Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn tại các tòa án nhân dân tỉnh bắc ninh - Pdf 61

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN TẠI CÁC TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

NGUYỄN CHÍ HOAN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 838.0107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN TRIỀU DƯƠNG

HÀ NỘI – 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu trích dẫn trong luận văn đảm là hoàn toàn trung thực, chính xác, bảo đảm độ
tin cậy. Những ý kiến đề xuất khoa học trong luận văn là kết quả nghiên cứu của
tác giả.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN VĂN



Nguyễn Chí Hoan


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH
DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN ....................................................................7
1.1. Khái quát về tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại ........................................................................................................7
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp kinh doanh thương mại ..........................7
1.1.2. Khái niệm, các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại .10
1.2. Khái quát về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án ở Việt
Nam ...........................................................................................................................11
1.2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án .........11
1.2.2. Đặc điểm và bản chất của giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng
Tòa án ........................................................................................................................12
1.3. Những nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
bằng Tòa án ...............................................................................................................13
1.3.1. Nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (Điều 5
BLTTDS 2015): .........................................................................................................14
1.3.2. Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự (Điều 8
BLTTDS 2015): .........................................................................................................14
1.3.3. Nguyên tắc Tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng
cứ ...............................................................................................................................15
1.3.4. Nguyên tắc hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại .....16
1.3.5. Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời đảm bảo khắc phục kịp
thời các thiệt hại cho bên bị vi phạm ........................................................................17
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại của Tòa án ở Việt Nam ..........................................................................18


Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY................................................................................................................70
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại tại Tòa án nhân dân ................................................................................70
3.1.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại tại Tòa án nhân dân ....................................................................70
3.1.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại tại Tòa án nhân dân ...............................................................................71
3.2. Một số giải pháp cụ thể ......................................................................................72
3.2.1.Giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
...................................................................................................................................72
3.2.2. Giải pháp về thực hiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại .............................................................................................................................77
Kết luận chương 3 .....................................................................................................82
KẾT LUẬN ...............................................................................................................83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................84


DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức TAND ở Việt Nam hiện nay theo Luật Tổ chức TAND
2014 [52]. ..................................................................................................................13
Sơ đồ 2: Quy trình giải quyết tranh chấp KDTM tại TAND theo Bộ Luật Tố tụng
dân sự năm 2015 [51]. ...............................................................................................32


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế nhằm thúc đẩy sự phát triển tất



Trên thực tế, các tranh chấp KDTM ở Việt Nam hầu hết được lựa chọn giải
quyết bằng con đường Tòa án, các bên tham gia hoạt động KDTM khi tham gia giao kết
hợp đồng thương mại thường không biết và nêu quy định lựa chọn trọng tài trong hợp
đồng nên khi xảy ra tranh chấp không được áp dụng thủ tục này nên việc lựa chọn ưu
tiên giải quyết tranh chấp KDTM bằng thủ tục Tòa án là giải pháp hiệu quả nhất. Tuy
nhiên, ngoài những ưu điểm bằng việc giải quyết tranh chấp thông qua con đường Tòa
án thì cũng không ít những nhược điểm của phương thức này khiến các doanh nghiệp
băn khoăn khi lựa chọn giải quyết tại Tòa án như: thủ tục phức tạp, rườm rà hay thời
gian giải quyết kéo dài, việc bảo mật thông tin không được đảm bảo. Tuy nhiên, Tòa án
là cơ quan tài phán quốc gia, mang tính cưỡng chế nghiêm minh nên việc lựa chọn Tòa
án là cơ sở giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực KDTM vẫn là lựa chọn an toàn cho các
doanh nghiệp.
Hiện tại, thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp KDTM ở Tòa án được quy định
tại Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Trên cơ sở chính là BLTTDS, tác giải nghiên
cứu đề tài này nhằm mục đích tìm hiểu những ưu và nhược điểm của phương thức giải
quyết nêu trên, từ đó có thể góp phần nhỏ nhoi vào công tác cải sửa hoàn chỉnh phương
thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại thông qua con đường Tòa án
cho các doanh nghiệp đang hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam. Vì vậy, việc sửa đổi hệ thống pháp luật tố tụng trong lĩnh vực này cùng với
thay đổi ngành Tòa án nhân dân (TAND), tạo niềm tin cho các doanh nghiệp khi gửi
gắm cho Tòa án giải quyết các tranh chấp KDTM là việc làm hết sức cần thiết phải thực
hiện.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về
vấn đề giải quyết tranh chấp KDTM ở Tòa án theo những khía cạnh khác nhau như:
Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam, tập 1, 2, Đại học Luật Hà Nội, năm
2018; Giáo trình Luật Thương mại, Đại học Quốc giá Hà Nội, năm 2013; Giáo trình
Pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, Đại học Luật

