BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
--------------------------
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
NGUYỄN THỊ DUNG
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
--------------------------
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ NGÀNH: 60380107
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN: NGUYỄN THỊ DUNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT
HÀ NỘI - 2016
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài............................................................................... 2
3. Mục đích, ý nghĩa nghiên cứu đề tài.................................................................. 3
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài ................................................................................. 4
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 4
6. Những đóng góp mới của đề tài ........................................................................ 4
7. Kết cấu của luận văn ......................................................................................... 5
CHƯƠNG 1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
................................................................................................................................ 6
1.1. Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại và yêu cầu của
việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại .................................................. 6
1.1.1
Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại ........................................... 6
1.1.2
Đặc điểm của tranh chấp thương mại ....................................................... 11
1.1.3
Yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp thương mại .................................. 14
1.2
1.3.3
Bản chất của giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án ................... 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ...................................................................................... 24
CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH HẢI
DƯƠNG ................................................................................................................ 25
2.1 Thực trạng các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng
Tòa án ................................................................................................................... 26
2.1.1 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại............................ 27
2.1.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại ............................................. 36
2.1.3 Thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại..................................................... 41
2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp thương mại của tòa án
nhân dân ở tỉnh Hải Dương.................................................................................... 45
2.2.1 Kết quả giải quyết các tranh chấp thương mại của tòa án nhân dân ở tỉnh Hải
Dương ................................................................................................................... 45
2.2.2. Những hạn chế về áp dụng pháp luật trong giải quyết các tranh chấp thương
mại của TAND ở tỉnh Hải Dương và nguyên nhân ................................................. 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ...................................................................................... 57
CHƯƠNG 3.PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN Ở TỈNH HẢI DƯƠNG .................................................................... 58
3.1. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật vào giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng toà án ở tỉnh Hải Dương ......................... 58
3.1.1. Những thuận lợi ........................................................................................... 59
3.1.2 Những khó khăn ............................................................................................ 63
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp
Để đáp ứng việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục tố
tụng tư pháp, sự ra đời của Bộ luËt tố tụng dân sự 2004, Luật sửa đổi bổ sung một
số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011; Luật thương mại 2005 đã đánh dấu
bước phát triển mới trong lịch sử pháp luật tố tụng dân sự. Hệ thống pháp luật này
tạo ra hành lang pháp lý, đáp ứng yêu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
1
mại được nhanh chóng, kịp thời, các phán quyết của Tòa án được đảm bảo thực
hiện một cách kịp thời, nghiêm minh.
Tuy vậy, qua một thời gian áp dụng, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ
sung 2011 đã bộc lộ những vướng mắc nhất là việc giải quyết các tranh chấp kinh
doanh thương mại theo thủ tục tư pháp. Do vậy, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (có
hiệu lực thi hành từ 1/7/2016) ra đời nhằm khắc phục những hạn chế trong pháp luật
về tố tụng dân sự qua đó gián tiếp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại theo thủ tục tố tụng bằng Tòa án. Việc thiết lập cơ chế giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại phù hợp với nền kinh tế thị trường trong thời kỳ
hội nhập và phát triển là một vấn đề rất quan trọng cần được tiếp tục nghiên cứu để
hoàn thiện pháp luật tố tụng và pháp luật liên quan. Việc áp dụng quy định của pháp
luật tại các tòa án địa phương cũng nảy sinh nhiều vấn đề cần phải làm rõ.
Xuất phát từ yêu cầu nêu trên, với vị trí hiện tại là người làm công tác trong
ngành Tòa án, thực tiễn đã và đang trực tiếp giải quyết, xét xử nhiều vụ án trong
lĩnh vực này, vì vậy, tôi chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương
mại bằng tòa án từ thực tiễn tại tỉnh Hải Dương” để thực hiện luận văn thạc sĩ
luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết các tranh chấp kinh doanh
thương mại bằng Tòa án không phải là vấn đề mới trong khoa học pháp lý Viêt
Nam. Đây là đề tài luôn thu hút sự quan tâm của cả xã hội nhất là giới kinh doanh,
các nhà nghiên cứu và cả những người công tác trong các cơ quan tố tụng. Ngay từ
thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại; xác định được vị trí, vai trò của
tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại hiện nay; đánh giá một cách toàn
diện, khách quan thực trạng pháp luật và nguyên tắc áp dụng pháp luật trong quá
trình giải quyết, xét sử các vụ án kinh doanh thương mại; phân tích làm rõ những
vướng mắc của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương
mại thông qua những vụ án trong thực tiễn qua đó đưa ra một số đề xuất nh»m nâng
cao hiệu quả xét xử của tòa án nhân dân nói chung và hệ thống các cấp tòa ở tỉnh
Hải Dương nói riêng.
