Hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại từ thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân tại tỉnh gia lai - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

THỦY SƠN HÒA

HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG
MẠI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

THỦY SƠN HÒA

HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI TỈNH GIA LAI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 838.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


2.1. Các quy định của pháp luật hiện hành về hòa giải trong giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án................................................. 24
2.2. Thực trạng thi hành pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại ở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai ................................ 39
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH
DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THI HÀNH Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI ............................. 61
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án .......................................................... 61
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án .......................................................... 63


3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật hòa giải
trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân
tỉnh Gia Lai...................................................................................................... 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS

: Bộ luật Dân sự

BLTTDS

: Bộ luật Tố tụng dân sự


: Quyền lợi nghĩa vụ liên quan

TAND

: Tòa án nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình thụ lý và giải quyết các vụ án KDTM tại Tòa án nhân dân
tỉnh Gia Lai các năm 2015, 2016, 2017 .......................................................... 42
Bảng 2.2: Tình hình thụ lý và giải quyết các vụ án KDTM tại 17 Tòa án nhân
dân cấp huyện của tỉnh Gia Lai các năm 2015, 2016, 2017 ........................... 42
Bảng 2.3: Tình hình thụ lý và giải quyết các vụ án KDTM tại Tòa án nhân dân
thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai các năm 2015, 2016, 2017 ............................. 43


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống ngày càng được nâng cao. Để
thỏa mãn các nhu cầu cơ bản hàng ngày, các quan hệ mua bán hàng hóa phát
triển theo chiều rộng và chiều sâu với một tốc độ nhanh chóng với đa dạng về
chủ thể và sự phức tạp của nội dung quan hệ. Tranh chấp kinh doanh thương
mại (KDTM) xảy ra là hệ quả tất yếu của quá trình này và cũng trở nên phong
phú hơn về chủng loại, gay gắt, phức tạp hơn về tính chất và mức độ. Do vậy,
yêu cầu phải áp dụng các hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp phù
hợp, có hiệu quả là một đòi hỏi khách quan để bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp của các chủ thể kinh tế, bảo đảm nguyên tắc pháp chế, thông qua đó
góp phần tạo lập môi trường pháp lý lành mạnh để thúc đẩy quá trình phát
triển kinh tế - xã hội.

trong giải quyết tranh chấp KDTM ở một số Tòa án chưa thực sự linh hoạt,
còn cứng nhắc, điều này dẫn đến việc giải quyết tranh chấp KDTM bằng hòa
giải ở Tòa án chưa thực sự phát huy hết vai trò và ý nghĩa của mình. Chính vì
vậy, tác giả chọn đề tài “Hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Gia Lai” làm đề
tài Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn xét xử của Tòa
án là một vấn đề thu hút sự quan tâm của không ít các nhà nghiên cứu và
những người làm công tác thực tiễn. Song, cách tiếp cận được thực hiện ở các
mức độ khác nhau. Có thể giới thiệu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
như:
Võ Hương Giang (2015), Pháp luật điều chỉnh hoạt động hòa giải tư
2


pháp trong giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Cung Mỹ Anh (2008), Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự - Những vướng mắc và giải pháp
khắc phục, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Nguyễn Thị An Na (2010), Hòa giải – Phương thức giải quyết tranh
chấp thương mại ngoài tố tụng tư pháp, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội.
Ngô Thị An (2012), Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại
ngoài thủ tục tố tụng tư pháp, thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Lê Thị Tâm (2014), So sách phương thức hòa giải với thủ tục hòa giải
trong giải quyết tranh chấp kinh tế tại Tòa án, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội.

