Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại từ thực tiễn xét xử của toà án nhân dân thành phố sơn la, tỉnh sơn la - Pdf 48

LÊ THỊ MAI ANH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

LUẬT KINH TẾ

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KNH DOANH, THƢƠNG MẠI TỪ THỰC
TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA- TỈNH
SƠN LA

HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN: LÊ THỊ MAI ANH

2014-2016

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI TỪ THỰC
TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA- TỈNH
SƠN LA
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN: LÊ THỊ MAI ANH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

vô cùng có ích trong những năm học vừa qua, cũng nhƣ giúp tôi có kiến thức để
thực hiện luận văn của mình.
Cuối cùng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, những ngƣời
đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận
văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày

tháng
Học viên

năm 2016


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ............................................................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.................................................................................2
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài ..................................................4
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài ...................................................................................9
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu ..................................................5
6. Những đóng góp mới của đề tài ..........................................................................6
7. Cơ cấu Luận văn ..................................................................................................6
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG
MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG MẠI TẠI
TÒA ÁN
1.1. Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại .........................7
1.2. Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại ..............................................11
1.3. Vai trò của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại

biết của các chủ thể kinh doanh .............................................................................75
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3............................................................................................76
KẾT LUẬN ...............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................79


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT

Ý nghĩa

Từ viết tắt

1

BLTTDS

Bộ luật Tố tụng Dân sự

2

BPKCTT

Biện pháp khẩn cấp tạm thời

3

TCKDTM

Tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại


9

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao

10

TTTM

Trọng tài thƣơng mại

11

VKS

Viện kiểm sát

12

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

13

VKSNDTC

Viện kiểm sát nhân dân tối cao

vƣớng mắc do hệ thống văn bản hƣớng dẫn còn thiếu đồng bộ, chậm đƣợc ban hành
và chƣa phù hợp, dẫn đến cách hiểu không thống nhất vàviệc vận dụng không đạt
hiệu quả mong muốn. Điều này làm cho hoạt động xét xử của Tòa án gặp nhiều khó
khăn, vƣớng mắc, dẫn đến nhiều bản án bị sửa, bị hủy. Do đó, trong điều kiện hiện
nay, nghiên cứu về giải quyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn xét xử ở Tòa án có ý
nghĩa về líluận cũng nhƣ thực tiễn, nhất làkhi hàng loạt các văn bản pháp luật mới
đƣợc ban hành có điều chỉnh về vấn đề này đã lần lƣợt ra đời vàcó hiệu lực nhƣ


BLTTDS 2015, Luật Doanh nghiệp 2014… với nhiều thay đổi quan trọng.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, học viên đã chọn đề tài ''Giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Sơn
La - tỉnh Sơn La'' làm đề tài luận văn tốt nghiệp với mong muốn làm rõcác vấn đề
lýluận về giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án và đánh giá thực tiễn thi hành tại
TAND thành phố Sơn La, từ đó đƣa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác giải quyết các tranh chấp KDTM tại Tòa án nói chung vàtại TAND thành
phố Sơn La – tỉnh Sơn La nói riêng.
2. Tì
nh hì
nh nghiên cứu đề tài
Các vấn đề liên quan đến tranh chấp KDTM vàgiải quyết tranh chấp KDTM
bằng Tòa án không phải làvấn đề mới trong khoa học pháp líViệt Nam. Ngay từ
đầu những năm 1990, đã có những đề tài nghiên cứu của các cơ quan Nhà nƣớc
nhƣ: Trọng tài Kinh tế Nhà nƣớc, Bộ Tƣ pháp… Tiếp đó, nhiều cơ sở đào tạo luật
nhƣ Đại học Luật HàNội, Khoa luật Đại học Quốc gia… đã cập nhật vấn đề này
vào giáo trình của mình nhằm giới thiệu các loại hì
nh tài phán kinh tế cho sinh viên.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ vàkhí
a cạnh khác nhau nhƣ: Khóa
luận tốt nghiệp của Bùi Thái Hà''Giải quyết tranh chấp về hợp đồng trong KDTM