lựa chọn nghiên cứu các vấn đề cơ bản còn tồn tại và kém hiệu quả của công tác giải
quyết tranh chấp KDTM bằng con đường Tòa án đồng thời rút ra những sáng kiến,
đóng góp định hướng sửa đổi hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này để
phục vụ cho công tác của ngành TAND và VKSND, góp phần nâng cao hiệu quả giải
quyết tranh chấp KDTM trên thực tế là rất cần thiết và hoàn toàn phù hợp với yêu cầu
mới trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn chọn khuôn khổ trình tự, thủ tục tố
tụng trong công tác giải quyết án KDTM tại các TAND tỉnh Bắc Ninh nói riêng và
3


TAND ở Việt Nam nói chung, trên cơ sở các quy định của phần thủ tục sơ thẩm của các
phiên Tòa trong BLTTDS và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện
BLTTDS và có liên quan làm đối tượng nghiên cứu và khoanh vùng phạm vi nghiên
cứu.
Do thời gian thực hiện còn hạn chế, luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu thủ
tục giải quyết tranh chấp KDTM đến giai đoạn sơ thẩm tại các Tòa án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh.
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là để hoàn thiện những quy định của pháp luật về
giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án.
Nghiên cứu một cách tổng quát các vấn đề lý luận cơ bản của nội dung tố tụng
tại Tòa án (chủ yếu dựa trên văn bản pháp luật hiện hành là BLTTDS và các văn bản
pháp lý có liên quan cùng với thực tiễn hoạt động xét xử các loại án KDTM tại TAND
hiện nay). Từ đó, có phương hướng đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng
giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM hiện nay. Mục tiêu cụ thể như sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại tại Tòa án.

pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân ở
Việt Nam hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin,
Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về
phát triển kinh tế - xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế.
Các phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu đề tài bao gồm các
phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học
pháp lý nói riêng như phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, hệ thống
hóa pháp luật,…
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này chủ yếu vận dụng phương pháp nghiên cứu
pháp luật truyền thống và phổ biến là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, đó là: Phương pháp khai thác các tài liệu sẵn có như các văn bản pháp luật, giáo
trình, tạp chí chuyên ngành, các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan tới đề tài
nghiên cứu. Phương pháp phân tích và so sánh luật. Phương pháp diễn dịch và quy nạp.
Phương pháp tổng hợp.
Từ đó rút ra những nhận xét và kết luận trong quá trình giải quyết những nhiệm
vụ mà luận văn đề ra.
5


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần hoàn thiện pháp luật quy định về giải quyết tranh chấp
KDTM bằng Tòa án. Đồng thời là tài liệu tham khảo tốt cho giới doanh nghiệp, phục vụ
và đáp ứng nhu cầu hiểu biết pháp luật bằng Tòa án cho các nhà kinh doanh, giúp họ tin
tưởng và sử dụng một cách thường xuyên phương thức giải quyết tranh chấp KDTM
bằng Tòa án.
Các kết quả nghiên cứu của luận văn cũng rất bổ ích cho việc học tập, nghiên
cứu và giảng dạy pháp luật tại các Trung tâm đào tạo khoa học pháp lý tại Việt Nam.

