Giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn từ thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân huyện côn đảo, tỉnh bà rịa vũng tàu - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ HÙNG CƯỜNG

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN LÀ
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN
TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ HÙNG CƯỜNG

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN LÀ
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN
TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Chuyên ngành

: Luật kinh tế

Mã số

1.1. Lý luận chung về tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng
ly hôn ................................................................................................................................ 8
1.2. Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử
dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại Tòa án ................................................................... 18
Chương 2. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN
LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU ......................30
2.1. Tổng quan tình hình giải quyết tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất
khi vợ chồng ly hôn – thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu giai đoạn 2013 – 2016 ............................................................................. 30
2.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ
chồng ly hôn tại Tòa án ................................................................................................ 32
2.3. Một số hạn chế, vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp về
tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn và nguyên nhân ............................ 46
Chương 3. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN ..........................................................................61
3.1. Các yêu cầu đặt ra cần phải hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về chia tài sản là quyền sử
dụng đất khi vợ chồng ly hôn ...................................................................................... 61
3.2. Giải pháp hoàn thiện nội dung các quy định của pháp luật về phân chia
quyền sử dụng đất là tài sản chung vợ chồng khi ly hôn ......................................... 64


3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử
dụng đất của vợ chồng khi ly hôn trên địa bàn huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu ....................................................................................................................... 68
KẾT LUẬN .............................................................................................................75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................77



UBND

: Ủy ban nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay, gia đình luôn là tế bào của xã hội, là nơi những người có
quan hệ huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng cùng chung sống. Gia đình hòa thuận
và hạnh phúc sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững và phồn thịnh chung của xã
hội. Nhận thức được vị thế quan trọng của gia đình, Đảng và Nhà nước ta luôn quan
tâm, chú trọng đến việc xây dựng và giữ gìn gia đình êm ấm, hòa thuận, thể hiện ở
sự quan tâm đó là Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật về hôn nhân và gia đình góp phần giúp cho sự tồn tại và phát triển của gia đình
đi vào chuẩn mực, khuôn khổ, giúp tạo ra sự bền vững trong quan hệ gia đình.
Khi nam nữ kết hôn, cùng nhau xây dựng một gia đình thì sự bền vững của
quan hệ hôn nhân là mong muốn của những người vợ, người chồng, đây cũng là
mục đích của việc xây dựng gia đình mà pháp luật đặt ra. Tuy nhiên, trong nhiều
trường hợp, quan hệ hôn nhân do chịu sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và
khách quan, đã không giữ được ý nghĩa và giá trị như mong muốn ban đầu, cuộc
sống chung của vợ, chồng đã không còn hạnh phúc, nên pháp luật dự liệu khả năng
cho họ quyền được giải phóng khỏi quan hệ hôn nhân bằng việc ly hôn.
Thông thường, một vụ án hôn nhân gia đình cần giải quyết ba mối quan hệ
đó là quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung và quan hệ về tài sản. Quan hệ tài sản
giữa vợ, chồng là quan hệ tài sản gắn liền với nhân thân, tồn tại trong thời kỳ hôn
nhân, không có tính đền bù ngang giá nên khi xảy ra tranh chấp thì việc phân chia
tài sản chung vợ, chồng là tương đối khó khăn, phức tạp, gây nhiều tranh cãi trong
các vụ giải quyết ly hôn tại các cấp Tòa án. Thực tế đã cho thấy các tranh chấp về
tài sản giữa vợ và chồng trong các vụ án ly hôn rất phức tạp, thường kéo dài, mất
nhiều thời gian, tiền của, công sức của các đương sự cũng như của các cơ quan tiến

nhiều quan điểm nhận thức, đánh giá khác nhau nên vẫn còn một số vụ án bị cấp
trên cải sửa, hủy dẫn đến vụ án phải xét xử lại nhiều lần. Nguyên nhân thì có nhiều
nhưng phải kể đến các quy định của pháp luật còn chưa rõ ràng, một số quy định
còn chung chung, chưa có sự thống nhất từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và
cá nhân thực thi pháp luật liên quan đến giải quyết tài sản của vợ chồng trong vụ án
ly hôn.
Với đề tài: “Giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất khi
vợ chồng ly hôn từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu", tác giả muốn giải quyết phần nào những vướng mắc trên