chấp kinh doanh, thương mại tại tòa án” của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy ( Tạp
chíKiểm sát. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 22/2014); “Hoàn thiện quy định
về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của tòa án” của tác
giả Nguyễn Duy Phƣơng (Tạp chíNghiên cứu lập pháp. Viện nghiên cứu lập pháp,
Số 1/2015); “Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
tại tòa án - Một số kiến nghị ” của tác giả Lê Văn Thiệp (Tạp chíKiểm sát. Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 5/2016); “Thẩm quyền quyết định thẩm quyền giải
quyết tranh chấp kinh doanh quốc tế của trọng tài - một số lưu ý khi lựa chọn trọng
tài quy chế” của tác giả Mai Minh Hƣơng (Tạp chíDân chủ vàPháp luật. Bộ Tƣ
pháp, Số chuyên đề Pháp luật về Doanh nghiệp/2012) “Những vướng mắc khi giải
quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án” của Vũ Gia Trƣởng (năm 2016)…
Các công trình nghiên cứu kể trên đã đề cập đến thủ tục tố tụng giải quyết
tranh chấp KDTM dƣới góc độ vànhững khí
a cạnh kháchi tiết và đầy đủ về loại

nh tài phán Tòa án ở Việt Nam. Tuy nhiên, những công trì
nh nghiên cứu đƣợc

-3-


tiến hành cách đây nhiều năm, nền kinh tế của nƣớc ta hiện nay đang từng bƣớc đổi
mới, phát triển hòa nhập vào nền kinh tế thế giới khi Việt Nam đã là thành viên của
tổ chức thƣơng mại thế giới WTO vàmới đây là thành viên của Hiệp định đối tác
kinh tế xuyên Thái Bình Dƣơng (TPP). Đồng thời làsự ra đời của 2 văn bản luật rất
quan trọng trong lĩnh vực KDTM là BLTTDS 2015 và Luật Doanh nghiệp 2014.
Bởi vậy, vấn đề này vẫn cần đƣợc nghiên cứu, đặc biệt làviệc nghiên cứu gắn với
một địa phƣơng nhất định. Đó cũng là cơ hội để Luận văn này có thể đóng góp cho
khoa học pháp líhiện nay những điểm mới vàthiết thực.
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

nhiên, do tính bao quát của đề tài, Luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu một số
vấn đề bức xúc, cần thiết liên quan đến pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTM
bằng TAND thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La, từ đó đề xuất phƣơng hƣớng, giải
pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của việc giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng
Tòa án. Cũng cần lƣu ý rằng, trong quátrì
nh nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh
chấp KDTM tại TAND thành phố Sơn La giai đoạn 2011-2015, là giai đoạn mà
nhiều quy định của pháp luật, đặc biệt là quy định của BLTTDS chƣa có hiệu lực
pháp luật. Vìvậy, khi đánh giá thực trạng giải quyết tranh chấp KDTM tại TAND
thành phố Sơn La giai đoạn 2011-2015, tác giả vẫn phân tí
ch những hạn chế của
pháp luật đang có hiệu lực ở giai đoạn này. Ở phần kiến nghị hoàn thiện pháp luật,
tác giả sẽ chỉ rõ những vƣớng mắc, bất cập nào trong quy định của pháp luật đã
đƣợc khắc phục trong văn bản luật mới.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng vàduy vật lịch sử của triết học Mác- Lênin để phân tích mối quan hệ
giữa thƣợng tầng kiến trúc vàhạ tầng cơ sở, mối quan hệ giữa kinh tế vàpháp luật,
của Líluận Nhà nƣớc vàPháp luật trong điều kiện kinh tế hiện nay.
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của
Đảng và Nhà nƣớc, của Tòa án trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát
triển kinh tế để các qui định đó có thể đáp ứng yêu cầu giải quyết tranh chấp KDTM
hiện nay. Bên cạnh đó, Luận văn còn sử dụng những phƣơng pháp nhƣ phân tí
ch, so
sánh, đối chiếu, tổng hợp, khảo sát thực tiễn, nghiên cứu điển hì
nh, nghiên cứu bản
án, quy nạp, diễn dịch, suy luận logic… để giải quyết vấn đề đặt ra. Các phƣơng