BLTTDS 2004. Trước khi thuật ngữ tranh chấp KDTM xuất hiện, thực tiễn giải quyết
tranh chấp phân chia thành tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh tế. Các tranh chấp phát
sinh trong đời sống hàng ngày bao gồm các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phi tài
sản được coi là tranh chấp dân sự và điều chỉnh bởi BLDS 1995. Tranh chấp phát sinh
từ hợp đồng kinh tế và hoạt động tổ chức kinh doanh của các doanh nghiệp, hoạt động
mua bán trái phiếu, cổ phiếu được coi là các tranh chấp kinh tế, được điều chỉnh chủ
yếu bởi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
Tình trạng này đã được cải thiện một cách đáng kể sau nỗ lực cải cách về tư duy
pháp lý lớn vào năm 2005. Kết quả là cho ra đời BLDS 2005, Luật Thương mại năm
2005, bãi bỏ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 đã thống nhất về cách điều chỉnh
hợp đồng. BLDS có vai trò như đạo luật gốc, điều chỉnh liên thống tất cả các quan hệ
dân sự, lao động, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình; BLTTDS 2004 ra đời,
tiếp đó là BLDS 2004, BLDS 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011), BLDS 2015 đã
thống nhất thủ tục giải quyết tranh chấp nếu xảy ra đối với tất cả các quan hệ này.

7


Theo nghĩa thông thường của từ, tranh chấp KDTM có thể được hiểu là tranh
chấp về kinh doanh thương mại hoặc tranh chấp trong kinh doanh thương mại. Và như
vậy, có hai khái niệm nhỏ cần làm rõ là khái niệm tranh chấp và khái niệm KDTM
trước khi đi làm rõ khái niệm tranh chấp KDTM.
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, tranh chấp được hiểu là “Đấu
tranh, giằng có khi có mẫu thuẫn, bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi
giữa hai bên” [38, tr.14].
Theo khoản 16, điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 thì: “Kinh doanh là việc
thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư,từ
sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục
đích sinh lợi.”.
Khoản 1 điều 3 Luật Thương mại năm 2005 định nghĩa: “Hoạt động

tranh chấp thương mại: Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung
đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương
mại [22, tr.432].
Từ những phân tích trên, có thể thấy hiện nay, vẫn chưa đưa ra được cách hiểu
thống nhất, đặc biệt là chưa có văn bản pháp lý nào quy định cụ thể khái niệm tranh
chấp KDTM mà mới chỉ dừng lại ở vấn đề quan điểm của một số tác giả trên cơ sở tiếp
cận nó thông qua luật nội dung và luật tố tụng.
Như vậy, có thể hiểu khái niệm tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất
đồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có liên quan đến
lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và thương mại. Và có thể định nghĩa một cách ngắn gọn đối
với tranh chấp KDTM như sau: “Tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất đồng hay
xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia các quá trình của hoạt
động KDTM”.
b. Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh thương mại
Từ những phân tích về cách tìm hiểu của nội hàm tranh chấp KDTM như trên có
thể thấy tranh chấp KDTM là các tranh chấp bao hàm các đặc điểm pháp lý sau:
- Chủ thể tranh chấp KDTM là các chủ thể tham gia hoạt động KDTM, các thủ
thể tham gia toàn bộ quá trình từ lao động sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng
dịch vụ trên thị trường và các hoạt động khác với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Do đó,
trên thực tế chủ thể của tranh chấp KDTM có thể là thương nhân hoặc các nhà đầu tư
khác.
- Tranh chấp KDTM là tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện các hoạt động
KDTM giữa các chủ thể, khi ít nhất một bên cho là quyền và nghĩa vụ hợp pháp của
mình bị bên kia xâm phạm, và yêu cầu phải được giải quyết.

9


- Tranh chấp KDTM phải là những tranh chấp phát sinh trong hợp đồng đã cam
kết giữa các bên (hợp đồng thương mại, góp vốn thành lập công ty, mua bán chứng



