Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn tại toà án nhân dân huyện yên khánh tỉnh ninh bình - Pdf 50

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Theo số liệu đánh giá của ngành tòa án, hàng năm mỗi đơn vị tòa án cấp
quận huyện thụ lý hàng trăm vụ án lớn nhỏ liên quan đến tranh chấp kinh doanh
thương mại (KDTM). Hầu hết là các tranh chấp từ hợp đồng mua bán hàng hóa,
tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng dịch vụ, yêu cầu thực hiện
nghĩa vụ thanh toán…Sự gia tăng của các tranh chấp như trên cũng như những loại
án đặc thù trong lĩnh vực KDTM ngày càng đa dạng và phức tạp, đòi hỏi sự không
ngừng nghiên cứu và làm mới các yêu cầu luật pháp cũng như chuyên môn trong
lĩnh vực giải quyết tranh chấp loại này để giải quyết ổn thỏa, đảm bảo quyền lợi
cho các bên là việc làm không phải đơn giản. Để đáp ứng nhu cầu này, tác giả
mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài “Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh – tỉnh Ninh Bình”.
Trên thực tế, các tranh chấp KDTM ở Việt Nam hầu hết đều được lựa chọn
giải quyết bằng con đường tòa án, các bên tham gia hoạt động KDTM khi giao kết
hợp đồng thương mại thường không biết và nêu quy định lựa chọn trọng tài trong
hợp đồng nên khi xảy ra tranh chấp không được áp dụng thủ tục này nên việc lựa
chọn ưu tiên giải quyết tranh chấp KDTM bằng thủ tục tòa án là giải pháp hiệu quả
nhất. Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm bằng việc giải quyết tranh chấp thông
qua con đường tòa án thì cũng không ít những nhược điểm của phương thức
này khiến các doanh nghiệp băn khoăn khi lựa chọn giải quyết tại tòa án như: thủ
tục phức tạp, rườm rà hay thời gian giải quyết kéo dài, việc bảo mật thông tin
không được đảm bảo. Tuy nhiên, tòa án là cơ quan tài phán quốc gia, mang tính
cưỡng chế nghiêm minh nên việc lựa chọn tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp
trong lĩnh vực KDTM vẫn là lựa chọn an toàn cho các doanh nghiệp.
Hiện tại, thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp KDTM ở tòa án được quy
định tại BLTTDS. Trên cơ sở chính là BLTTDS, tác giả nghiên cứu đề tài này
nhằm mục đích tìm hiểu những ưu và nhược điểm của phương thức giải quyết nêu

1


2


3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn chọn khuôn khổ trình tự, thủ
tục tố tụng trong công tác giải quyết án KDTM tại tòa án nhân dân (trên cơ sở các
quy định của phần thủ tục của phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm trong BLTTDS và
các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện BLTTDS và có liên quan
làm đối tượng nghiên cứu và khoanh vùng phạm vi nghiên cứu.
Do thời gian thực hiện còn hạn chế, luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu
thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM đến giai đoạn phúc thẩm tại TAND huyện
Yên Khánh – Ninh Bình.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này chủ yếu vận dụng phương pháp
nghiên cứu pháp luật truyền thống và phổ biến là phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, đó là:
Phương pháp khai thác các tài liệu sẵn có như các văn bản pháp luật, giáo
trình, tạp chí chuyên ngành, các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến
đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích và so sánh luật.
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp
- Phương pháp tổng hợp;
Từ đó rút ra những nhận xét và kết luận trong quá trình giải quyết những
nhiệm vụ mà luận văn đề ra.
5. Tình hình nghiên cứu:
Hiện tại, có rất nhiều đề tài nghiên cứu và cả các công trình khoa học đã
nghiên cứu về nội dung giải quyết tranh chấp KDTM bằng tòa án, hoặc TTTM
hoặc bằng con đường hòa giải hay thương lượng hoặc bằng nhiều phương thức
khác. Tuy nhiên, việc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở các bài viết, chưa thực sự
được áp dụng thực tiễn khoa học, khiến cho việc áp dụng luật trên thực tế trong