2


nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất là tài sản của
vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ vai trò quan trọng của gia đình trong xã hội nên việc nghiên cứu
về các tranh chấp trong quan hệ hôn nhân và gia đình luôn được quan tâm và chú ý,
được nhiều nhà nghiên cứu và các học giả đề cập.
Một số tài liệu chuyên khảo về hôn nhân và gia đình như: Giáo trình Luật
HN&GĐ Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật HN&GĐ của
khoa luật, Trường Đại học Cần Thơcác giáo trình này đều đề cập đến các kiến thức
pháp lý cơ bản và khái quát về tài sản chung vợ chồng. Bên cạnh đó, các bài viết
liên quan đến tài sản chung của vợ chồng như “Chế độ tài sản chung vợ chồng theo
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Cừ; tác giả Đoàn Thị
Phương Diệp với “Nguyên tắc suy đoán tài sản chung trong Luật hôn nhân và gia
đình Việt Nam và Luật dân sự Pháp”; tác giả Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị Hường với
“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”. Bài
viết “Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với giao dịch dân sự”, tác giả Bùi
Thuỷ Nguyên - Tạp chí TAND xuất bản năm 2000. Nguyễn Thị Vĩnh - Luận văn

công trình nghiên cứu về sau. Kế thừa và phát huy những quan điểm pháp lý trong
các công trình nghiên cứu nêu trên, Luận văn “Giải quyết tranh chấp về chia tài sản
là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn từ thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân
huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” mang lại cái nhìn chi tiết hơn, sâu sắc hơn
từ thực tiễn giải quyết tranh chấp QSDĐ khi ly hôn tại một Toà án cụ thể.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực
tiễn về tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại Toà án.
Trên cơ sở phân tích các quy định của, Luật đất đai 2013, Luật HN&GĐ năm
2014, Bộ luật dân sự năm 2015 cùng các văn bản pháp luật có liên quan để tìm hiểu
những quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp QSDĐ khi ly hôn của vợ
chồng. Đồng thời, từ thực tiễn giải quyết tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi vợ
chồng ly hôn tại TAND huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để đưa ra những
vướng mắc, bất cập của các quy định pháp luật trong quá trình áp dụng giải quyết
tranh chấp, từ đó kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về
vấn đề này.

4


- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, nghiên cứu và chỉ ra những vấn đề lý luận về tranh chấp và giải
quyết tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn;
Thứ hai, phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp chia tài sản là QSDĐ khi
vợ chồng ly hôn tại Toà án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
Thứ ba, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp
về chia tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất, đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài “Giải quyết tranh chấp về chia tài sản là

được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật giải
quyết chia tài sản là quyền sử dụng đất khi ly hôn;
ii) Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê,
phương pháp tổng hợp số liệu ... được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu thực
trạng giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly
hôn tại Toà án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
iii) Phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn giải …
được sử dụng tại Chương 3 khi nghiên cứu giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả
thi hành pháp luật về chia quyền sử dụng đất khi ly hôn từ thực tiễn giải quyết tranh
chấp tại Tòa án nhân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
6.

nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn là một công trình nghiên cứu tương đối khoa học, đầy đủ và có
hệ thống về vấn đề liên quan đến việc giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng
khi ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 qua thực tiễn xét xử tại Toà
án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, đề tài còn tìm hiểu thực tiễn áp dụng
pháp luật thông qua hoạt động xét xử tại địa phương, đồng thời đề xuất một số biện
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật để giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn áp
dụng pháp luật, nâng cao hiệu quả xét xử của TAND huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của

6


luận văn gồm ba Chương:
- Chương 1. Những vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp tài

thuộc vào sự tồn tại của quan hệ hôn nhân và chấm dứt khi một trong hai vợ chồng
chết hoặc có bản án, quyết định của Tòa án cho vợ chồng ly hôn.
Do tính chất cộng đồng của hôn nhân và với vai trò là hạt nhân của gia đình
đòi hỏi giữa vợ và chồng phải có một lượng tài sản chung nhất định để bảo đảm các
chi phí cho cuộc sống chung và để thực hiện các chức năng xã hội cơ bản của gia
đình, đặc biệt trong việc chăm sóc giáo dục và bảo vệ các con. Dựa trên cơ sở đó,
kế thừa và phát triển Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 33 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: " 1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài
sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa
lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn

