Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn tại tòa án nhân dân thành phố hạ long, tỉnh quảng ninh - Pdf 48

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh hiện nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế trong nước và
quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, các quan hệ kinh doanh, thương mại
được hình thành ngày càng phong phú và đa dạng, kéo theo sự gia tăng về số lượng
cũng như tính chất phức tạp của các tranh chấp kinh doanh, thương mại. Nhà nước
luôn khuyến khích các chủ thể có mâu thuẫn tự giải quyết tranh chấp với nhau bằng
thương lượng, hòa giải và trọng tài, việc giải quyết tại Tòa án chỉ là giải pháp cuối
cùng. Nhưng nhiều trường hợp, chính việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án mới đảm
bảo được tối đa quyền lợi cho các bên, bởi chỉ Tòa án mới có các công cụ bảo đảm
cho các bên thực hiện nghĩa vụ của mình thông qua các biện pháp cưỡng chế thi hành
các phán quyết của Tòa án.
Để đáp ứng yêu cầu đó ngày 15/06/2004 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS)
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã được Quốc hội thông qua và có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2005, đánh dấu bước phát triển mới trong lịch sử
pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã phân định
rõ thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp về kinh doanh
thương mại, tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án thực hiện quyền xét xử để giải quyết các
tranh chấp kinh doanh thương mại một cách nhanh chóng, kịp thời. Tuy nhiên, trải
qua mười năm thi hành với một lần sửa đổi, bên cạnh những thành tựu đạt được, các
quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã bộc lộ nhiều vướng mắc và hạn
chế. Điều đó làm cho hoạt động xét xử của Tòa án gặp nhiều khó khăn. Trước yêu
cầu cần phải đổi mới và phù hợp với hội nhập quốc tế đang diễn ra, Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015 đã thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư
pháp, đặc biệt là Nghị quyết số 48 - NQ/TW; Nghị quyết số 49 - NQ/TW; Kết luận
số 79 - KL/TW; Kết luận số 92 - KL/TW của Bộ chính trị và văn kiện Đại hội Đảng
lần thứ XI; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ,
công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người; thực hiện mô hình tố
1




“Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về kinh doanh thương mại và lao động theo
BLTTDS năm 2004” trên Tạp chí kiểm sát số 01/2005, tác giả Vũ Thị Hồng Vân
với bài nghiên cứu “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của
Tòa án theo BLTTDS 2004” trên tạp chí Luật học số 04/2008... Nhìn chung, các
công trình đã đề cập, nghiên cứu những vấn đề khái quát của loại hình tài phán Toà
án kinh tế ở Việt Nam. Mặc dù các công trình này cũng đã đề cập đến thủ tục tố
tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại khá chi tiết và đầy đủ, tuy nhiên
do có khoảng cách nhất định về thời gian nghiên cứu nên không tránh khỏi những
hạn chế, chưa đánh giá một cách kịp thời đối với thực trạng giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại tại Toà án hiện nay. Hơn nữa, cùng với sự phát triển của
nền kinh tế thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế khi Việt Nam là thành viên của WTO,
khi tiến hành sửa đổi, bổ sung BLTTDS năm 2004 (có hiệu lực từ tháng 01/2012),
sửa đổi, bổ sung Luật Thương mại (2005)…thì hầu như chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách toàn diện trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn mới
đang đặt ra cần giải quyết. Đặc biệt, nghiên cứu về giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại tại Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh – nơi
có điều kiện kinh tế, xã hội tương đối phát triển chưa được quan tâm thoả đáng.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của việc nghiên cứu đề tài là một số vấn đề lý luận về giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân mà cụ thể là thẩm quyền
của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại như khái niệm,
ý nghĩa, cơ sở phân định thẩm quyền và một số yêu cầu trong hoàn thiện pháp luật,
đảm bảo thực thi quy định của pháp luật về thẩm quyền dân sự của Tòa án trong
việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại. Đồng thời, luận văn cũng phân
tích, đối chiếu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về
giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án với thực tiễn để từ đó đề
xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả các quy định và việc áp dụng pháp
luật trong thực tế.
3