a. Tranh chấp kinh doanh thương mại
Theo Triết học Mac-Lê nin, mâu thuẫn là quy luật chung của xã hội, là
nguồn gốc, là động lực của sự phát triển. Mâu thuẫn luôn luôn tồn tại như một tất
yếu tự nhiên trên mọi lĩnh vực của xã hội, tạo nên sự phát triển của xã hội. Tranh
chấp là những xung đột thường phát sinh từ những mâu thuẫn và từ những lợi ích
riêng. Tuy nhiên, mâu thuẫn và tranh chấp lại tạo nên những phát triển của xã hội,
góp phần xây dựng xã hội ngày càng hiện đại, văn minh. Theo định nghĩa của từ
điển Tiếng Việt, “Tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có mâu thuẫn, bất đồng,
thường là trong vấn đề quyền lực giữa hai bên” [1,66, tr 1024] Tranh chấp KDTM
được hiểu là những tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh và thương mại, cụ thể:
Theo quy định tại khoản 2 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 (LDN
2005): “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ
trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Theo quy định tại khoản 1 điều 3 Luật Thương mại năm 2005 (LTM
2005):“ Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động
nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Như vậy, cả hai hoạt động kinh doanh và thương mại nêu trên có cùng nội
hàm về việc các chủ thể kinh doanh cùng hoạt động đầu tư, kinh doanh, cung ứng
các dịch vụ…nhằm mục đích sinh lợi, do đó hai hoạt động này đã được BLTTDS
gọi chung là hoạt động KDTM và đưa vào cùng một quy trình khi giải quyết tranh
chấp là hoàn toàn phù hợp. BLTTDS không dùng khái niệm “tranh chấp về hợp
5


đồng kinh tế” như Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế mà dùng khái niệm “tranh
chấp trong hoạt động KDTM” và đã liệt kê đầy đủ hơn các hành vi KDTM nào có
tranh chấp thì thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân.
Có thể nhận thấy rằng, khái niệm tranh chấp KDTM thực chất là những mâu

sau:
- Chủ thể trong tranh chấp KDTM là các chủ thể tham gia hoạt động KDTM
là các chủ thể tham gia toàn bộ quá trình từ lao động sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm cung ứng các dịch vụ trên thị trường, các hoạt động xúc tiến, đầu tư thương
mại, cung ứng dịch vụ trên thị trường và các hoạt động khác với mục đích tìm
kiếm lợi nhuận. Do đó, trên thực tế chủ thể của tranh chấp KDTM có thể là thương
nhân hoặc các nhà đầu tư khác.
- Tranh chấp KDTM là tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện các hoạt
động KDTM giữa các chủ thể, khi ít nhất một bên cho là quyền và nghĩa vụ hợp
pháp của mình bị bên kia xâm phạm, và yêu cầu phải được giải quyết.
- Tranh chấp KDTM phải là những tranh chấp phát sinh trong hợp đồng đã
cam kết giữa các bên (hợp đồng thương mại, góp vốn thành lập công ty, mua bán
chứng khoán ...).
1.1.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng con đường
Tòa án
Khi tranh chấp xảy ra, có rất nhiều con đường giải quyết mà các bên có thể lựa
chọn. Con đường nào ngắn nhất, ít tốn kém nhất có thể khôi phục lại được các quyền,
lợi ích hợp pháp của mình sẽ được các bên lựa chọn. Trên thực tế, tranh chấp KDTM
có thể được giải quyết bằng những con đường như Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài,
Tòa án.
Tòa án là thiết chế mang quyền lực tài phán cao nhất. Quyền lực tài phán của
Tòa án là đương nhiên xuất phát từ chức năng bảo vệ pháp luật của cơ quan tư pháp.
Giải quyết tranh chấp KDTM

bằng toà án là hình thức giải quyết tranh chấp do cơ

quan tài phán của nhà nước thực hiện. Được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm
ngặt, chặt chẽ. Bản án hay quyết định của Toà án về vụ tranh chấp được đảm bảo thi
hành bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước.
Giải quyết tranh chấp KDTM bằng con đường Tòa án có những đặc trưng sau:

tiến hành nhanh chóng, kín đáo, không làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh
doanh của các bên đồng thời phải luôn đảm bảo được sự hợp tác trong hoạt động
KDTM.
Như đã phân tích, tranh chấp KDTM là việc phát sinh các mâu thuẫn, bất
đồng từ hoạt động sản xuất, đầu tư hay cung ứng các dịch vụ…(được gọi chung là
8