3
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở phân tích một số nội dung của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về
thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại, luận văn này chủ yếu
tập trung phân tích đánh giá các quy đinh của pháp luật hiện hành về giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án nhân dân; phân tích thực tiễn áp dụng
pháp luật giải quyết kinh doanh thương mại thống qua số liệu thống kê các vụ án
tranh chấp kinh doanh thương mại được giải quyết tại tòa án nhân dân ở Hải
Dương. Tuy nhiên, do tính bao quát của đề tài, luận văn chỉ giới hạn phạm vi
nghiên cứu tình hình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án ở tỉnh
Hải Dương từ năm 2010 đến 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được viết trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác – Lê nin
để phân tích mối quan hệ giữa kinh tế và pháp luật; những quan điểm của Đảng và
Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới để phân tích pháp luật trong mối quan hệ chặt
chẽ với thực tiễn.
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để giải
quyết những vấn đề được đề cập trong đề tài.
6. Những đóng góp mới của đề tài
chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân ở tỉnh Hải Dương
5
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
1.1. Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại và yêu
cầu của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
1.1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại
Hiện nay, chúng ta được nghe đề cập khái niệm như: tranh chấp kinh tế,
tranh chấp thương mại hay tranh chấp kinh doanh, thương mại. Mỗi khái niệm đều
có nội hàm rộng hẹp khác nhau. Nhìn chung, chúng đều được hiểu là những bất
đồng về một sự kiện pháp lý, về lợi ích; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong
quan hệ kinh doanh, thương mại.
Thuật ngữ "tranh chấp" nói chung được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn về
quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan. Những bất đồng, mâu thuẫn
này có thể phát sinh từ những quan hệ xã hội do nhiều ngành luật điều chỉnh nên
chúng được phân loại theo dấu tiêu chí của ngành luật đó. Ví dụ: Tranh chấp về tiền
lương giữa người lao động và người sử dụng lao động được gọi là thuộc loai tranh
chấp lao động. Tương tự như vậy, tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai... đều là
những tranh chấp có liên quan đến lợi ích vật chất và tinh thần của các bên. Do đó
chúng có thể được gọi là tranh chấp dân sự (đối tượng điều chỉnh của Bộ luật
TTDS) theo nghĩa rộng. Một đặc trưng của các tranh chấp dân sự theo nghĩa rộng
đó là các chủ thể tham gia vào quan hệ này không không tham gia quan hệ pháp lý
chỉ nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Ở góc độ ngôn ngữ phổ thông, “kinh doanh” là tổ chức, sản xuất, buôn bán
sao cho sinh lời, “kinh tế” là tổng thể nói chung những quan hệ sản xuất của một
của tranh chấp; (iii) khách thể của tranh chấp luôn liên quan đến việc thực hiện các
quyền và nghĩa vụ theo các hiệp định và thỏa thuận của WTO và (iv) tranh chấp
phải được giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (DSM).
7
Theo Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban Luật Thương
mại quốc tế (UNCITRAL) đưa ra khái niệm “thương mại” với nội hàm rất rộng liên
quan đến tất cả các quan hệ mang bản chất thương mại. Xuất phát từ đó mà tranh
chấp thương mại cũng được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ các tranh chấp
phát sinh từ các giao dịch thương mại.
Ở Việt Nam, quan niệm về tranh chấp kinh tế có những điểm khác nhau qua
mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội. Trong cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung,
nền kinh tế được quản lý bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, với hệ thống chỉ
tiêu, kế hoạch do Nhà nước bàn giao. Hợp đồng kinh tế thời kỳ này không chỉ là
một hình thức pháp lý để triển khai các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn
vị kinh tế, mà còn được sử dụng như một công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước. Do
vậy, việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế là một kỷ luật bắt buộc chứ không
phải hoàn toàn từ lợi ích kinh tế của các bên tham gia hợp đồng. Vì thế, trách nhiệm
thực hiện hợp đồng giữa các bên tham gia quan hệ với nhau bị coi nhẹ hơn sơ với
trách nhiệm của các bên đối với cơ quan chủ quản. Trách nhiệm phát sinh do vi
phạm hợp đồng kinh tế nhẹ về yếu tố vật chất mà nặng về tính chất hành chính.