các vấn đề, các khía cạnh còn bỏ ngỏ, phân tích, so sánh giữa hai phương thức
hòa giải trong và ngoài tố tụng và cập nhật các quy định mới liên quan đến
vấn đề này. Thông qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, tác
giả đưa ra những nhận xét điểm chưa hợp lý của các quy định pháp luật, đề
xuất những phương hướng giải quyết những điểm chưa hợp lý đó, làm tư liệu
tham khảo cho quá trình hoàn thiện luật về sau. Ngoài ra, việc nghiên cứu
thực tiễn tại Tòa án, tác giả chỉ ra những mặt đạt được và hạn chế còn tồn tại
của công tác xét xử, thông qua các báo cáo thống kê, các vụ việc cụ thể. Từ
đó, góp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn
của Đề tài dưới góc độ khoa học pháp lý.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn
4


đề lý luận về hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án; đánh giá
thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án ở Việt Nam
và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, luận văn đề xuất một
số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt
động của hệ thống Tòa án nhân dân nói chung và Tòa án nhân dân tỉnh Gia
Lai nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về hòa giải trong giải quyết tranh chấp
KDTM tại Tòa án như: Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại; hòa
giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án, khái niệm và phân loại hòa
giải trong giải quyết tranh chấp KDTM, đặc điểm của hòa giải tranh chấp
KDTM tại Tòa án, ý nghĩa và vai trò của hòa giải trong giải quyết tranh chấp
KDTM tại Tòa án.
- Đánh giá thực trạng quy định của pháp luật hiện hành về hòa giải

dân sự nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: Phương pháp phân loại pháp
lý, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp và phương pháp so sánh
pháp luật được dùng chủ yếu để nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan.
Phương pháp phân tích quy phạm và phân tích tình huống được sử dụng chủ
yếu để nghiên cứu thực trạng pháp luật liên quan. Phương pháp quy nạp và
phương pháp xây dựng mô hình chủ yếu dùng để đưa ra các giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn cũng đánh giá tình hình và từ
đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc áp
dụng quy định hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án nhân
dân tỉnh Gia Lai.
6


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ khái niệm, phạm vi, trình tự tiến hành
và ý nghĩa của hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra được các giải pháp kiến nghị để
hoàn thiện quy định của pháp luật và khắc phục hạn chế trong thực tế về việc
tiến hành hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM, góp phần nâng cao hiệu
quả công tác xét xử vụ án dân sự nói chung, xét xử vụ án KDTM nói riêng
của hệ thống Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Các kiến nghị của luận văn có thể được dùng để nghiên cứu, xem xét
áp dụng khi sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

là tranh chấp về KDTM hoặc tranh chấp trong KDTM. Như vậy, trước khi
làm rõ khái niệm “tranh chấp KDTM”, cần làm rõ khái niệm “tranh chấp” và
khái niệm “kinh doanh – thương mại”.
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, “tranh chấp” được hiểu là “đấu
tranh, giằng co khi có những mâu thuẫn, bất đồng thường là trong vấn đề
quyền lợi giữa hai bên”.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2005 và LDN năm
2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015, thay thế LDN năm 2005 đều
quy định: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các
8


công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung
ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”[11], [12].
Tại khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại (LTM) năm 1997 định nghĩa:
“Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại
của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương
mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc
nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội”. Trong khi đó, “hành vi
thương mại” là “hành vi của thương nhân trong hoạt động thương mại làm
phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa
thương nhân với các bên có liên quan”[13]. LTM năm 2005, có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 01/01/2006, thay thế LTM năm 1997, định nghĩa một cách
ngắn gọn hơn: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi,
bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và
các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”[14].
Với các cách định nghĩa như trên, hoạt động kinh doanh và hoạt động
thương mại, có nhiều nội dung trùng nhau như về mục đích sinh lợi, về đầu
tư, về cung ứng dịch vụ, về tiêu thụ sản phẩm, v.v… Như vậy, về bản chất thì
hoạt động kinh doanh hay hoạt động thương mại đều nhằm mục đích sinh lợi.

BLTTDS đã dung hòa các tranh chấp kinh doanh và tranh chấp thương
mại bằng cách gọi chung là tranh chấp KDTM. Tại Điều 30 BLTTDS 2015 đã
liệt kê những tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án gồm
05 nhóm: “1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại
giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi
nhuận; 2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá
nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; 3. Tranh chấp giữa
1. Điều 12 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1994.