1.2. Khái quát về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án ở
Việt Nam
1.2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án
Có thể nhận thấy, mối quan hệ trong hoạt động KDTM vừa mang tính xung đột
vừa mang tính hợp tác. Vì thế, khi xảy ra tranh chấp các bên luôn tìm cách nhanh chóng
để giải quyết các xung đột, mâu thuẫn để sớm đưa hoạt động kinh doanh, sản xuất của
mình trở lại bình thường, ổn định. Do đó, việc giải quyết tranh chấp KDTM đòi hỏi các
bên tranh chấp cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp phải tiến hành nhanh chóng, kín
đáo, không làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của các bên đồng thời
phải luôn đảm bảo được sự hợp tác trong hoạt động KDTM.
Như đã phân tích, tranh chấp KDTM là việc phát sinh các mâu thuẫn, bất đồng
từ hoạt động sản xuất, đầu tư hay cung ứng các dịch vụ,…(được gọi chung là các hoạt
động KDTM). Đây là một trong các loại việc thuộc lĩnh vực đầu tư, do đó các bên có
quyền thỏa thuận lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh ngay từ trước khi
nó xảy ra (quyền định liệu trước) hoặc sau khi tranh chấp xảy ra. Việc lựa chọn phương
thức giải quyết tranh chấp của các bên được thực hiện trên cơ sở sự nhanh chóng, ít tốn
kém và phải đảm bảo các quyền tự do kinh doanh của các chủ thể, không cản trở các
hoạt động kinh doanh của chủ thể và không làm mất cơ hội kinh doanh của họ.
Việc giải quyết tranh chấp KDTM là các bên tranh chấp thông qua hình thức, thủ
tục thích hợp tiến hành các giải giáp nhằm loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột, bất
đồng về lợi ích kinh tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Pháp luật
giải quyết tranh chấp KDTM, bao gồm các quy trình từ khi có tranh chấp đến khi quá
trình giải quyết tranh chấp hoàn thiện.
Tóm lại: Giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án được hiểu là quá trình cơ
quan Tòa án phân xử để làm rõ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các bên, buộc bên vi
phạm nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên bị vi phạm. Việc giải
quyết tranh chấp KDTM được tiến hành khi có ít nhất một bên cho rằng mình có quyền,
lợi ích hợp pháp bị bên kia xâm hại và có thể yêu cầu được giải quyết. Kết quả là các

được nhanh chóng, thuận lợi hơn so với các thủ tục khác.
*Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay theo Luật Tổ chức
TAND 2014:

12


Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức TAND ở Việt Nam hiện nay theo
Luật Tổ chức TAND 2014 [52].
1.3. Những nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
bằng Tòa án
Nguyên tắc cơ bản trong trong một đạo luật là tổng hợp những tư tưởng, quan
điểm chỉ đạo mang tính khái quát, xuyên suốt trong cả đạo luật. Nội dung của các quy
định tiếp theo chỉ là sự cụ thể hóa các tư tưởng, quan điểm này. Là một quy trình giải
quyết tranh chấp đặc biệt do Tòa án – cơ quan tư pháp của Nhà nước đứng ra tiến hành,
giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án phải tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản được
quy định trong BLTTDS 2015 hiện hành như sau:
13


1.3.1. Nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (Điều 5
BLTTDS 2015):
Về nguyên tắc, các quan hệ kinh tế là những quan hệ được xác lập một cách tự
nguyện, xuất phát từ ý chí và nguyện vọng của các bên mà không có bất cứ sự cưỡng
ép, đe dọa nào trong quá trình xác lập, thực hiện. Chính vì thế, khi phát sinh tranh chấp,
bên bị vi phạm có quyền yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
nhưng ngược lại, họ cũng có quyền từ bỏ quyền lợi của mình đã bị xâm phạm dù đã có
yêu cầu Nhà nước bảo vệ. Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các đương
sự được thể hiện trong suốt các giai đoạn của quá trình tố tụng, họ có thể khởi kiện hoặc
không khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ việc, các đương sự có quyền chấm dứt,

dẫn đến họ không thực hiện được hết quyền của mình như: vấn đề khởi kiện, cung cấp
chứng cứ hay bào chữa trước Toà án,...dẫn đến chịu phán quyết bất lợi cho họ hoặc có
trường hợp xuất phát ngay từ việc vi phạm trong quá trình tiến hành tố tụng của Toà án
hoặc quy định của pháp luật chưa phù hợp dẫn đến bất bình đẳng cho các đương sự.
Đây là vấn đề lớn, để khắc phục phải tiến hành đồng bộ từ giai đoạn xây dựng pháp
luật, cải cách cơ cấu tổ chức của Toà án, nâng cao trình độ của các Thẩm phán và trình
độ hiểu biết và tuân thủ pháp luật của các cá nhân, tổ chức hoạt động trong vấn đề kinh
doanh.
1.3.3. Nguyên tắc Tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng
cứ
Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân sự trong việc giải quyết các tranh chấp
trong kinh doanh, thương mại. Khác với giải quyết các vụ án hình sự, giải quyết tranh
chấp trong kinh doanh thương mại thì Tòa án không tiến hành điều tra mà đương sự có
quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh
cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện,
yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu
thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ
đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ
trong những trường hợp nhất định (Điều 6 BLTTDS 2015).
Việc quy định đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh
cho yêu cầu của mình, trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được
chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán có trách nhiệm hỗ trợ đương sự và chỉ tự mình
thu thập chứng cứ hoặc trong các trường hợp khác mà pháp luật có quy định. Trong
BLTTDS 2015 không quy định biện pháp chế tài mà chỉ quy định chung chung nếu
không cung cấp chứng cứ thì bị bất lợi và không có quy định về thời hạn bắt buộc
đương sự phải cung cấp chứng cứ nếu không cung cấp thì chứng cứ đó không có giá trị
15


