VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ HÙNG CƯỜNG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN LÀ
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN
TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ L
LUẬN VỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN ...........................................................................8
1.1. Lý luận chung về tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng
ly hôn ................................................................................................................................ 8
1.2. Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử
dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại Tòa án ................................................................... 18
Chương 2. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN
LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN TẠI TÒA ÁN
BLTTDS
: Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự
GCN QSDĐ
: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
HN&GĐ
: Hôn nhân và gia đình
QSDĐ
: Quyền sử dụng đất.
TAND
: Tòa án nhân dân
TANDTC
: Tòa án nhân dân Tối cao
UBND
: Ủy ban nhân dân
MỞ ĐẦU
1
tranh chấp về tài sản tăng lên, giá trị tài sản tranh chấp ngày càng lớn tạo ra rất
nhiều khó khăn và áp lực cho cơ quan tiến hành tố tụng. Một trong những vấn đề
người ta quan tâm nhất, không chỉ những cặp vợ chồng ly hôn mà hầu hết mỗi
người trong xã hội đó là vấn đề tranh chấp đất đai. Giá trị “tấc đất tấc vàng” càng
khiến cho người ta quan tâm hơn. Việc chấm dứt hôn nhân đa phần sẽ kéo theo
những vướng mắc của việc chia QSDĐ
Những năm gần đây, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường nên đời
sống xã hội cũng như kinh tế của người dân ngày càng được đảm bảo và nâng cao.
Song mặt trái của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến nhiều người sống buông thả, coi
trọng vật chất, tình cảm giữa mọi người với nhau không còn mặn mà, được coi
trọng như trước. Giá trị tài sản lớn và sự coi trọng vật chất làm cho những tranh
chấp về tài sản giữa vợ và chồng trong các vụ án ly hôn có tính quyết liệt, căng
thẳng hơn, nên việc giải quyết cũng gặp nhiều khó khăn.
Là một huyện có mức sống trung bình so với cả nước song Côn Đảo cũng
chịu sự ảnh hưởng chung của xã hội. Những năm gần đây, số lượng các vụ tranh
chấp về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng tăng nhanh về số lượng, phức tạp về
nội dung, nhiều vụ tranh chấp rất gay gắt, khiếu nại kéo dài gây nhiều khó khăn cho
các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như những người tham gia tố tụng. Hầu hết các
vụ án đều được giải quyết trong thời hạn luật định, thấu tình đạt lý, khách quan,
được sự đồng tình của người dân. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết vấn đề tài sản khi
ly hôn trong các vụ án hôn nhân gia đình còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập do có
nhiều quan điểm nhận thức, đánh giá khác nhau nên vẫn còn một số vụ án bị cấp
trên cải sửa, hủy dẫn đến vụ án phải xét xử lại nhiều lần. Nguyên nhân thì có nhiều
nhưng phải kể đến các quy định của pháp luật còn chưa rõ ràng, một số quy định
còn chung chung, chưa có sự thống nhất từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và
cá nhân thực thi pháp luật liên quan đến giải quyết tài sản của vợ chồng trong vụ án
ly hôn.
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực
tiễn về tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại Toà án.
Trên cơ sở phân tích các quy định của, Luật đất đai 2013, Luật HN&GĐ năm
2014, Bộ luật dân sự năm 2015 cùng các văn bản pháp luật có liên quan để tìm hiểu
những quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp QSDĐ khi ly hôn của vợ
chồng. Đồng thời, từ thực tiễn giải quyết tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi vợ
chồng ly hôn tại TAND huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để đưa ra những
vướng mắc, bất cập của các quy định pháp luật trong quá trình áp dụng giải quyết
tranh chấp, từ đó kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về
vấn đề này.
4
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, nghiên cứu và chỉ ra những vấn đề lý luận về tranh chấp và giải
quyết tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn;
Thứ hai, phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp chia tài sản là QSDĐ khi
vợ chồng ly hôn tại Toà án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
Thứ ba, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp
về chia tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất, đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài “Giải quyết tranh chấp về chia tài sản là
quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn từ thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân
huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” là:
- Những quy định của pháp luật về tài sản chung của vợ chồng;
- Vấn đề tài sản là QSDĐ của vợ chồng;
- Vấn đề giải quyết tranh chấp về QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn.