Có thể nói trong giai đoạn này, các quan hệ kinh tế vốn khá đơn giản về nội
dung và thành phần của chủ thể, lại được điều chỉnh bởi kinh tế Nhà nước. Vì vậy,
các tranh chấp kinh tế phát sinh không nhiều và chủ yếu là các tranh chấp phát sinh
từ hợp đồng kinh tế được ký kết giữa các đơn vị kinh tế xã hội chủ nghĩa với nhau
để triển khai kế hoạch kinh doanh đã được Nhà nước phê duyệt từ trước. Các tranh
chấp kinh tế trong giai đoạn này không thể hiện rõ bản chất phát sinh do xung đột
lợi ích của các bên và viêc thực hiện giải quyết tranh chấp cũng không xuất phát từ
đoạn này, kinh doanh đúng pháp luật để đạt lợi ích tối đa là mục tiêu của các doanh
1
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Nghị định số 116/1994/NĐ-CP chủ yếu liệt kê
các tranh chấp được gọi là các tranh chấp kinh tế như tranh chấp về hợp đồng kinh tế, tranh chấp giữa công
ty với thành viên công ty, thành viên công ty với nhau hoặc tranh chấp liên quan đến mua bán cổ phiếu, trái
phiếu...
2
Khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại năm 2005.
3
PGS.TS. Lê Hồng Hạnh, “Khái niệm thương mại trong pháp luật Việt Nam và những bất cập dưới góc độ
thực tiễn áp dụng và chính sách hội nhập”; Tạp chí Luật học, số 2/2000.
9
nghiệp. Môi trường đó phát sinh ngày càng nhiều nguyên tắc tranh chấp liên quan
đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế.
Đồng thời cũng đặt ra nhu cầu cần phải nghiên cứu, mở rộng nội hàm của khái niệm
tranh chấp kinh tế.
Luật Thương mại năm 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 đã
đưa ra một khái niệm về hoạt động thương mại tương đối giản đơn. Tuy nhiên, khái
niệm này cũng đã hàm chứa và lột tả được nội hàm của hoạt động thương mại.
Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định: Hoạt động thương mại là
hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ,
đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Theo
khái niệm này, quan niệm về hoạt động thương mại được mở rộng bao gồm mọi
hoạt động có mục đích sinh lợi. Hướng tiếp cận này của Luật Thương mại cho thấy,
khái niệm về hoạt động thương mại đã thể hiện sự tương đồng với khái niệm kinh
doanh trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng như
chấp thương mại theo hướng tiếp cận của Luật Thương mại năm 2005. Tuy có
nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu khác nhau và có sự thay đổi trong thuật ngữ pháp
lý, nhưng thực tế đều nhìn nhận những xung đột về lợi ích kinh tế trong quan hệ
kinh doanh, thương mại là tranh chấp kinh doanh, thương mại. Nhìn chung, quan
niệm về hoạt động thương mại và tranh chấp kinh doanh, thương mại được thể hiện
qua các quy định trong văn bản pháp luật là khá đồng nhất.
1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp thương mại
Mỗi loại tranh chấp đều mang những đặc điểm riêng, phụ thuộc vào tính chất
của mối quan hệ pháp luật vào chủ thể của các mối quan hệ đó cũng như lợi ích của
mối quan hệ đó mang lại. Tranh chấp kinh doanh, thương mại, dù là tranh chấp hợp
đồng kinh tế, tranh chấp trong nội bộ công ty mang những nét đặc trưng cơ bản sau
đây:
Thứ nhất, tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung
đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thể. Mâu thuẫn được
hiểu là trạng thái xung đột, đối xứng nhau về quyền và nghĩa vụ giữa các bên tranh
chấp. Quan hệ thương mại và bất đồng giữa các bên trong quan hệ thương mại là
5
Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.
11
điều kiện cần và đủ để tranh chấp phát sinh. Trong hoạt động thương mại, các bên
vừa hợp tác đồng thời vừa cạnh tranh nhau để đạt được những mục đích đề ra. Do
đó, việc phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình thực hiện quyền và
nghĩa vụ của các bên là điều tất yếu.