Thứ nhất: Làm rõ được những vấn đề lý luận về tranh chấp kinh doanh,
thương mại và bước đầu nêu được cơ sở của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại ở Việt Nam.
Thứ hai: Hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
bao gồm luật nội dung và luật hình thức (tố tụng), trong đó luật hình thức (tố tụng)
được bổ sung, phân tích những quy định mới, những vấn đề pháp lý đang được
quan tâm trong giới nghiên cứu khoa học luật và nhà hoạt động thực tiễn.
Thứ ba: Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên phân tích và chỉ ra thực
trạng tranh chấp kinh doanh, thương mại và giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại trên địa bàn thành phố Hạ Long – địa phương có tình hình kinh tế đặc
thù, để tìm ra các nguyên nhân của thực trạng đó.
Thứ tư: Luận văn đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về
giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trên cơ sở những nhu cầu thực tế đòi
hỏi trong tình hình mới hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
tại Toà án nhân dân
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về
việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân
Chương 3: Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà
án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và một số kiến nghị nhằm nâng
cao hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân
dân.

5


chấp thương mại cũng được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ các tranh chấp
phát sinh từ các giao dịch thương mại.
Quan niệm về tranh chấp kinh tế ở Việt Nam cũng có sự khác biệt qua mỗi
giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội:
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung – nền kinh tế được quản lý bằng
mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, hợp đồng kinh tế thời kỳ này không chỉ là một
hình thức pháp lý để triển khai các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị
kinh tế mà còn được sử dụng như một công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước. Do
vậy, ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế có tính chất bắt buộc chứ không hoàn
toàn xuất phát từ lợi ích kinh tế của các bên tham gia hợp đồng. Cũng chính vì vậy,
trách nhiệm thực hiện hợp đồng giữa các bên tham gia quan hệ với nhau bị coi nhẹ
hơn so với trách nhiệm của các bên đối với cơ quan quản lý và trách nhiệm phát
sinh do vi phạm hợp đồng kinh tế được đánh giá “nhẹ” về yếu tố vật chất mà
“nặng” về tính chất hành chính. Có thể thấy, trong giai đoạn này, quan hệ kinh tế
với tính chất đơn giản về nội dung và thành phần chủ thể, được điều chỉnh bởi kinh
tế Nhà nước nên các tranh chấp kinh tế phát sinh không nhiều và chủ yếu là các
tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế được ký kết giữa các đơn vị kinh tế với
nhau để triển khai kế hoạch kinh doanh đã được Nhà nước phê duyệt từ trước. Các
tranh chấp nếu phát sinh cũng không thể hiện rõ bản chất của tranh chấp kinh
doanh, thương mại vốn được coi là tranh chấp phát sinh do xung đột lợi ích của các
bên và việc giải quyết tranh chấp cũng không xuất phát từ quyền lợi thiết thực của
các bên mà chủ yếu vì sự ổn định, hài hoà chung cho cả nền kinh tế.
Trong quá trình đổi mới, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam hội nhập cùng nền kinh tế thế giới
với việc nước ta trở thành thành viên thứ 150 của WTO năm 2007. Từ đó, ngày
càng xuất hiện nhiều hơn các chủ thể kinh doanh, bên cạnh doanh nghiệp Nhà nước
và hợp tác xã, các loại hình công ty và hộ kinh doanh cá thể. Các quan hệ kinh tế
xuất hiện ngày càng nhiều với hình thức phong phú và tính chất phức tạp. Trong
7




Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu: “Tranh chấp kinh doanh, thương
mại là sự bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh
doanh liên quan đến lợi ích kinh tế trong quá trình hoạt động kinh doanh, thương
mại”.
Mặt khác, tranh chấp trong kinh doanh còn được hiểu là sự bất đồng về một
hiện tượng pháp lý phát sinh trong đời sống kinh tế giữa các chủ thể tham gia kinh
doanh và thông thường gắn liền với các yếu tố lợi ích về mặt tài sản. Do đó có thể
khái quát những đặc điểm tranh chấp trong kinh doanh như sau:
- Nó luôn gắn liền với các hoạt động kinh doanh của các chủ thể.
- Các chủ thể tranh chấp trong kinh doanh thường là các doanh nghiệp.
- Nó là sự biểu hiện ra bên ngoài, là sự phản ánh của những xung đột về
mặt lợi ích kinh tế của các bên.
1.1.2. Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
Từ những phân tích trên thì giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nói
chung bao gồm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài và giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án.
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại, không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường và ngày càng
được các nhà kinh doanh ưa chuộng. Thông qua hoạt động của Hội đồng trọng tài
hoặc trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu thuẫn
tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành.
Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án là hình thức giải
quyết thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực
Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên phải chấp hành, bằng sức mạnh cưỡng
chế của Nhà nước.
1.1.3. Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại
9




Hiện nay, các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
thường được áp dụng đó là:
1.1.4.1. Thương lượng
Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp không cần đến vai trò của
người thứ ba ngoài các bên tranh chấp. Đây là phương thức giải quyết tranh chấp có
đặc điểm cơ bản đó là các bên cùng nhau trình bày quan điểm, tìm ra các biện pháp
thích hợp, trên cơ sở đó đi đến thống nhất để giải quyết các bất đồng. Thương lượng
là biện pháp khá phổ biến và thích hợp cho việc giải quyết các tranh chấp, với
những ưu điểm như: Tính chất đơn giản, ít tốn kém, không làm phương hại đến các
quan hệ hợp tác vốn có của các bên, giữ được bí mật kinh doanh lại không bị ràng
buộc bởi các thủ tục pháp lý.
Phương pháp này đòi hỏi các bên phải có thiện chí, trung thực và hợp tác;
phải có những kiến thức cần thiết về pháp luật. Đối với các vụ việc phức tạp, mỗi
bên có thể chỉ định những chuyên gia có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề
nghiệp thay mặt mình để tiến hành thương lượng. Kết quả của thương lượng thường
là những cam kết, thoả thuận về những giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ những bất
đồng phát sinh trước đó.
Tuy nhiên, hình thức thương lượng có một số hạn chế như: Khó thực hiện
nếu các bên đã mâu thuẫn căng thẳng trong các vấn đề tranh chấp và không có thiện
chí với nhau. Giá trị pháp lý của biên bản thương lượng chưa được quy định cụ thể
và không có tính bắt buộc cưỡng chế thi hành, mà nó phụ thuộc vào ý thức của các
chủ thể tham gia thương lượng.
1.1.4.2. Hoà giải
Hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại có sự
tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định, đóng vai
trò trung gian nhằm hỗ trợ các bên tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải
quyết xung đột. Nếu hoà giải thành công sẽ đạt được giải pháp là tự thoả thuận giữa
11

12


Tuy nhiên, phương thức giải quyết tranh chấp này vẫn có những hạn chế nhất
định như chi phí tương đối cao, đối với vụ việc càng kéo dài thì phí trọng tài càng
cao. Việc thi hành quyết định trọng tài không phải lúc nào cũng trôi chảy, thuận lợi
như việc thi hành bản án, quyết định của Toà án.
1.1.4.4. Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Toà án
Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án là hình thức giải
quyết thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực
Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên phải chấp hành, bằng sức mạnh cưỡng
chế của Nhà nước.
Việc giải quyết tranh chấp của Toà án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy
định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng, bên cạnh đó tuân thủ các nguyên tắc
xét xử cũng là một trong những điểm đặc thù của hoạt động giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại để nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
các bên tham gia hợp đồng, cũng như tạo điều kiện hoạt động đồng bộ cho toàn bộ
nền kinh tế. Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phải tuân thủ những
nguyên tắc đặc trưng riêng như: Nguyên tắc đảm bảo quyền tự định đoạt của đương
sự; Nguyên tắc hoà giải; Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh; Nguyên tắc
giải quyết nhanh chóng, kịp thời; Nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người tiến
hành tố tụng. Bên cạnh đó, còn một số nguyên tắc chung thể hiện tính dân chủ và
pháp chế xã hội chủ nghĩa như: Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ;
Nguyên tắc xét xử công khai; Nguyên tắc đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo trong tố
tụng; Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật…
Để thể chế hóa tinh thần cải cách tư pháp về việc khuyến khích việc giải
quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ
bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó. Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS)
năm 2015 quy định cơ chế, phương thức để yêu cầu công nhận kết quả hòa giải
thành ngoài Tòa án nhằm giảm số lượng vụ tranh chấp phải giải quyết tại Tòa án và