8


nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà
vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ
chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau
khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa
kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo
đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. 3. Trong trường
hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài
sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."
Có thể thấy, tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra do lao
động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu thập hợp pháp khác của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho
chung và những tài sản vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung, quyền sử dụng đất của
vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Khác với tài sản
chung đơn thuần, tài sản chung vợ, chồng có nguồn gốc tạo ra từ thời kỳ hôn nhân,
có thể là do vợ, chồng lao động tạo ra hoặc từ những hành vi pháp lý diễn ra trong

bên vợ chồng đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Việc xác định “thời kỳ
hôn nhân” có ý nghĩa vô cùng quan trọng để xác định đâu là tài sản chung của vợ
chồng.
Bên cạnh đó, Luật hôn nhân và gia đình đã xác định thời điểm hình thành và
nguồn gốc phát sinh tài sản chung của vợ chồng. Kể từ sau khi kết hôn, những tài
sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp của vợ chồng, tài sản mà vợ chồng mua
sắm được từ những thu nhập hợp pháp đều thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ
chồng mà không phụ thuộc vào công sức đóng góp của vợ chồng ít hay nhiều, có
lao động trực tiếp hay không. Quan điểm này đã được cha ông ta ghi nhận qua câu
nói “Của chồng công vợ”, tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết do hai vợ
chồng trực tiếp tạo ra hoặc tạo ra ngang bằng nhau. Tài sản chung có thể chỉ do vợ,
hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. Quy định này thể hiện sự gắn kết “Như
hai mà một” của quan hệ hôn nhân... Đây là điểm khác biệt của tài sản chung vợ
chồng so với các tài sản chung theo phần khác.
Tính hợp nhất trong việc sở hữu tài sản chung của vợ chồng còn được thể
hiện khi vợ, chồng chưa phân chia tài sản thì không xác định được tỷ lệ tài sản của
mỗi người. Khi hai bên thỏa thuận phân chia xong hoặc có quyết định phân chia của
Tòa án thì phần tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung mới được xác định.

10


Đây là điểm khác biệt đặc trưng của tài sản chung vợ, chồng so với các tài sản
chung theo phần.
Mặc khác, pháp luật còn quy định quyền và nghĩa vụ ngang nhau của vợ
chồng đối với việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản chung và mục đích
của việc sử dụng tài sản chung là nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình, đảm
bảo cho vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình và lao động tạo ra tài sản vì lợi ích
chung của gia đình. Có thể thấy, những quy định này là phù hợp với quan điểm,
truyền thống đạo đức của Việt Nam cũng như định hướng xây dựng mối quan hệ vợ

hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông
qua giao dịch bằng tài sản riêng”.
Như vậy, có thể hiểu quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng được sở hữu sau
khi kết hôn trừ trường hợp việc sở hữu đó được thực hiện dưới hình thức thừa kế
riêng, được tặng cho riêng hoặc sử dụng tài sản riêng để giao dịch mua quyền sử
dụng đất, thì đều được coi là tài sản chung của vợ chồng. Theo đó, quyền sử dụng
đất chung của vợ chồng bao gồm:
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng mua bằng thu nhập do lao động, hoạt động
sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân.
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho
chung.
- Quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc mỗi bên vợ hoặc chồng được
Nhà nước giao, kể cả giao khoán sau khi kết hôn;
- Quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc chỉ một bên vợ hoặc chồng
được Nhà nước cho thuê sau khi kết hôn;
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
- Quyền sử dụng đất mà các bên không chứng minh được đó là tài sản riêng
Với cách xác định trên về tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ cho thấy,
nguồn gốc mà QSDĐ được xác định là tài sản chung của vợ chồng trước tiên phải là
tài sản đó được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. Sự kiện kết hôn làm phát sinh mối
quan hệ vợ chồng không chỉ dưới khía cạnh tình cảm, mà còn ở khía cạnh pháp lý
ràng buộc về quyền và nghĩa vụ lẫn nhau trong mọi mối quan hệ của đời sống xã
hội. Trong đó, dưới khía cạnh kinh tế, các tài sản - trong đó có QSDĐ được cả hai
vợ chồng cùng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân hoặc được nhận thừa kế, tặng cho
chung thì chúng là của chung của cả vợ và chồng, mọi giấy tờ pháp lý đối với tài