Các quan hệ thương mại có bản chất là các quan hệ tài sản nên nội dung
tranh chấp thường liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các bên. Thông thường,
định, các cá nhân, tổ chức khác (không phải là thương nhân) cũng có thể là chủ thể
của tranh chấp thương mại khi trong các giao dịch bên không có mục đích sinh lợi
chọn áp dụng luật thương mại [8]. Khoa học pháp lý gọi giao dịch này là giao dịch
hỗn hợp (hành vi hỗn hợp). Về bản chất, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi
của một bên trong giao dịch với thương nhân không phải là hoạt động thương mại
thuần túy, nhưng bên không nhằm mục đích sinh lợi đã chọn áp dụng luật thương
mại thì quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật thương mại và tranh chấp phát sinh
từ quan hệ pháp luật này phải được quan niệm là tranh chấp thương mại. Một quy
tắc được pháp luật của Pháp và nhiều quốc gia áp dụng để giải quyết loại tranh chấp
này đó là căn cứ vào bị đơn là thương nhân hay không phải là thương nhân. Nếu bị
đơn là thương nhân thì nguyên đơn (bên có hành vi dân sự) có thể chọn Tòa
Thương mại hoặc Tòa Dân sự để giải quyết vụ tranh chấp. Trường hợp nguyên đơn
chọn Tòa Thương mại thì các quy định khắt khe hơn của luật thương mại được áp
dụng để giải quyết vụ tranh chấp. Ngược lại, bị đơn không phải là thương nhân thì
nguyên đơn (bên có hành vi thương mại) chỉ có quyền kiện ra Tòa Dân sự và luật
dân sự được áp dụng để giải quyết vụ tranh chấp mà các quy định của luật thương
mại không thể áp dụng cho đối phương không phải là thương nhân[9].
Dựa trên những căn cứ pháp lý khác nhau như: Phạm vi lãnh thổ, số lượng
các bên tranh chấp, căn cứ vào lĩnh vực tranh chấp, quá trình thực hiện, thời điểm
phát sinh tranh chấp, tranh chấp thương mại được chia thành các loại tranh chấp
khác nhau.
Tranh chấp thương mại đã trở thành một hiện tượng tất yếu khách quan của
nền kinh tế thị trường. Khi tranh chấp thương mại phát sinh đòi hỏi cần phải được
13
giải quyết một cách minh bạch và hiệu quả; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các
chủ thể, góp phần ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, bảo
đảm trật tự pháp luật, kỷ cương xã hội.
- Giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên trên thương trường. Tòa án khi
thụ lý giải quyết các tranh chấp thương mại cần giữ gìn bí mật kinh doanh để tránh
gây ảnh hưởng đến hoạt động của các bên chủ thể.
- Tối đa hóa lợi ích kinh tế cho các bên chủ thể. Quá trình giải quyết các
tranh chấp kinh doanh thương mại, Tòa án cần vận dụng những phương thức thích
hợp để giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, hiệu quả cao nhất và hướng cho các
bên đương sự lựa chọn phương thức giải quyết có lợi nhất.
1.2 Những phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
Sự phát triển đa dạng của các tranh chấp kinh doanh, thương mại và yêu cầu
linh hoạt để giải quyết tranh chấp này là tất yếu khách quan hình thành sự đa dạng
về các hình thức, biện pháp để giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại. Việc
dự liệu một hệ thống các phương thức đa dạng để giải quyết tranh chấp cũng là thể
hiện sự đảm bảo quyền tự do của các doanh nghiệp trong kinh doanh (tự do lựa
chọn phương thức tài phán). Theo quy định của pháp luật hiện nay có các phương
thức cơ bản thường được áp dụng:
1.2.1. Thương lượng
Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp không cần đến vai trò của
người thứ ba. Đặc điểm cơ bản của thương lượng là các bên cùng nhau trình bày
quan điểm, tìm ra biện pháp thích hợp, trên cơ sở đó đi đến thống nhất để giải quyết
các bất đồng. Thương lượng là biện pháp khá phổ biến và thích hợp cho việc giải ác
quyết các tranh chấp. Đây là hình thức có tính đơn giản, ít tốn kém không làm
phương hại đến các quan hệ hợp tác vốn có của các bên, giữ được bí mật kinh
doanh lại không bị ràng buộc các thủ tục pháp lý.