10


người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng
phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; 4. Tranh chấp giữa công ty với
các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong
công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc,
tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với
nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất,
chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của
công ty; 5. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp
thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của
pháp luật”.
Hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm rõ ràng quy định thế nào là tranh
chấp KTDM mà chỉ ở quan điểm tiếp cận của một số tác giả thông qua pháp
luật nội dung và tố tụng.
Như vậy, có thể nói tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất đồng
giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động thực hiện liên tục một, một số hoặc
toàn bộ quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng các dịch
vụ trên thị trường, xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lợi khác. Một
cách ngắn gọn hơn, có thể định nghĩa khái niệm về tranh chấp KDTM như

của các chủ thể tham gia trong hoạt động KDTM. Quyền và nghĩa vụ giữa
các bên phát sinh trước, trong và sau khi các bên cùng tham gia thỏa thuận
với nhau trong hoạt động KDTM. Khi một trong hai bên không thực hiện
những nghĩa vụ của mình tương ứng với quyền lợi của bên kia thì phát sinh
tranh chấp.
Thứ ba, nội dung các tranh chấp KDTM luôn là những mâu thuẫn về
lợi ích kinh tế, tài sản, nảy sinh gắn liền với hoạt động KDTM. Điều đó là do
mục đích cơ bản của mọi hoạt động KDTM là sinh lợi và đối tượng để đầu tư,
kinh doanh cũng như mục đích mà những người tham gia hoạt động KDTM
12


nhằm đạt được sau quá trình đầu tư, kinh doanh này đều là tài sản. Hoạt động
KDTM vốn rất đa dạng, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật và yếu tố
riêng của thị trường, chẳng hạn như quy luật cung cầu, sự biến đổi quy luật
của giá cả, v.v… Những tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM cũng vì
thế mà có những biến đổi về biểu hiện, mức độ, từ đó nảy sinh các tranh chấp
và đòi hỏi cách thức giải quyết tranh chấp đó giữa các bên.
1.2. Hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
tại Tòa án
1.2.1. Khái niệm hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại tại Tòa án
Giải quyết tranh chấp KDTM là việc các bên tranh chấp thông qua hình
thức, thủ tục thích hợp, tiến hành các giải pháp nhằm loại bỏ những mâu
thuẫn, xung đột, bất đồng về lợi ích kinh tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
chính đáng của mình.
Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp KDTM nói chung dựa
trên nguyên tắc quan trọng là quyền tự định đoạt của các bên. Theo đó, các
bên có thể lựa chọn việc giải quyết tranh chấp KDTM thông qua các phương
thức mang tính tài phán (Trọng tài thương mại, Tòa án) hoặc không mang tính

hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ” [27]. Từ điển pháp lý của Rothenberg
định nghĩa hòa giải là “hành vi thỏa hiệp giữa các bên sau khi có tranh chấp,
mỗi bên nhượng bộ một ít”. Theo từ điển Tiếng Việt, “hòa giải” là “hành vi
thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn
thoả”.
Như vậy, có thể hiểu, “hòa giải” là việc giải quyết các tranh chấp, bất
đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương
lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba (không phải là bên tranh chấp).
2. Điều 1 Luật Mẫu của UNCITRAL.