14


Trong hệ thống các cơ quan nhà nước tại Việt Nam, Tòa án là cơ quan thực
hiện quyền tư pháp với chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính và
các việc khác theo quy định của pháp luật. Đối với quan hệ kinh doanh, thương mại
– một lĩnh vực luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra mâu thuẫn – việc quy định thẩm quyền
giải quyết tranh chấp của Tòa án trong lĩnh vực này là hết sức cần thiết nhằm bảo
đảm công bằng trong kinh doanh và ổn định sự phát triển của nền kinh tế. Do đó
việc nghiên cứu để đưa ra khái niệm khoa học về thẩm quyền của Tòa án, có ý
nghĩa thiết thực trong việc xây dựng và thực hiện các quy định về thẩm quyền dân
sự của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại. Để tìm hiểu
khái niệm thẩm quyền dân sự của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại, trước tiên cần tìm hiểu hai khái niệm “thẩm quyền dân sự của
Tòa án” và “tranh chấp kinh doanh, thương mại”.


Khái niệm thẩm quyền dân sự của Tòa án
Dưới góc độ ngôn ngữ, trong Từ điển tiếng Việt, thẩm quyền được giải thích

là quyền được xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo quy định của pháp
luật [26, tr.922]. Từ điển Luật học đưa ra định nghĩa thẩm quyền là tổng hợp các
quyền và nghĩa vụ hành động của cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà
nước do pháp luật quy định [25, tr.459]. Với cách tiếp cận này, thẩm quyền được
nhìn nhận là một quyền năng chứa đựng yếu tố quyền lực nhà nước, có nghĩa chỉ cơ
quan nhà nước mới được giao và thực hiện quyền lực đó. Ở một số nước trên thế
giới, thuật ngữ này cũng được sử dụng với ý nghĩa tương tự. Chẳng hạn, theo từ
điển Luật học của Mỹ, thẩm quyền được hiểu là khả năng cơ bản và tối thiểu để cơ
quan công quyền xem xét và giải quyết một việc gì theo pháp luật; hoặc từ điển Luật

quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn.


Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại
Về nguyên tắc, Tòa án có thẩm quyền giải quyết nhiều loại tranh chấp khác

nhau, trong đó bao gồm cả tranh chấp kinh doanh, thương mại. Tranh chấp kinh
doanh, thương mại là sự xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể kinh doanh
16


trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại. Trong đó, hoạt
động kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn
của quá trình đầu tư nhằm mục đích sinh lợi; còn hoạt động thương mại bao gồm
các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi theo quy định của pháp luật như mua bán
hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại... Tuy nhiên, cần lưu ý
rằng, hoạt động kinh doanh, thương mại không chỉ là hoạt động trực tiếp theo đăng
kí kinh doanh mà còn bao gồm cả các hoạt động khác phục vụ cho hoạt động
thương mại đó [11].


Khái niệm thẩm quyền dân sự của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp

kinh doanh, thương mại
Thông qua những phân tích về nội hàm của các khái niệm “thẩm quyền dân
sự của Tòa án” và “tranh chấp kinh doanh, thương mại, ta có thể đưa ra định nghĩa
về thẩm quyền dân sự của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại như sau:
Thẩm quyền dân sự của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại là quyền của Tòa án trong việc xem xét, giải quyết các tranh chấp phát