các hoạt động KDTM). Đây là một trong các loại việc thuộc lĩnh vực tư, do đó các
bên có quyền thỏa thuận lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh ngay
từ trước khi nó xảy ra (quyền định liệu trước) hoặc sau khi tranh chấp xảy ra. Việc
lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của các bên được thực hiện trên cơ sở
sự nhanh chóng, ít tốn kém và phải đảm bảo các quyền tự do kinh doanh của các
chủ thể, không cản trở các hoạt động kinh doanh của chủ thể và không làm mất cơ
hội kinh doanh của họ.
Việc giải quyết tranh chấp KDTM là các bên tranh chấp thông qua hình
thức, thủ tục thích hợp tiến hành các giải pháp nhằm loại bỏ những mâu thuẫn,
xung đột, bất đồng về lợi ích kinh tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
mình. Pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM là các quy định điều chỉnh quy trình
tiến hành giải quyết các tranh chấp KDTM, bao gồm các quy trình từ khi có tranh
chấp đến khi quá trình giải quyết tranh chấp hoàn thiện.
Tóm lại, giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại được hiểu là quá
trình phân xử để làm rõ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các bên, buộc bên vi
phạm nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên bị vi phạm. Việc
giải quyết tranh chấp KDTM được tiến hành khi có ít nhất một bên cho rằng mình
có quyền lợi hợp pháp bị bên kia xâm phạm và có yêu cầu được giải quyết. Kết
quả là các quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định lại hoặc mâu thuẫn hay
xung đột giữa các bên được dung hòa thông qua các phán quyết của người đứng ra
giải quyết tranh chấp.
1.2.2 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng tòa

không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Việc thực hiện quyền này của đương sự
không chỉ dừng lại việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm mà còn
được thực hiện cả trong các giai đoạn của quá trình thi hành bản án, quyết định của
tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Việc đề cao nguyên tắc tôn trọng quyền tự định
đoạt của các đương sự nhằm mục đích khuyến khích hòa giải trước khi mở phiên
tòa, thậm chí hòa giải trước khi có đơn khởi kiện tại tòa án, tôn trọng quyền tự hòa
giải của các đương sự khi xảy ra tranh chấp.
- Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật (Điều 8 BLTTDS)
“Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước toà án không phân biệt
dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề

10


nghiệp. Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ
chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác. Các đương sự đều bình đẳng về
quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.” Bình đẳng trước pháp luật trong tố
tụng kinh tế cũng là thể hiện sự bình đẳng trong các mối quan hệ kinh tế. Đó là sự
bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định của pháp luật tố tụng.
Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào đương sự cũng thực hiện được quyền
này, nhiều trường hợp do trình độ hiều biết của đương sự dẫn đến họ không thực
hiện được hết quyền của mình hoặc có trường hợp đương sự vi phạm việc chấp
hành pháp luật trong quá trình tiến hành tố tụng của toà án do sự không hiểu biết
pháp luật. Do đó, cần phải tiến hành sớm cải cách cơ cấu tổ chức của toà án, nâng
cao trình độ của các thẩm phán và trình độ hiểu biết và tuân thủ pháp luật của các
cá nhân, tổ chức hoạt động trong vấn đề kinh doanh, là mục tiêu trong giải quyết
các vấn đề còn tồn đọng về thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM tại
tòa án ở Việt Nam hiện nay.
- Nguyên tắc tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng

các Doanh nghiệp, khuyến khích các bên tự hòa giải, hàn gắn mâu thuẫn, dung hòa
lợi ích, hạn chế căng thẳng xung đột. BLTTDS quy định hòa giải có thể được thực
hiện ở tất cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm… trừ những vụ án không được hòa
giải theo quy định tại Điều181 BLTTDS.
- Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời đảm bảo khắc phục
kịp thời các thiệt hại cho bên bị vi phạm. BLTTDS quy định cụ thể thời hạn trong
từng giai đoạn tố tụng, như thời hạn thụ lý, thời hạn thu thập chứng cứ và đưa vụ
việc ra xét xử, thời hạn tống đạt các văn bản tố tụng, thời hạn ban hành các văn
bản tố tụng, thời hạn kháng cáo, thời hạn kháng nghị... Phần lớn toà án các cấp đều
giải quyết vụ việc trong thời hạn luật định. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại
nhiều trường hợp vi phạm thời hạn từ việc cố tình lẩn tránh của thẩm phán về trình
độ còn hạn chế và vì những tác động khác của xã hội.
1.2.3 Đặc điểm của pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại bằng tòa án.
- Thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án được bắt đầu khi một
trong các bên tranh chấp khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết các nội dung tranh