14


Bên thứ ba đóng vai trò trung gian, hoàn toàn độc lập với hai bên, không có
quyền áp đặt, thiên vị, hay hành động như một người môi giới, mà giúp hai
bên ngồi lại với nhau và tìm cách đưa các bên tranh chấp thỏa thuận được với
nhau những mâu thuẫn phát sinh.
Từ khái niệm tranh chấp KDTM đã nêu ở phần 1.1.1 và khái niệm về
hòa giải, có thể đưa ra khái niệm về hòa giải trong tranh chấp KDTM: “Hòa
giải trong tranh chấp KDTM là một phương thức giải quyết tranh chấp với sự
giúp đỡ của một bên thứ ba trung lập, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa
thuận giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và
nghĩa vụ giữa các chủ thể phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động
KDTM, phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội”.
Phương thức giải quyết tranh chấp KDTM bằng hòa giải chia thành:
Hòa giải ngoài tố tụng và hòa giải trong tố tụng.
Hòa giải ngoài tố tụng thường do các tổ chức Trọng tài thương mại
thực hiện hoặc một bên thứ ba làm trung gian hòa giải theo yêu cầu của các
bên tranh chấp (thông qua Hòa giải viên thương mại). Việc lựa chọn phương
thức này giúp các bên chủ động trong việc lựa chọn Hòa giải viên; địa điểm,

bất kỳ hình thức nào để cưỡng ép, bắt buộc các đương sự phải hòa giải với
nhau, sự thỏa thuận của chính các đương sự là đặc trưng cơ bản của hòa giải,
đồng thời cũng là điểm khác biệt giữa hòa giải và xét xử. Khi xét xử, Tòa án
sẽ ra phán quyết và đương sự phải tuân thủ nghiêm chỉnh mọi phán quyết của
Tòa án. Trong hòa giải, Tòa án chỉ có vai trò trung gian giúp đỡ các bên tranh
chấp thỏa thuận với nhau mà không được can thiệp vào thỏa thuận đó.
Thứ hai, hòa giải tranh chấp KDTM là hoạt động do Tòa án tiến hành.
Trong hoạt động hòa giải, Tòa án xuất hiện không phải với tư cách một bên
tham gia hòa giải mà là người tổ chức, bố trí cho các đương sự thương lượng,
thỏa thuận với nhau. Với vai trò của mình, Tòa án giải thích cho các bên hiểu
16


được quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Kết quả hòa giải do Tòa án
tiến hành là những văn bản có tính chất pháp lý (biên bản hòa giải thành hoặc
không thành), là cơ sở để tiếp tục các hành vi tố tụng tiếp theo.
Thứ ba, hòa giải là một nguyên tắc trong quá trình giải quyết các tranh
chấp KDTM. Hòa giải được pháp luật tố tụng dân sự quy định thuộc trách
nhiệm của Tòa án, được Tòa án thực hiện trong quá trình giải quyết tranh
chấp, nhằm đảm bảo cho đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình.
Thứ tư, hòa giải tranh chấp KDTM tại Tòa án phải tuân thủ nghiêm
ngặt về trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ do pháp luật quy định. Căn cứ vào
các quy định của pháp luật, Tòa án tiến hành hòa giải tranh chấp, phán quyết
của Tòa án nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành
bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
1.2.3. Vai trò, ý nghĩa của hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại tại Tòa án
Hòa giải không chỉ đóng vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với các bên
tranh chấp nói riêng mà còn có vai trò, ý nghĩa với Tòa án, với xã hội nói
chung.

nghĩa rất quan trọng trong việc tăng cường uy tín của cơ quan tư pháp của
Nhà nước nói chung.
Đối với xã hội: Thông qua việc tiến hành hòa giải, nhiều tranh chấp
được giải quyết trên ý chí tự nguyện, thỏa thuận giữa các bên, trong trường
hợp hòa giải không thành, cũng giúp các bên hiểu rõ được nội dung mâu
thuẫn, tranh chấp xảy ra, giúp hạn chế được mâu thuẫn phát sinh trong quá
trình giải quyết tranh chấp. Vì vậy, hòa giải một phần nào giúp giữ gìn an
ninh, trật tự, công bằng cho xã hội trên tinh thần thiện chí, tự nguyện, không
trái với các quy định của pháp luật, đạo đức của xã hội. Đồng thời, hòa giải
góp phần nâng cao ý thức pháp luật của mọi người trong xã hội, góp phần xây
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status