mại của Tòa án là cơ sở pháp lý để các đương sự thực hiện quyền khởi kiện, yêu cầu
Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi các tổ chức, cá nhân trong
quan hệ kinh doanh, thương mại thấy quyền và lợi ích của mình bị xâm hại mà
không tự giải quyết được, những quy định này sẽ là căn cứ giúp họ biết tranh chấp
đó có được giải quyết tại Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự hay không, giải quyết
tranh chấp đó tại Tòa án cấp nào và tại địa phương nào, từ đó xác định được Tòa án
có thẩm quyền để gửi đơn khởi kiện hoặc lựa chọn Tòa án thuận lợi nhất cho mình
trong việc tham gia tố tụng.
1.3. Cơ sở phân định thẩm quyền dân sự của Toà án trong việc giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại
Mục đích của việc xây dựng các quy định về thẩm quyền dân sự của Tòa án,
đặc biệt là thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án là
nhằm bảo đảm cho Tòa án có quyền được xem xét, giải quyết các tranh chấp về
18


kinh doanh, thương mại và tạo điều kiện để các bên tranh chấp trong quan hệ kinh
doanh, thương mại có khả năng để thực hiện quyền khởi kiện của mình. Để đạt
được những mục đích đó, việc xây dựng các quy định về thẩm quyền dân sự của
Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại được căn cứ vào
những cơ sở sau:
1.3.1. Căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt động tư
pháp
Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo chính quyền và
các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Hoạt động của bộ máy Nhà nước đều phải
dựa trên Hiến pháp, pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong những năm vừa
qua, Đảng đã có nhiều chủ trương, đường lối về cải cách hoạt động tư pháp. Dưới
sự lãnh đạo của Đảng, ngành Tòa án không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, hoàn
thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử và đang nỗ lực phấn đấu cho công cuộc cải cách tư
pháp hiện nay.

của Việt Nam có những đặc thù về mặt tổ chức. Những đặc thù này có tác động
không nhỏ đến việc phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương
mại của Tòa án, theo quy định của Luật tổ chức Tòa án cụ thể [31, tr.18]:
Thứ nhất, hệ thống Tòa án của Việt Nam được tổ chức theo địa giới hành
chính. Theo cách thức tổ chức này thì tất cả các tỉnh thành và các quận huyện trên
cả nước đều có cơ quan Tòa án. Cách tổ chức như vậy dẫn đến nhu cầu cần phải
phân định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ hoặc theo sự lựa chọn của nguyên
đơn, nghĩa là, phải xác định Tòa án của địa phương nào sẽ có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp, tránh sự chồng chéo trong việc thực hiện thẩm quyền giữa các Tòa án
cùng cấp.
Thứ hai, hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức ở bốn cấp là Tòa án nhân
dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thẩm quyền của Tòa án nhân dân
cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân
dân tối cao. Quy định này đặt ra cho pháp luật tố tụng dân sự một nhiệm vụ là phải
20


quy định những vụ án nào thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân
cấp huyện, những vụ án nào thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thẩm
quyền giải quyết xét xử theo trình tự phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao và
trình tự tái thẩm, giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao.
Thứ ba, trong Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp cao lại có
các Tòa chuyên trách, bao gồm Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động,
Tòa hành chính và Tòa gia đình và người chưa thành niên; đối với Tòa án nhân dân
cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thể có Tòa hình sự, Tòa dân sự,
Tòa gia đình và người chưa thành niên và Tòa xử lý hành chính. Điều này dẫn đến
yêu cầu cần phải có sự phân định thẩm quyền giữa các Tòa chuyên trách trong cùng
một cấp Tòa án. Do đó, pháp luật tố tụng dân sự cần có những quy định phân loại
thẩm quyền của Tòa án theo loại việc để xác định các vụ việc thuộc thẩm quyền giải
quyết của từng Tòa chuyên trách nhằm chuyên biệt hóa lĩnh vực quan hệ xã hội theo