Tìm hiểu nguyên nhân của những tranh chấp về QSDĐ của vợ chồng khi ly
iii) Phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn giải …
được sử dụng tại Chương 3 khi nghiên cứu giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả
thi hành pháp luật về chia quyền sử dụng đất khi ly hôn từ thực tiễn giải quyết tranh
chấp tại Tòa án nhân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
6.
nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn là một công trình nghiên cứu tương đối khoa học, đầy đủ và có
hệ thống về vấn đề liên quan đến việc giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng
khi ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 qua thực tiễn xét xử tại Toà
án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, đề tài còn tìm hiểu thực tiễn áp dụng
pháp luật thông qua hoạt động xét xử tại địa phương, đồng thời đề xuất một số biện
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật để giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn áp
dụng pháp luật, nâng cao hiệu quả xét xử của TAND huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
6
luận văn gồm ba Chương:
- Chương 1. Những vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp tài
sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn.
- Chương 2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp tài sản là quyền sử dụng đất khi
vợ chồng ly hôn tại tòa án nhân dân huyện Côn Đảo và các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động xét xử của tòa án về tranh chấp tài sản khi vợ chồng ly hôn.
- Chương 3. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh
chấp về tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn.
kế thừa và phát triển Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 33 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: " 1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài
sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa
lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn
8
nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà
vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ
chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau
khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa
kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo
đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. 3. Trong trường
hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài
sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."
Có thể thấy, tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra do lao
động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu thập hợp pháp khác của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho
chung và những tài sản vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung, quyền sử dụng đất của
vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Khác với tài sản
chung đơn thuần, tài sản chung vợ, chồng có nguồn gốc tạo ra từ thời kỳ hôn nhân,
có thể là do vợ, chồng lao động tạo ra hoặc từ những hành vi pháp lý diễn ra trong
thời kỳ hôn nhân (thỏa thuận tài sản riêng trở thành tài sản chung, thừa kế, tặng
cho...).
Từ quy định này có thể thấy, ngoài việc dự liệu căn cứ, nguồn gốc, thành
phần các loại tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, tại khoản 3, Điều 33 nhà
làm luật còn đưa ra nguyên tắc suy đoán để xác định đối với những tài sản mà vợ
chồng có tranh chấp nhưng các bên không đưa ra được căn cứ chứng minh cho việc
sắm được từ những thu nhập hợp pháp đều thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ
chồng mà không phụ thuộc vào công sức đóng góp của vợ chồng ít hay nhiều, có
lao động trực tiếp hay không. Quan điểm này đã được cha ông ta ghi nhận qua câu
nói “Của chồng công vợ”, tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết do hai vợ
chồng trực tiếp tạo ra hoặc tạo ra ngang bằng nhau. Tài sản chung có thể chỉ do vợ,
hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. Quy định này thể hiện sự gắn kết “Như
hai mà một” của quan hệ hôn nhân... Đây là điểm khác biệt của tài sản chung vợ
chồng so với các tài sản chung theo phần khác.
Tính hợp nhất trong việc sở hữu tài sản chung của vợ chồng còn được thể
hiện khi vợ, chồng chưa phân chia tài sản thì không xác định được tỷ lệ tài sản của
mỗi người. Khi hai bên thỏa thuận phân chia xong hoặc có quyết định phân chia của
Tòa án thì phần tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung mới được xác định.
10
Đây là điểm khác biệt đặc trưng của tài sản chung vợ, chồng so với các tài sản
chung theo phần.
Mặc khác, pháp luật còn quy định quyền và nghĩa vụ ngang nhau của vợ
chồng đối với việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản chung và mục đích
của việc sử dụng tài sản chung là nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình, đảm
bảo cho vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình và lao động tạo ra tài sản vì lợi ích
chung của gia đình. Có thể thấy, những quy định này là phù hợp với quan điểm,
truyền thống đạo đức của Việt Nam cũng như định hướng xây dựng mối quan hệ vợ
chồng bền vững của Đảng và Nhà nước ta.
Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa tài sản chung của vợ chồng là
những tài sản được hình thành hoặc tạo ra phù hợp với những căn cứ xác lập tài sản
chung vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
1.1.2. Khái niệm tài sản chung là QSDĐ của vợ chồng trong hôn nhân
Như ở phần trên đã phân tích, quyền tài sản cũng là một loại tài sản. Do đó,
đất chung của vợ chồng bao gồm:
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng mua bằng thu nhập do lao động, hoạt động
sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân.
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho
chung.
- Quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc mỗi bên vợ hoặc chồng được
Nhà nước giao, kể cả giao khoán sau khi kết hôn;
- Quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc chỉ một bên vợ hoặc chồng
được Nhà nước cho thuê sau khi kết hôn;
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
- Quyền sử dụng đất mà các bên không chứng minh được đó là tài sản riêng
Với cách xác định trên về tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ cho thấy,
nguồn gốc mà QSDĐ được xác định là tài sản chung của vợ chồng trước tiên phải là
tài sản đó được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. Sự kiện kết hôn làm phát sinh mối
quan hệ vợ chồng không chỉ dưới khía cạnh tình cảm, mà còn ở khía cạnh pháp lý
ràng buộc về quyền và nghĩa vụ lẫn nhau trong mọi mối quan hệ của đời sống xã
hội. Trong đó, dưới khía cạnh kinh tế, các tài sản - trong đó có QSDĐ được cả hai
vợ chồng cùng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân hoặc được nhận thừa kế, tặng cho
chung thì chúng là của chung của cả vợ và chồng, mọi giấy tờ pháp lý đối với tài
12
sản đó phải được xác nhận của vợ chồng. Điều đó cũng đồng nghĩa rằng, mọi sự
định đoạt đối với tài sản là QSDĐ chung đó trong tất cả các quan hệ dân sự, kinh tế,
xã hội đều phải được sự đồng ý, thống nhất ý chí của cả vợ và chồng. Bên cạnh đó,
theo xu hướng mở, pháp luật còn ghi nhận kể cả những QSDĐ có được từ những
giao dịch riêng của vợ hoặc chồng, do được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời
kỳ hôn nhân, hoặc QSDĐ của vợ hoặc chồng có trước thời kỳ hôn nhân về nguyên
Đó là các mâu thuẫn, xung đột giữa các chủ thể sử dụng đất khi họ cho rằng các
quyền và lợi ích hợp pháp về quyền sử dụng đất của mình bị xâm hại” [7, tr.341342]. Tương tự, Giáo trình Luật Đất đai của Viện Đại học Mở Hà Nội cũng giải
thích: “Tranh chấp đất đai là các mâu thuẫn, xung đột giữa các chủ thể sử dụng đất
khi họ cho rằng, các quyền và lợi ích hợp pháp về quyền sử dụng đất của mình bị
xâm hại” [9, tr. 271]. Theo Luật Đất đai năm 2013: “Tranh chấp đất đai là tranh
chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong
quan hệ đất đai” [26, Khoản 24 Điều 3].
Từ nhiều cách tiếp cận trong các tài liệu khác nhau nêu trên song đều có
chung một nhận định rằng, tranh chấp đất đai trước tiên được thể hiện bằng hình
thức bề ngoài đó là những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng của hai hoặc nhiều bên
trong quan hệ đất đai. Ở khía cạnh nội dung, tranh chấp đó là tranh chấp về
quyền, lợi ích hoặc thậm chí là nghĩa vụ của các chủ thể đối với tài sản là quyền
sử dụng đất khi họ cho rằng, chủ thể bên kia đã xâm hại tới quyền và lợi ích hợp
pháp về quyền sử dụng đất hoặc việc không thực hiện mà lẽ ra phải thực hiện
nghĩa vụ đối với QSDĐ của một chủ thể làm tổn hại tới lợi ích, QSDĐ hợp pháp
của phía bên kia.
Tranh chấp về tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn cũng có những biểu hiện
của những bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về lợi ích liên quan đến đất đai của vợ
chồng song sự khác biệt đó là tranh chấp đó nảy sinh từ một sự kiện pháp lý là vợ
chồng ly hôn.
Trong thực tế, khi đã thiết lập mối quan hệ vợ chồng, cùng chung sống với
nhau xây dựng gia đình, chăm sóc con cái, điều các cặp vợ chồng luôn mong muốn
nhất đó là gia đình tồn tại bền vững, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ
chồng, khó tránh khỏi những mâu thuẫn mà nếu vợ chồng không cùng giải quyết thì
sẽ dẫn đến những rạn nứt, đỗ vỡ có thể dẫn đến ly hôn. Ly hôn là mặt trái của hôn
nhân nhưng đó lại là mặt không thể thiếu khi hôn nhân tan vỡ. Khi đời sống vợ
chồng mâu thuẫn trầm trọng thì ly hôn là sự cần thiết cho cả hai, vì nó giải phóng
14
15
quan về đất đai khi quan hệ hôn nhân của họ chấm dứt và tranh chấp về QSDĐ đó
được Tòa án thụ lý và giải quyết”.