12


chấp của họ khi các lợi ích của họ bị xâm phạm.
- Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp loại này tuân theo các quy định
của Bộ luật này và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bao gồm các thủ tục tại nhiều
cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm) và thủ tục xem xét lại bản án, quyết định (giám
đốc thẩm hoặc tái thẩm).
- Thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM thường không phụ thuộc vào ý chí
của các bên đương sự.
- Bản án hay quyết định có hiệu lực của tòa án bắt buộc thi hành đối với
các bên và có thể được cưỡng chế thi hành nếu các bên không tự nguyện thi hành.
Đây là đặc điểm khác biệt với các phương thức giải quyết tranh chấp KDTM bằng


14


HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
Giám đốc, tái thẩm

TÒA KINH TẾ

TÒA PHÚC THẨM

TANDTC

TANDTC

UBTP TAND CẤP TỈNH
Giám đốc, tái thẩm

TÒA ÁN KINH TẾ -

TÒA ÁN KINH TẾ - TAND CẤP

TAND CẤP TỈNH

TỈNH

TAND CẤP HUYỆN
Cấp Sơ thẩm

Sơ đồ 1: Cơ cấu thẩm quyền

phần đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp được an toàn,
kín đáo….Các quy định của pháp luật đặc biệt là Luật tố tụng càng khoa học và
hợp lý tránh rườm rà, gây khó khăn, sách nhiễu cho đương sự sẽ tạo ra các công
đoạn làm việc hợp lý khoa học, không bị trùng lắp, có tác dụng thúc đẩy thời gian
giải quyết nhanh chóng, đảm bảo chất lượng đầu ra.

16


Ngoài ra, khi tiến hành giải quyết mỗi vụ án tranh chấp KDTM thì các bên
đương sự có thể cung cấp cho tòa án hoặc tòa án thu thập các tài liệu chứng cứ
đảm bảo đầy đủ, phản ánh chân thực những bất đồng, mâu thuẫn từ hoạt động sản
xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ. Chỉ khi có đầy đủ các tài liệu này thì tòa án
mới đánh giá đúng và chính xác được nội dung tranh chấp và phân xử mới đúng
đắn, công bằng, khách quan. Tuy nhiên, trên thực tế việc cung cấp chứng cứ của
đương sự hoặc tòa án tự mình thu thập chứng cứ chưa thực sự đạt hiệu quả, do đó
gây cản trở cho hoạt động giải quyết tranh chấp KDTM. Các bên đương sự vì các
lý do khác nhau đã cố tình che giấu các chứng cứ chân thực hoặc thậm chí trong
nhiều trường hợp thực tế các bên đương sự còn cố tình tạo ra chứng cứ giả mạo
nhằm che giấu sự thực, đánh lạc hướng cơ quan tòa án, dẫn đến nhiều phán quyết
sai lầm của tòa án khiến cho vụ án không được đánh giá khách quan, gây mất niềm
tin trong cộng đồng doanh nghiệp đối với phán quyết của tòa án.
1.3.2 Yếu tố con người và cơ sở vật chất trong hoạt động giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại bằng tòa án.
Cơ sở vật chất là điều kiện quan trọng, tạo sự yên tâm trong công tác của
cán bộ, thẩm phán tòa án. Cơ sở vật chất đầy đủ sẽ góp phần nâng cao chất lượng
giải quyết án, tạo dựng sự tin tưởng, yên tâm để doanh nhân lựa chọn phương thức
tòa án để giải quyết tranh chấp trong KDTM. Ngoài ra, do tính chất nghiêm trang,
uy nghi nên càng đòi hỏi phải trang bị điều kiện cơ sở vật chất tốt cho tòa án để thu
hút được số lượng các loại án tranh chấp KDTM nhất là các loại tranh chấp có liên

tính chất hoạt động quan trọng của cơ quan toà án trong bộ máy Nhà nước dễ dẫn
đến những tiêu cực trong xã hội. Do đó, cần thiết phải xây dựng, kiện toàn, bổ
sung đội ngũ cán bộ và nâng cao chất lượng chuyên môn cho các toà án đào tạo,
xây dựng đội ngũ cán bộ phải bảo đảm đủ trình độ, số lượng với yêu cầu là xác
định rõ từng vị trí việc làm của mỗi cán bộ. Hiện nay, thực trạng ngành tòa án cho
thấy trình độ, năng lực trong giải quyết án tranh chấp KDTM của TAND cấp quận,
huyện vẫn còn hạn chế. Tỷ lệ các vụ án bị kháng cáo, kháng nghị và bị cấp phúc
thẩm sửa, hủy trong KDTM cao hơn các án dân sự, hình sự, hành chính. Nguyên
nhân của những tồn tại, hạn chế về chuyên môn, năng lực, phẩm chất của các cán
bộ, thẩm phán là do chưa được đào tạo nhiều về nghiệp vụ giải quyết án tranh chấp