-5-


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP KINH
DOANH THƢƠNG MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP KINH DOANH THƢƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
1.1. Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại
Tranh chấp KDTM là một trong những hệ quả của hoạt động thƣơng mại, là
một hiện tƣợng phổ biến và thƣờng xuyên diễn ra trong nền kinh tế thị trƣờng. Do
tính chất thƣờng xuyên cũng nhƣ hậu quả của nó gây ra cho các chủ thể tham gia
tranh chấp nói riêng và cho cả nền kinh tế nói chung, pháp luật Việt Nam cũng đã
sớm quy định các phƣơng thức giải quyết tranh chấp KDTM.
Tranh chấp thƣơng mại (hay tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại) là thuật ngữ
quen thuộc trong đời sống kinh tế - xã hội ở các nƣớc trên thế giới [67, tr.52]. Khái
niệm này mới đƣợc sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nƣớc ta trong mấy năm gần đây
và ngày càng chiếm giữ vị trí “thống lĩnh” thay thế khái niệm tranh chấp kinh tế một khái niệm quen thuộc của nền kinh tế kế hoạch.
Thuật ngữ "tranh chấp" nói chung đƣợc hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn về
quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan [74, tr.7]. Những bất đồng,
mâu thuẫn này có thể phát sinh từ những quan hệ xã hội do nhiều ngành luật điều
chỉnh nên chúng đƣợc gọi theo ngành luật đó. Ví dụ: Tranh chấp về tiền lƣơng giữa
ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động đƣợc gọi là tranh chấp lao động. Tƣơng
tự nhƣ vậy, tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai... đều là những tranh chấp có liên
quan đến quyền và lợi ích kinh tế của các bên. Do đó chúng đƣợc gọi là tranh chấp
kinh tế theo nghĩa rộng.
Tại Việt Nam, khái niệm tranh chấp thƣơng mại lần đầu tiên đƣợc quy định
-7-


trong Luật Thƣơng mại năm 1997. Tại Điều 238 Luật Thƣơng mại quy định: "Tranh
chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”. Theo đó, nội hàm hoạt động

nhân là chủ thể chủ yếu của tranh chấp thƣơng mại, trong những trƣờng hợp nhất
định, các cá nhân, tổ chức khác (không phải là thƣơng nhân) cũng có thể là chủ thể
của tranh chấp thƣơng mại khi trong các giao dịch bên không có mục đích sinh lợi
chọn áp dụng luật thƣơng mại. Khoa học pháp lý gọi giao dịch này là giao dịch hỗn
hợp (hành vi hỗn hợp) .Về bản chất, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của
một bên trong giao dịch với thƣơng nhân không phải là hoạt động thƣơng mại thuần
túy, nhƣng bên không nhằm mục đích sinh lợi đã chọn áp dụng luật thƣơng mại thì
quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật thƣơng mại và tranh chấp phát sinh từ quan
hệ pháp luật này phải đƣợc quan niệm là tranh chấp thƣơng mại [18, tr.10]. Một quy
tắc đƣợc pháp luật của Pháp và nhiều quốc gia áp dụng để giải quyết loại tranh chấp
này đó là căn cứ vào bị đơn là thƣơng nhân hay không phải là thƣơng nhân. Nếu bị
đơn là thƣơng nhân thì nguyên đơn (bên có hành vi dân sự) có thể chọn Tòa
Thƣơng mại hoặc Tòa Dân sự để giải quyết vụ tranh chấp. Trƣờng hợp nguyên đơn
chọn Tòa Thƣơng mại thì các quy định khắt khe hơn của luật thƣơng mại đƣợc áp
dụng để giải quyết vụ tranh chấp. Ngƣợc lại, bị đơn không phải là thƣơng nhân thì
nguyên đơn (bên có hành vi thƣơng mại) chỉ có quyền kiện ra Tòa Dân sự và luật
dân sự đƣợc áp dụng để giải quyết vụ tranh chấp mà các quy định của luật thƣơng
mại không thể áp dụng cho đối phƣơng không phải là thƣơng nhân [18, tr.10].
Ngoài ra, Khoản 3 Điều 29 BLTTDS 2004 có quy định về một loại tranh
chấp không diễn ra giữa các thƣơng nhân với nhau, đó làtranh chấp giữa các công
ty vàthành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan
đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi

nh thức tổ chức của công ty. Trong BLTTDS 2015 cũng bổ sung thêm các tranh
chấp nhƣ: Tranh chấp giữa ngƣời tiêu dùng với tổ chức, cánhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ vàđƣợc bảo vệ tập thể (cho phù hợp với Luật bảo vệ quyền lợi ngƣời
tiêu dùng); Tranh chấp giữa ngƣời chƣa phải là thành viên công ty nhƣng có giao
dịch về chuyển nhƣợng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty… Tóm lại,
chủ thể của tranh chấp KDTM rất đa dạng, nhƣng đa phần là các thƣơng nhân, có
đăng ký kinh doanh.