1.1.4. Phân loại tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất hi vợ
chồng ly hôn
Phân loại tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn có ý nghĩa
vô cùng quan trọng, giúp xác định nguồn gốc, cách thức hình thành tài sản là
QSDĐ, từ đó có cái nhìn đúng đắn về bản chất của vụ tranh chấp. Trong thực tiễn
công tác tại Tòa án, thụ lý và trực tiếp tham gia công tác xét xử tại Tòa với tư cách
là thư ký Tòa án, cũng như trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu các hồ sơ vụ việc,
tôi nhận thấy, tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ có thể chia thành các loại sau đây:
- Quyền sử dụng đất tạo lập trước thời kỳ hôn nhân nhưng là tài sản chung
của vợ chồng: Đây là tranh chấp xảy ra khi một trong hai bên vợ hoặc chồng đã xác
lập quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất trước khi kết hôn. Tuy nhiên, trong quá
trình chung sống, khối tài sản riêng này do các sự kiện khác nhau dẫn đến một bên
coi tài sản này đã được bên kia nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng trong khi
bên còn lại cho rằng đó vẫn là tài sản riêng của mình. Điều này dẫn đến mâu thuẫn
nảy sinh và phát sinh tranh chấp khi phân chia tài sản chung khi ly hôn.
- Tranh chấp về việc ai được tiếp tục đứng tên quyền sử dụng đất là tài sản
chung của vợ chồng: Đây là tranh chấp khá phổ biến, do trên thực tế quyền sử dụng
đất là một tài sản có giá trị lớn tuy nhiên lại rất khó phân chia bằng hiện vật, hay
được hiểu là một trong hai bên sẽ không được quyền tiếp tục sở hữu mà chỉ được
hưởng phần giá trị của tài sản. Việc xuất hiện mâu thuẫn này có nhiều nguyên nhân
như: khi phân chia sẽ làm giảm giá trị của tài sản; không được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mới do không đáp ứng đủ điều kiện về diện tích được cấp giấy
chứng nhận hoặc nhằm bảo đảm cuộc sống ổn định bình thường của các thành viên
trong gia đình... Đa phần, các bên đều muốn được tiếp tục trở thành chủ sở hữu
trên đất đó.
- Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất không cùng chủ sở hữu và sử dụng
hợp pháp của vợ và chồng trong hôn nhân. Đây là tranh chấp có nguyên nhân phát
sinh do trong thời kỳ hôn nhân, vợ hoặc chồng đã thực hiện chuyển nhượng quyền
sử dụng đất cho người thứ ba nhưng không có sự đồng ý của phía bên kia nên khi ly
hôn tiến hành phân chia quyền sử dụng đất là tài sản chung đã bị chuyển nhượng sẽ
nảy sinh tranh chấp giữa vợ chồng. Đặc điểm của tranh chấp này là quyền sử dụng
17
đất vẫn còn đứng tên vợ và chồng mà đã bị chuyển nhượng cho người khác. Để giải
quyết tranh chấp này thông thường đòi hỏi tòa án phải xác minh tính hợp pháp của
việc chuyển nhượng, xác định lỗi của các bên, đồng thời xử lý tài sản một cách hợp
lý để bảo đảm quyền lợi của các bên bao gồm cả bên nhận chuyển nhượng.
- Tranh chấp QSDĐ khi vợ chồng ly hôn trong trường hợp người chồng có
quan hệ cùng một lúc với hai người phụ nữ, trong đó, người phụ nữ có đăng ký kết
hôn, một người không có đăng ký kết hôn song người chồng chủ yếu ở với người
không có đăng ký kết hôn, tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở cũng được tạo lập với
người phụ nữ không có đăng ký. Nay tranh chấp giữa người vợ chính thức với
người chồng về khối tài sản đã tạo lập cùng người phụ nữ không chính thức.
Đây là những trường hợp điển hình, xảy ra rất phổ biến trong đời sống và
trên thực tế rất khó khăn trong quá trình giải quyết bởi: Khi xảy ra tranh chấp, khó
có thể xác định tài sản đã được tặng cho con cái hay chưa (do không có bất kỳ văn
bản, giấy tờ nào thể hiện việc tặng cho trên thực tế); khó có thể xác định tài sản đã
được cấp giấy chứng nhận cho người con có thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp
của bố mẹ hay không hoặc khó có thể xác định tài sản đang tranh chấp là tài sản
chung hay tài sản riêng của vợ chồng...