nghiệp vụ, năng lực và sự độc lập khách quan của đội ngũ cán bộ Tòa án trong việc
giải quyết tranh chấp.
Trong hệ thống Tòa án, chỉ có Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân
dân cấp tỉnh là có thẩm quyền xét xử theo thủ tục dân sự sơ thẩm, trong đó, ở mỗi
cấp Tòa án lại có những ưu thế riêng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự. Tòa
án cấp huyện là Tòa án cơ sở tại địa phương nên sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi hơn
trong việc trực tiếp xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ tranh
chấp ở địa phương, đồng thời dễ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho đương sự trong
việc tham gia tố tụng. Tòa án cấp tỉnh là Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án cấp
huyện nên có ưu thế hơn về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm xét xử và năng lực
của đội ngũ cán bộ thẩm phán; có điều kiện tốt về cơ sở hạ tầng và phương tiện vật
chất kỹ thuật phục vụ cho quá trình xét xử. Chính từ sự khác biệt đó đã đặt ra vấn
đề cần phải xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ở
từng cấp Tòa án để mỗi Tòa án có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong
phạm vi thẩm quyền.
1.3.5. Căn cứ vào các cơ sở khác
22


Ngoài các cơ sở chủ yếu nêu trên, một số cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý
khác như bản chất của quan hệ pháp luật tranh chấp, tính chất phức tạp của vụ tranh
chấp; việc đảm bảo tính khách quan, vô tư của những người tiến hành tố tụng trong
quá trình giải quyết tranh chấp; hay một số quyền căn bản của đương sự như quyền
tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, quyền quyết định và tự định đoạt
của đương sự... cũng được các nhà làm luật dựa vào trong quá trình phân định thẩm
quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án.
1.4. Các nguyên tắc phân định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết
các tranh chấp kinh doanh, thương mại
Để xác định cụ thể Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại, ta cần căn cứ vào các nguyên tắc phân định thẩm quyền sau đây:

nguyên tắc xây dựng hệ thống Tòa án theo cấp của Việt Nam. Trước đây, pháp luật
Việt Nam còn phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế giữa các cấp Tòa
án dựa vào giá trị của tranh chấp. Tuy nhiên, không phải mọi tranh chấp đều có thể
xác định được giá trị tranh chấp ngay từ đầu, do đó, pháp luật tố tụng dân sự hiện
hành không căn cứ vào giá trị của tranh chấp mà dựa vào nhiều cơ sở khác nhau,
trong đó tính chất của tranh chấp là một trong những cơ sở quan trọng để phân định
thẩm quyền của Tòa án các cấp. Việc phân định thẩm quyền như vậy là cần thiết để
đảm bảo trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án và các điều
kiện về cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật của Tòa án từng cấp trong việc giải
quyết tranh chấp.
Trên thế giới, ở các nước có thành lập Tòa án thương mại đều tổ chức Tòa án
thương mại với hình thức là một Tòa chuyên trách trong hệ thống các cơ quan tư
pháp. Các Tòa án thương mại này chỉ xét xử sơ thẩm. Nếu có sự chống án đối với
bản án sơ thẩm (kháng cáo) thì vụ án sẽ được đưa ra xét xử ở Tòa thượng thẩm
(phúc thẩm) dân sự như các vụ kiện dân sự [31, tr.27].
1.4.3. Phân định thẩm quyền theo lãnh thổ
Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ là thẩm quyền của Tòa án trong việc
giải quyết các vụ việc dân sự theo phạm vi địa giới hành chính. Sự phân định thẩm
24


quyền của Tòa án theo lãnh thổ trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh,
thương mại là việc xác định Tòa án tại địa phương nào sẽ có thẩm quyền xét xử sơ
thẩm tranh chấp kinh doanh, thương mại đó. Điều đó sẽ tránh được những chồng
chéo về thẩm quyền xét xử sơ thẩm giữa các Tòa án cùng cấp. Hơn nữa, về nguyên
tắc, việc phân định thẩm quyền theo lãnh thổ là nhằm xác định Tòa án có điều kiện
tốt nhất để giải quyết vụ việc. Bởi vậy, việc phân định thẩm quyền này sẽ đảm bảo
cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, đúng đắn, tạo thuận lợi cho việc tham
gia tố tụng của các đương sự, thuận lợi cho việc giải quyết vụ án của Tòa án và
thuận lợi cho việc thi hành án.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status