Thương lượng đòi hỏi các bên thiện chí, trung thực và hợp tác, phải có
những kiến thức cần thiết về chuyên môn pháp luật. Đối với các vụ việc phức tạp,
15
mỗi bên có thể chỉ định những chuyên gia có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm
Tuy nhiên, nếu hòa giải được hiểu theo nghĩa là một giai đoạn tố tụng trong
giải quyết tranh chấp (hòa giải trong tố tụng) thì kết quả của hòa giải sẽ được cơ
quan tài phán công nhận và khi đó, kết quả hòa giải có giá trị pháp lý và được
cưỡng chế thi hành.
1.2.3. Trọng tài thương mại
Đây là phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến và được nhiều nước trên
thế giới áp dụng. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là một hình thức giải quyết
tranh chấp không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường và ngày càng được các nhà
kinh doanh ưa chuộng. Đó là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động
của Hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm
giải quyết mâu thuẫn tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các
bên phải thi hành.
Ưu điểm của phương thức này là có tính linh hoạt, tạo quyền chủ động cho
các bên, tính nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian có thể được rút ngắn thủ tục tố
tụng trọng tài và đảm bảo bí mật. Trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo
nguyên tắc xét xử không công khai hoặc xử kín. Theo nguyên tắc này các bên có thể
giữ được bí mật kinh doanh cũng như danh dự, uy tín. Giải quyết trọng tài không bị
giới hạn về mặt lãnh thổ do các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm trọng tài
nào có thể giải quyết tranh chấp cho mình. Phán quyết của trọng tài có tính chung
thẩm, đây là ưu thế vượt trội so với hình thức giải quyết tranh chấp bằng thương
lượng hòa giải. Sau khi trọng tài đưa ra phán quyết thì các bên không có quyền
kháng cáo trước bất kỳ một tổ chức hay tòa án nào.
Nhược điểm của việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài là do
biểu phí trọng tài tại các trung tâm trọng tài là không giống nhau và có thể cao hơn
án phí tại tòa án. Mặt khác, việc thi hành quyết định trọng tài không phải lúc nào
cũng trôi chảy, thuận lợi như việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Đặc biệt,
trong quá trình xét xử, hội đồng trọng tài vi phạm các quy định về tố tụng trọng tài
hoặc nội dung phán quyết trọng tài có vi phạm những nguyên tắc cơ bản của pháp
những vụ việc cụ thể. Thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp trong kinh doanh
18
hiện nay ở các nước trên thế giới như Anh – Mỹ, Đức, Pháp... thì các hình thức như
thương lượng, hòa giải, trọng tài chiếm ưu thế, còn ở Việt Nam thì việc giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng con đường Tòa án đóng vai trò quan trọng
nhất, được các chủ thể tranh chấp lựa chọn.
1.3 Khái quát cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án
1.3.1 Khái niệm và lịch sử hình thành
Chế định Tòa kinh tế là một khái niệm mới xuất hiện trong hệ thống tư pháp
Việt Nam từ năm 1994. Trước đó, để giải quyết các tranh chấp kinh tế, pháp luật
nước ta quy định một hệ thống thiết chế riêng là “trọng tài kinh tế”. Đây được coi là
cơ sở cho việc hình thành các tòa án kinh tế sau này. Tòa trọng tài là một trong
những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết những xung đột, giữa các chủ thể.
Thời cổ đại, các lái buôn đã biết sử dụng phương thức này để phân xử những bất
đồng mà không cần sự can thiệp của Nhà nước. Về sau, Luật La Mã cho phép mở
rộng phạm vi áp dụng trọng tài để giải quyết tranh chấp, không chỉ trong biên giới
lãnh thổ mà còn trải rộng trên hầu hết lục địa Châu Âu6. Trước sự phát triển mạnh
mẽ của thương mại thế giới, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng
phát triển dẫn tới việc hình thành những tổ chức trọng tài quốc tế để giải quyết các
tranh chấp phát sinh trong các hợp đồng thương mại quốc tế.
Ở Việt Nam, phương thức trọng tài xuất hiện từ thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa
vào những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX với tên gọi là trọng tài kinh tế.
Tổ chức này có những đặc trưng phản ánh sự vận hành của cơ chế kinh tế kế hoạch
hóa, vừa mang chức năng quản lý và chức năng giải quyết tranh chấp, do đó, trọng
tài kinh tế ở Việt Nam không phải là tổ chức trọng tài đúng nghĩa. Chính sách đổi
mới đã dẫn đến sự phát triển của kinh tế thị trường khiến cho các quy định về trọng
tài không còn phù hợp. Năm 1994, Tòa kinh tế được thành lập và trở thành cơ quan