hoặc phải chịu chế tài như: phạt tiền,...vì vậy, thực tế có trường hợp đương sự đang giữ

kinh doanh, thương mại. Đồng thời làm tốt hòa giải sẽ hạn chế những tốn kém về tiền
16


bạc, thời gian của Nhà nước, công sức của cán bộ Nhà nước cũng như của công dân,
hạn chế những khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp. BLTTDS 2015 cũng quy định
cụ thể việc hòa giải được thực hiện ở tất cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi
chuẩn bị xét xử đến khi bắt đầu xét xử tại phiên tòa, trừ những vụ án không được hòa
giải như yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước, hoặc những vụ án
kinh tế phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội.
Việc hòa giải là thủ tục bắt buộc khi giải quyết các vụ án kinh tế, đặc biệt là cấp
sơ thẩm, nhưng không được hướng dẫn, đào tạo có bài bản cho các Thẩm phán. Việc
hòa giải hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm của các Thẩm phán. Xu hướng chung của các
Thẩm phán là hướng tới việc làm rõ đúng sai giữa các doanh nghiệp; chưa hoặc chưa
biết quan tâm đúng mức đến vấn đề mà các đương sự hướng tới là lợi nhuận (nhiều hay
ít nhưng phải có lợi) đó là điều kiện tiên quyết để đi tới xu hướng nhân nhượng hợp tác
trong kinh doanh của các bên đương sự. Nếu việc hòa giải không thành có thể dẫn đến
căng thẳng, khi hòa giải không thành thì mâu thuẫn sẽ tăng lên bội phần và việc thúc
đẩy sự thương lượng, tự thỏa thuận giữa các đương sự trong các giai đoạn tố tụng tiếp
sau sẽ kém hiệu quả.
1.3.5. Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời đảm bảo khắc phục kịp thời
các thiệt hại cho bên bị vi phạm
Về nguyên tắc, khi giải quyết các vụ việc thương mại phải nhanh chóng, kịp thời
đảm bảo khắc phục kịp thời cho bên bị vi phạm, trong BLTTDS 2015 quy định cụ thể
thời hạn ở các giai đoạn tố tụng, như thời hạn thụ lý, thời hạn thu thập chứng cứ và đưa
vụ việc ra xét xử, thời hạn phát hành quyết định, bản án, thời hạn kháng cáo, khiếu nại
và giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm...Phần lớn Toà án các cấp đều giải
quyết vụ việc trong thời hạn luật định. Tuy nhiên, trong thực tế có một số trường hợp vi
phạm thời hạn dẫn đến việc giải quyết không kịp thời như: vi phạm thời gian phát hành
quyết định, bản án, thời gian gian thu thập chứng cứ,...Nguyên nhân việc vi phạm phần

phần đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được an toàn, kín
đáo,…Các quy định của pháp luật đặc biệt là luật tố tụng càng khoa học và hợp lý tránh
rườm rà, khó khăn, không bị trùng lặp, có tác dụng thúc đẩy thời gian giải quyết nhanh
chóng, đảm bảo chất lượng đầu ra.
Ngoài ra, khi tiến hành giải quyết mỗi vụ án tranh chấp KDTM thì các bên
đương sự có thể cung cấp cho Tòa án hoặc Tòa án thu thập các tài liệu chứng cứ đảm
bảo đầy đủ, phản ánh chân thực những bất đồng, mâu thuẫn từ hoạt động sản xuất, kinh

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status