1.2. Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp về chia tài sản là
quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại Tòa án
(nếu hòa giải không thành)… Các bước tố tụng này giúp Tòa án có thể xem xét,
đánh giá chứng cứ, cân nhắc kỹ, quyết định về tính hợp pháp, hợp lý trong lời khai,
chứng cứ do các bên đưa ra. Nếu đủ cơ sở pháp lý xác định tài sản tranh chấp là tài
sản chung của vợ chồng thì Tòa án căn cứ vào quy định của Luật hôn nhân và gia
đình và Luật đất đai hiện hành để giải quyết chia tài sản chung là quyền sử dụng đất
của vợ chồng.
Qua đây có thể thấy, giải quyết tranh chấp nói chung và giải quyết tranh chấp
về chia tài sản chung vợ chồng nói riêng là phương thức nhằm hóa giải bất đồng, mâu
thuẫn giữa các bên và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của vợ và chồng. Tuy nhiên, xét về
mặt học thuật, khái niệm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất là tài sản chung của
vợ chồng lại không được giải mã một cách chính thức và đầy đủ trong các văn bản
pháp luật đất đai. Tìm hiểu khái niệm giải quyết tranh chấp chia tài sản là quyền sử
dụng đất khi vợ chồng ly hôn trước tiên chúng ta cần xem xét thế nào là giải quyết
tranh chấp đất đai; bởi lẽ, giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất là tài sản chung
của vợ chồng cũng là một dạng cụ thể của giải quyết tranh chấp đất đai?
19
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Giải quyết: Làm cho trở nên tốt đẹp,
cho thuận lợi, thỏa đáng hơn” [43, tr.298].
Theo giáo trình Luật đất đai của Đại học Huế: “Giải quyết tranh chấp đất đai
trước hết là một nội dung quản lý nhà nước về đất đai, là hoạt động của các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn trong
nội bộ nhân dân, giữa nhân dân với tổ chức và giữa các tổ chức sử dụng đất với
nhau để qua đó phục hồi các quyền lợi bị xâm phạm; đồng thời truy cứu trách
nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật đất đai” [7, tr. 343].
Từ khái niệm về giải quyết tranh chấp đất đai nói chung, chúng ta có thể đưa
ra quan niệm về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ
chồng như sau: Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ
nhận và bảo vệ. Việc giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồng khi ly hôn cũng
được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận hợp lý của vợ chồng. Đây là
nguyên tắc thể hiện rõ nhất quyền tự do cam kết thỏa thuận của công dân, tôn trọng
ý chí tự nguyện, tự quyết định của các bên vợ, chồng trên cơ sở thỏa thuận không
trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Nếu thỏa thuận giải quyết về tài sản, các
bên có thể nêu tâm tư, nguyện vọng của mình và những khó khăn gặp phải sau khi
ly hôn. Từ đó, Thẩm phán hòa giải để các bên thống nhất với nhau trong việc phân
chia tài sản nhằm đảm bảo cuộc sống của mỗi bên cũng như quyền, lợi ích hợp pháp
của con chung sau khi ly hôn, nhất là các con chưa thành niên, con đã thành niên bị
mất năng lực hành vi dân sự.
Việc thỏa thuận thành công sẽ giảm được thời gian, công sức, tiền bạc của
các đương sự, đồng thời tăng tính đoàn kết, thống nhất, không khoét sâu vào mâu
thuẫn của đương sự vốn đã căng thẳng, tạo điều kiện cho việc thi hành án được dễ
dàng.
Hơn nữa, việc tạo điều kiện cho vợ chồng thỏa thuận giải quyết về tài sản
giúp các bên có cơ hội nêu lên tâm tư, nguyện vọng của mình, đảm bảo quyền lợi
hợp pháp của mỗi bên khi giải quyết tranh chấp. Nếu các bên không thỏa thuận
được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Thứ hai, đảm bảo sự bình đẳng về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng: Xuất
phát từ nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng được Luật hôn nhân và gia đình
thừa nhận, theo đó, vợ chồng được hưởng những quyền dân sự ngang nhau do pháp
luật quy định. Trên cơ sở đó, giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồng được
thực hiện theo nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia đôi. Tuy nhiên,
21