tiễn phần lớn các tranh chấp trong kinh doanh, thƣơng mại đƣợc giải quyết bằng
phƣơng thức này. Nhà nƣớc khuyến khích áp dụng phƣơng thức tự thƣơng lƣợng để
giải quyết tranh chấp trên tinh thần hoàn toàn tôn trọng quyền thỏa thuận của các

- 11 -


bên [21, tr.5].
 Hòa giải
Là việc các bên tiến hành thƣơng lƣợng giải quyết tranh chấp với sự hỗ trợ
của bên thứ ba là hòa giải viên. Kết quả hòa giải phụ thuộc vào thiện chí của các
bên tranh chấp và uy tín, kinh nghiệm, kỹ năng của trung gian hòa giải, quyết định
cuối cùng của việc giải quyết tranh chấp không phải của trung gian hòa giải mà
hoàn toàn phụ thuộc các bên tranh chấp [21, tr.6].
 Trọng tài
Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp
không thể thiếu trong nền kinh tế thị trƣờng và ngày càng đƣợc các nhà kinh doanh
ƣa chuộng. Đó là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của Hội đồng
Trọng tài hoặc trọng tài viên với tƣ cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu
thuẫn tranh chấp bằng việc đƣa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các bên phải thi
hành [21, tr.7].
 Tòa án
Giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng Tòa án là hình thức giải quyết tranh
chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nƣớc, nhân danh quyền lực Nhà
nƣớc để đƣa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh
cƣỡng chế. Trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh doanh, Tòa án phải tuân
theo một trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định, cụ thể đó là những
nguyên tắc cơ bản; trình tự, thủ tục khởi kiện; trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc tại
Tòa án, thi hành bản án, quyết định của Tòa án; quyền và nghĩa vụ của những ngƣời
tiến hành tố tụng, ngƣời tham gia tố tụng cũng nhƣ của những cơ quan, tổ chức, cá

ở sự tự do, tự nguyện và bình đẳng. Vậy nên, trong giải quyết tranh chấp KDTM, sự
tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các
bên, về phƣơng thức, thời hạn, thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp là vô cùng
quan trọng (trừ một số ràng buộc pháp lý bắt buộc các bên trong tranh chấp và chủ
thể giải quyết tranh chấp phải tuân thủ) [14, tr.8].
- Thứ ba, việc giải quyết tranh chấp phải giữ được uy tín, bí mật kinh doanh.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, không bên nào đƣợc đƣa ra bất kỳ một thông

- 13 -


tin nào ngoài phạm vi giải quyết tranh chấp nhằm hạ uy tín hay ảnh hƣởng tiêu cực
đến hình ảnh của đối phƣơng trên thƣơng trƣờng, trƣớc công luận, hay trƣớc tổ
chức giải quyết tranh chấp. Mặt khác, giải quyết tranh chấp phải bảo đảm các yếu tố
bí mật trong kinh doanh. Trong hoạt động kinh doanh để có đƣợc thành công thì các
chủ thể đều có những bí quyết riêng của mình, vì vậy họ không muốn đề ngƣời khác
biết. Khi mà quyền kinh doanh đƣợc coi là hợp pháp thì quyền giữ bí mật trong
kinh doanh cũng đƣợc pháp luật bảo hộ [14, tr.9].
- Thứ tư, có thể khôi phục và duy trì các quan hệ làm ăn lâu dài. Tranh chấp
KDTM thƣờng xảy ra giữa các đối tác, các bạn hàng của nhau và đa phần là các đối
tác chiến lƣợc, bạn hàng lâu năm hay các chủ thể kinh doanh uy tín của họ trên
thƣơng trƣờng. Nên mặc dù giữa các bên có tranh chấp về mặt lợi ích, nhƣng họ vẫn
muốn hợp tác lâu dài với nhau, ràng buộc, nƣơng tựa lẫn nhau. Vậy nên sau khi
tranh chấp đƣợc giải quyết, có thể hàn gắn, khôi phục lại quan hệ làm ăn với nhau
[14, tr.9].
- Thứ năm, giải quyết được tranh chấp với chi phí thấp nhất về tiền bạc và
thời gian. Chi phí để bỏ ra giải quyết tranh chấp cũng là chi phí kinh doanh, vì vậy
khi phát sinh tranh chấp là nảy sinh thêm chi phí. Đặt ra yêu cầu phải hạn chế ở
mức thấp nhất các chi phí không mang lại hiệu quả kinh doanh này. Các bên nên lựa
chọn giải quyết với chi phí thấp nhất, đồng thời các cơ quan giải quyết tranh chấp