12




13


Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: “Tranh chấp: bất đồng, trái ngược nhau”
[40, tr. 808]. Theo Giáo trình Luật đất đai của Đại học Huế: “Tranh chấp đất đai:
Đó là các mâu thuẫn, xung đột giữa các chủ thể sử dụng đất khi họ cho rằng các
quyền và lợi ích hợp pháp về quyền sử dụng đất của mình bị xâm hại” [7, tr.341342]. Tương tự, Giáo trình Luật Đất đai của Viện Đại học Mở Hà Nội cũng giải
thích: “Tranh chấp đất đai là các mâu thuẫn, xung đột giữa các chủ thể sử dụng đất
khi họ cho rằng, các quyền và lợi ích hợp pháp về quyền sử dụng đất của mình bị
xâm hại” [9, tr. 271]. Theo Luật Đất đai năm 2013: “Tranh chấp đất đai là tranh
chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong
quan hệ đất đai” [26, Khoản 24 Điều 3].
Từ nhiều cách tiếp cận trong các tài liệu khác nhau nêu trên song đều có
chung một nhận định rằng, tranh chấp đất đai trước tiên được thể hiện bằng hình
thức bề ngoài đó là những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng của hai hoặc nhiều bên
trong quan hệ đất đai. Ở khía cạnh nội dung, tranh chấp đó là tranh chấp về
quyền, lợi ích hoặc thậm chí là nghĩa vụ của các chủ thể đối với tài sản là quyền
sử dụng đất khi họ cho rằng, chủ thể bên kia đã xâm hại tới quyền và lợi ích hợp
pháp về quyền sử dụng đất hoặc việc không thực hiện mà lẽ ra phải thực hiện
nghĩa vụ đối với QSDĐ của một chủ thể làm tổn hại tới lợi ích, QSDĐ hợp pháp
của phía bên kia.
Tranh chấp về tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn cũng có những biểu hiện
của những bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về lợi ích liên quan đến đất đai của vợ
chồng song sự khác biệt đó là tranh chấp đó nảy sinh từ một sự kiện pháp lý là vợ
chồng ly hôn.
Trong thực tế, khi đã thiết lập mối quan hệ vợ chồng, cùng chung sống với
nhau xây dựng gia đình, chăm sóc con cái, điều các cặp vợ chồng luôn mong muốn
nhất đó là gia đình tồn tại bền vững, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ
chồng, khó tránh khỏi những mâu thuẫn mà nếu vợ chồng không cùng giải quyết thì

chồng thỏa thuận là tài sản chung, hoặc QSDĐ mà không thể xác định đó là riêng của
vợ hoặc chồng nếu có tranh chấp, bất đồng, không thể tự phân chia thì khi ly hôn Tòa
án sẽ thực hiện quyền phân chia tài sản hoặc vợ chồng yêu cầu Tòa án, thậm chí khởi
kiện yêu cầu Tòa án thực hiện việc phân chia tài sản khi vợ chồng ly hôn.
Như vậy, có thể hiểu: “Tranh chấp QSDĐ khi vợ chồng ly hôn là tranh chấp
về quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

15


quan về đất đai khi quan hệ hôn nhân của họ chấm dứt và tranh chấp về QSDĐ đó
được Tòa án thụ lý và giải quyết”.
1.1.4. Phân loại tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất hi vợ
chồng ly hôn
Phân loại tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn có ý nghĩa
vô cùng quan trọng, giúp xác định nguồn gốc, cách thức hình thành tài sản là
QSDĐ, từ đó có cái nhìn đúng đắn về bản chất của vụ tranh chấp. Trong thực tiễn
công tác tại Tòa án, thụ lý và trực tiếp tham gia công tác xét xử tại Tòa với tư cách
là thư ký Tòa án, cũng như trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu các hồ sơ vụ việc,
tôi nhận thấy, tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ có thể chia thành các loại sau đây:
- Quyền sử dụng đất tạo lập trước thời kỳ hôn nhân nhưng là tài sản chung
của vợ chồng: Đây là tranh chấp xảy ra khi một trong hai bên vợ hoặc chồng đã xác
lập quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất trước khi kết hôn. Tuy nhiên, trong quá
trình chung sống, khối tài sản riêng này do các sự kiện khác nhau dẫn đến một bên
coi tài sản này đã được bên kia nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng trong khi
bên còn lại cho rằng đó vẫn là tài sản riêng của mình. Điều này dẫn đến mâu thuẫn
nảy sinh và phát sinh tranh chấp khi phân chia tài sản chung khi ly hôn.
- Tranh chấp về việc ai được tiếp tục đứng tên quyền sử dụng đất là tài sản
chung của vợ chồng: Đây là tranh chấp khá phổ biến, do trên thực tế quyền sử dụng
đất là một tài sản có giá trị lớn tuy nhiên lại rất khó phân chia bằng hiện vật, hay