18


KDTM.
Mặt khác, các thẩm phán cũng thiếu chuyên nghiệp trong lĩnh vực này. Lấy
ví dụ tại TAND huyện Yên Khánh hiện có tổng biên chế khoảng hơn 11 cán bộ,
thẩm phán song số thẩm phán chuyên trách giải quyết án KDTM và hiểu biết sâu
về lĩnh vực này là rất ít (chỉ một người). Tuy nhiên, vấn đề lo ngại không chỉ dừng
ở việc thiếu số lượng và vấn đề về trình độ, năng lực chuyên môn của đội ngũ thẩm
phán mà còn năng lực về ngoại ngữ và kiến thức pháp luật quốc tế còn nhiều hạn
chế cũng đang được đặt ra trước yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của cải cách tư
pháp và hội nhập quốc tế do trình độ, năng lực của đội ngũ thẩm phán trong lĩnh
vực này còn khó khăn, trong khi đó thực tế đã bắt đầu phát sinh nhiều loại vụ án
phức tạp có yếu tố nước ngoài.
Song song với vấn đề về năng lực của đội ngũ thẩm phán thì sự tham gia
của hội thẩm nhân dân trong các vụ án KDTM theo quy định hiện hành và trên
thực tế chỉ mang tính hình thức. Cụ thể theo quy định tại điều 53 BLTTDS, hội
đồng xét xử cấp sơ thẩm gồm có một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân, trong
trường hợp đặc biệt có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân. Khi thực

- Quan điểm về vấn đề tranh chấp và giải quyết tranh chấp KDTM từ những
Doanh nghiệp: Đây là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giải
quyết tranh chấp KDTM bằng con đường tòa án. Việc lựa chọn hay không lựa
chọn giải quyết tranh chấp KDTM bằng tòa án chịu sự ảnh hưởng từ cách nhìn
nhận của giới Doanh nhân về vấn đề này. Do đó, phương thức giải quyết tranh
chấp KDTM bằng tòa án chỉ trở nên phổ biến khi các Doanh nghiệp tin tưởng và
lựa chọn.
1.4 Kinh nghiệm quốc tế về giải quyết tranh chấp bằng tòa án và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam
1.4.1 Giải quyết tranh chấp bằng tòa án ở một số quốc gia trên thế giới.
Hầu hết các nước trên thế giới cũng áp dụng cơ chế tòa án để giải quyết các
tranh chấp KDTM và không tách biệt tranh chấp dân sự. Theo đó, toà án dân sự có
chức năng giải quyết cả tranh chấp về dân sự và các tranh chấp KDTM. Tuy nhiên,
cũng có một số quốc gia tổ chức các tòa án chuyên trách để giải quyết các loại án
tranh chấp KDTM, điển hình như:
Ở một số quốc gia như Pháp, Đức, Anh, có toà thương mại chuyên biệt để
20


giải quyết các tranh chấp KDTM đối với các chủ thể là thương gia, hoạt động kinh
doanh thương mại vì mục tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên, tổ chức, thẩm quyền và thủ
tục tố tụng của mỗi nước có sự khác nhau tuỳ theo hệ thống pháp luật của mỗi
nước. Ví dụ ở nước Đức, toà án thương mại được thành lập nhằm xét xử sơ thẩm
đối với các tranh chấp liên quan đến một hành vi thương mại theo quy định của Bộ
luật thương mại Đức. Toà thương mại nằm trong toà án tỉnh hoặc không thuộc toà
án tỉnh mà ở một nơi cơ quan tư pháp bang xét thấy có yêu cầu. Thành phần xét xử
vụ án kinh tế gồm 1 Thẩm phán chuyên nghiệp làm chủ toạ và 2 Hội thẩm. Các hội
thẩm do phòng thương mại và công nghiệp bổ nhiệm cho từng nhiệm kỳ 3 năm và
có thể được tái bổ nhiệm. Hội thẩm phải từ 30 tuổi trở lên, là thương gia hoặc
thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần hoặc thành viên Ban quản lý của