làm chứng không đến thì Hội đồng Trọng tài có quyền đề nghị Toà án có thẩm
quyền triệu tập ngƣời làm chứng đến phiên họp theo quy định của BLTTDS.
- Về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Theo Luật TTTM thì Hội đồng Trọng tài có quyền áp dụng BPKCTT khi có
một hoặc các bên đƣơng sự yêu cầu. Tuy nhiên, cần lƣu ý rằng Hội đồng Trọng tài
chỉ có quyền ra quyết định áp dụng một số BKCTT đƣợc liệt kê tại Điều 49 của
Luật TTTM và Hội đồng Trọng tài chỉ có thể ra quyết định áp dụng BPKCTT sau
khi Hội đồng Trọng tài đã thành lập. Các trƣờng hợp khác do Tòa án thực hiện. Vì
vậy, khi yêu cầu áp dụng BPKCTT, các bên cần lƣu ý để gửi đơn yêu cầu tới đúng

- 15 -


cơ quan có thẩm quyền. Trên thực tế, Luật TTTM đã dự liệu và phân định phạm vi
thẩm quyền áp dụng BPKCTT giữa Hội đồng Trọng tài vàTòa án nhằm tránh tình
trạng xung đột về thẩm quyền, nhƣng vẫn đảm bảo nguyên tắc trong mọi trƣờng
hợp các bên đều có thể làm đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình. Nguyên tắc của Luật là nếu Hội đồng Trọng tài đã áp dụng
BPKCTT thìTòa án sẽ từ chối, trừ trƣờng hợp những nội dung không thuộc thẩm
quyền của Hội đồng Trọng tài. Nếu Tòa án đã áp dụng BPKCTT thì Hội đồng
Trọng tài phải từ chối.
- Đăng ký phán quyết Trọng tài vụ việc
Ðây là quy định mới với Pháp lênh Trọng tài thƣơng mại năm 2003. Theo
Điều 62 Luật TTTM, Toà án nơi Hội đồng Trọng tài vụ việc giải quyết tranh chấp
có trách nhiệm đăng ký phán quyết Trọng tài vụ việc khi có yêu cầu một hoặc các
bên tranh chấp.
- Huỷ phán quyết Trọng tài
Toà án nơi Hội đồng Trọng tài đã ra phán quyết có thẩm quyền xem xét để
huỷ phán quyết Trọng tài theo quy định tại khoản 2 Ðiều 69 của Luật TTTM khi có
một hoặc các bên tranh chấp yêu cầu.

chấp KDTM đã đƣợc giải quyết trên Tổng số các tranh chấp KDTM màTòa án thụ
lý giải quyết hoặc (ii): Thời gian trung bình để giải quyết một vụ tranh chấp KDTM.
Hai tiêu chí này thực chất là một. Thời gian trung bình giải quyết một vụ tranh chấp
KDTM càng ngắn thì cũng có nghĩa tổng số các vụ tranh chấp KDTM sẽ đƣợc giải
quyết trong một đơn vị thời gian càng nhiều và ngƣợc lại.
Thông thƣờng, mỗi năm, ngành Tòa án Việt Nam đều có những báo cáo tổng
kết trong đó thống kê số lƣợng các vụ án KDTM đã đƣợc giải quyết và tổng số các
vụ án đã đƣợc thụ lý. Từ đó cho thấy một bức tranh tổng quát về tình hình giải
quyết tranh chấp trong một năm và hiệu quả làm việc của các Tòa án. Nếu chỉ dựa
theo chỉ tiêu số lƣợng thì hiệu quả càng cao khi số lƣợng đầu ra càng lớn, thời gian
trung bình giải quyết một vụ việc càng ngắn và ngƣợc lại. Tuy nhiên, chỉ tiêu số
lƣợng có một điểm yếu là phản ánh không đầy đủ đƣợc thực chất của sản phẩm. Có
thể Tòa án trong một năm giải quyết đƣợc rất nhiều các vụ tranh chấp KDTM
nhƣng các phƣơng án giải quyết hoặc không thể thi hành hoặc các bên không tìm
- 17 -



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status