phạm vi ranh giới đất của cha mẹ của chồng hoặc của vợ, đã xây nhà ở và vợ chồng
ăn ở, sinh hoạt trên đất lấn chiếm, nay ly hôn thì đó là tài sản chung của vợ và
chồng nên phải chia tài sản song hoặc vợ, hoặc chồng (thường là người có bố mẹ ở
cùng) không đồng ý chia với lý do đất đó có nguồn gốc lấn chiếm nhưng trên nền
đất của cha mẹ nên đó là tài sản của cha mẹ, không phải là tài sản của vợ chồng nên
không chia, có chăng chỉa thanh toán công sức đóng góp trong quá trình sinh sống
trên đất đó.
- Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất không cùng chủ sở hữu và sử dụng
hợp pháp của vợ và chồng trong hôn nhân. Đây là tranh chấp có nguyên nhân phát
sinh do trong thời kỳ hôn nhân, vợ hoặc chồng đã thực hiện chuyển nhượng quyền
sử dụng đất cho người thứ ba nhưng không có sự đồng ý của phía bên kia nên khi ly
hôn tiến hành phân chia quyền sử dụng đất là tài sản chung đã bị chuyển nhượng sẽ
nảy sinh tranh chấp giữa vợ chồng. Đặc điểm của tranh chấp này là quyền sử dụng

17


đất vẫn còn đứng tên vợ và chồng mà đã bị chuyển nhượng cho người khác. Để giải
quyết tranh chấp này thông thường đòi hỏi tòa án phải xác minh tính hợp pháp của
việc chuyển nhượng, xác định lỗi của các bên, đồng thời xử lý tài sản một cách hợp
lý để bảo đảm quyền lợi của các bên bao gồm cả bên nhận chuyển nhượng.
- Tranh chấp QSDĐ khi vợ chồng ly hôn trong trường hợp người chồng có
quan hệ cùng một lúc với hai người phụ nữ, trong đó, người phụ nữ có đăng ký kết
hôn, một người không có đăng ký kết hôn song người chồng chủ yếu ở với người
không có đăng ký kết hôn, tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở cũng được tạo lập với
người phụ nữ không có đăng ký. Nay tranh chấp giữa người vợ chính thức với
người chồng về khối tài sản đã tạo lập cùng người phụ nữ không chính thức.
Đây là những trường hợp điển hình, xảy ra rất phổ biến trong đời sống và
trên thực tế rất khó khăn trong quá trình giải quyết bởi: Khi xảy ra tranh chấp, khó
có thể xác định tài sản đã được tặng cho con cái hay chưa (do không có bất kỳ văn

của vợ chồng. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc giải quyết ly hôn và
chia tài sản chung của vợ chồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Khi vợ,
chồng có đơn gửi đến Tòa án yêu cầu giải quyết ly hôn và cùng với việc giải quyết
ly hôn họ yêu cầu giải quyết về tài sản thì Tòa án sẽ tiến hành thụ lý vụ án, thực
hiện các thủ tục, quy trình tố tụng đã được pháp luật quy định cụ thể trong Bộ luật
Tố tụng dân sự như lấy lời khai, thu thập chứng cứ, hòa giải, định giá, mở phiên tòa
(nếu hòa giải không thành)… Các bước tố tụng này giúp Tòa án có thể xem xét,
đánh giá chứng cứ, cân nhắc kỹ, quyết định về tính hợp pháp, hợp lý trong lời khai,
chứng cứ do các bên đưa ra. Nếu đủ cơ sở pháp lý xác định tài sản tranh chấp là tài
sản chung của vợ chồng thì Tòa án căn cứ vào quy định của Luật hôn nhân và gia
đình và Luật đất đai hiện hành để giải quyết chia tài sản chung là quyền sử dụng đất
của vợ chồng.
Qua đây có thể thấy, giải quyết tranh chấp nói chung và giải quyết tranh chấp
về chia tài sản chung vợ chồng nói riêng là phương thức nhằm hóa giải bất đồng, mâu
thuẫn giữa các bên và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của vợ và chồng. Tuy nhiên, xét về
mặt học thuật, khái niệm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất là tài sản chung của
vợ chồng lại không được giải mã một cách chính thức và đầy đủ trong các văn bản
pháp luật đất đai. Tìm hiểu khái niệm giải quyết tranh chấp chia tài sản là quyền sử
dụng đất khi vợ chồng ly hôn trước tiên chúng ta cần xem xét thế nào là giải quyết
tranh chấp đất đai; bởi lẽ, giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất là tài sản chung
của vợ chồng cũng là một dạng cụ thể của giải quyết tranh chấp đất đai?

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status