTM, dường
như thời gian luân chuyển của các hoạt động thương mại của hai bên và
thậm chí là cả bên thứ ba bị ngưng trệ, làm mất đi rất nhiều lợi thế của các
bên xảy ra tranh chấp trên thương trường, giữa một nền kinh tế thị trường
cạnh tranh khốc liệt. Vậy nên, việc rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp,
nhanh chóng giải quyết tranh chấp để các bên tiếp tục hoạt động kinh doanh
của mình là yếu tố tối quan trọng và cần thiết trong giải quyết tranh chấp
KDTM.
- Thứ hai, giải quyết tranh chấp KDTM phải đảm bảo tôn trọng tối đa
quyền tự định đoạt của các bên. KDTM cũng là một hoạt động mang đậm
màu sắc dân sự ở sự tự do, tự nguyện và bình đẳng. Vậy nên, trong giải
quyết tranh chấp KDTM, sự tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên tranh
chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên, về phương thức, thời hạn, thời gian,
địa điểm giải quyết tranh chấp là vô cùng quan trọng (trừ một số ràng buộc
pháp lý bắt buộc các bên trong tranh chấp và chủ thể giải quyết tranh chấp
phải tuân thủ).
- Thứ ba, yếu tố bí mật, duy trì quan hệ tốt đẹp giữa các bên tranh chấp
tranh chấp có thể được thực hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua
phương thức hòa giải, Trọng tài hoặc Tòa án, trong đó:
* Hòa giải
Hòa giải là việc các bên tiến hành thương lượng giải quyết tranh chấp
với sự hỗ trợ của bên thứ ba là hòa giải viên. Kết quả hòa giải phụ thuộc vào
thiện chí của các bên tranh chấp và uy tín, kinh nghiệm, kỹ năng của trung
17
gian hòa giải, quyết định cuối cùng của việc giải quyết tranh chấp không
phải của trung gian hòa giải mà hoàn Toàn phụ thuộc các bên tranh chấp.
Hình thức giải quyết này có nhiều ưu điểm: Thủ tục hòa giải được tiến
hành nhanh gọn, chi phí thấp, các bên có quyền tự định đoạt, lựa chọn bất kỳ
người nào làm trung gian hòa giải cũng như thời gian, địa điểm tiến hành hòa
giải. Họ không bị gò bó về mặt thời gian như trong thủ tục tố tụng tại Tòa án.
Hòa giải mang tính thân thiện nhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối
quan hệ kinh doanh vì lợi ích của cả hai bên. Hòa giải là mong muốn của các
bên dàn xếp vụ việc sao cho không có bên nào bị thua cuộc, không dẫn đến
tình trạng đối đầu, thắng thua như quá trình kiện tụng tại Tòa án. Hình thức
giải quyết này đặc biệt hiệu quả khi giải quyết những tranh chấp kinh doanh,
thương mại mang tính chất kỹ thuật (xây dựng, tài chính … ). Vì rằng, các
bên trong vụ việc tranh chấp hoàn toàn có quyền chủ động trong việc tìm
kiếm một hòa giải viên có đủ hiểu biết để tham gia giải quyết tranh chấp.
Nhưng trong thực tiễn kiện tụng tại Tòa thì các bên không có quyền lựa chọn
cán bộ giải quyết trừ một số trường hợp phải thay đổi HĐXX theo quy định
của pháp luật. Một điều quan trọng khác mà các nhà kinh doanh cũng rất
quan tâm là khi giải quyết bằng con đường này, các bên kiểm soát được các
tài liệu, chứng cứ có liên quan (những bí mật kinh doanh) trong khi giải
quyết tại Tòa án thì các yêu cầu này không được đảm bảo do Tòa án thực