xét xử thông qua chế định tòa án tại các quốc gia phát triển mà Việt Nam cần phải
học tập.
Ở Singapore, giải quyết các tranh chấp KDTM được thực hiện thông qua cơ
chế trọng tài thuộc về Trung tâm trọng tài quốc tế của Singapore (viết tắt là SIAC Singapore International Arbitration Centre). Quá trình giải quyết được tuân theo
quy tắc trọng tài dựa trên luật mẫu do Ủy ban luật thương mại quốc tế của Liên
hợp quốc (UNCITRAL) ban hành và được luật pháp Singapore thừa nhận (Luật
trọng tài quốc tế của Singapore). Việc lựa chọn Trung tâm trọng tài quốc tế của
Singapore để giải quyết tranh chấp hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện đối với các
bên liên quan và thường được quy định trong điều khoản về giải quyết tranh chấp
của hợp đồng.
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Hiện nay, số vụ tranh chấp KDTM được các bên lựa chọn khởi kiện đến toà
án giải quyết ngày càng tăng. Trong số các vụ việc tranh chấp thì tranh chấp về
hợp đồng mua bán hàng hoá chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng gần 50%; tiếp đến là các
hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng với các tổ chức kinh tế và các hợp đồng dịch vụ
khác.
Các tranh chấp liên quan đến các loại hợp đồng này thường là tranh chấp về
mua bán hàng hoá không thanh toán nghĩa vụ đúng hạn, hoặc giao hàng không
đúng thời gian, chủng loại…Tranh chấp hợp đồng vay tín dụng giữa ngân hàng với
các tổ chức kinh tế cũng rất đa dạng, thường liên quan đến tài sản thế chấp, bảo
22


lãnh như các tài sản thế chấp chưa đủ thủ tục giấy tờ sở hữu, hoặc các bất động sản
còn đang làm thủ tục để sang tên sở hữu thì xảy ra tranh chấp hoặc vay đến hạn
nhưng chưa thanh toán…
Một vấn đề lớn rất quan trọng mà các nhà doanh nghiệp thường quan tâm
đó là hiệu quả của các việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, giải quyết càng chậm
thì càng có lợi cho bên chiếm dụng vốn, các nhà doanh nghiệp thường phải dùng
vốn vay để kinh doanh, đến thời hạn không đủ trả được khoản nợ thì bị nhiều chế

theo nhu cầu và theo dịch vụ, đảm bảo chất lượng, hiệu quả và vẫn mang tính
nghiêm minh của cơ quan đại diện quyền lực nhà nước.
Ngoài ra, để đảm bảo chất lượng xét xử, cần coi trọng chất lượng, kiến thức
về kinh doanh thương mại của người tiến hành tố tụng, đặc biệt cần nâng cao chất
lượng của Hội đồng xét xử đặc biệt là cơ chế HTND trong tình trạng thực tế hiện
nay khi vai trò của HTND khá mờ nhạt và mang tính hình thức trong phiên tòa sơ
thẩm. Do đó, cần bổ sung đội ngũ HTND hiểu biết về KDTM, có thể chọn HTND
từ những thương gia giàu kinh nghiệm, hiểu biết về quá trình kinh doanh, vv...
Nhìn chung, các thủ tục về giải quyết tranh chấp KDTM theo quy định của
BLTTDS còn nhiều rườm rà, kéo dài thời gian tố tụng, khiến cho các doanh
nghiệp không thực sự an tâm khi đưa tranh chấp đến toà án để yêu cầu giải quyết.
So với các thiết chế giải quyết tranh chấp KDTM khác cũng như với cơ quan Tòa
án nước ngoài thì giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án Việt Nam vẫn còn
nhiều yếu điểm. Chính vì vậy, cần có những nghiên cứu, đánh giá sâu sắc và lựa
chọn có chọn lọc để có thể thiết lập nên một thiết chế Tòa án hoàn chỉnh, có đường
lối, thủ tục đơn giản, nhanh chóng nhưng vẫn chặt chẽ là nơi vững tâm để các
doanh nghiệp lựa chọn khi có tranh chấp xảy ra.

Kết luận chương 1
Sự phát triển của nền kinh tế cùng lúc với quá trình hội nhập của đất nước
tạo ra muôn mặt của xã hội doanh nhân vì vậy, tranh chấp trong hoạt động KDTM
thường xuyên xảy ra là điều không thể tránh khỏi và đương nhiên việc giải quyết
tranh chấp là tất yếu và cần thiết. Tuy nhiên, việc lựa chọn phương thức nào để
giải quyết tranh chấp KDTM lại hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên tranh
chấp, do các bên tự lựa chọn. Mỗi phương thức giải quyết tranh chấp đều có những
24


ưu và nhược điểm khác nhau nên việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp
nào là tối ưu sẽ được các bên cân nhắc và áp dụng. Không thể phủ nhận rằng giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status