BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
THỦ TỤC CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH
TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN TRANH CHẤP KINH
DOANH, THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN TẠI CÁC TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.38.01.07
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ : TRẦN HỮU HIỆU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN TRIỀU DƯƠNG
HÀ NỘI – 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Hữu Hiệu
i
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................................. 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................... 4
3.1. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................ 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 5
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ........................................................... 5
6. Ý nghĩa lý luận và những đóng góp của luận văn ................................................. 5
7. Kết cấu của luận văn ............................................................................................ 5
Chương 1................................................................................................................. 7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỦ TỤC CUNG CẤP CHỨNG CỨ
VÀ CHỨNG MINH TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN TRANH CHẤPKINH
DOANH THƯƠNG MẠI ........................................................................................ 7
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải
quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ................................................................. 7
1.1.1. Khái niệm thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại ................................................................................... 7
1.1.2. Ý nghĩa của việc ghi nhận và quy định trong luật thực định về thủ tục cung
cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 17
1.2. Cơ sở của thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án
tranh chấp kinh doanh thương mại ......................................................................... 18
1.2.1. Cơ sở lý luận................................................................................................ 18
1.2.2. Cơ sở thực tiễn............................................................................................. 20
1.3. Các yếu tố bảo đảm thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong
giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại ......................................... 21
1.3.1. Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật .......................................................... 21
iii
nhân dân của tỉnh Hải Dương ............................................................................... 61
3.1.3. Tình hình thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải
quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại tại các Tòa án nhân dân tỉnh
Hải Dương ............................................................................................................ 62
iv
3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ
và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại. ...... 66
3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục cung cấp chứng
cứ và chứng minh .................................................................................................. 66
3.2.2. Đầy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức
pháp luật của người dân ........................................................................................ 67
3.2.3. Nâng cao hiệu quả hoạt động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá
nhân ...................................................................................................................... 68
3.2.4. Nâng cao trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm của Thẩm phán và những
người tiến hành tố tụng……………………………………………………………………70
3.2.5. Thúc đẩy công tác đàm phán, ký Hiệp định song phương và tham gia vào một
số công ước đa phương về tương trợ tư pháp………………………………………….71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ...................................................................................... 72
KẾT LUẬN CHUNG ............................................................................................ 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 76
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLTTDS
thành những phương thức giải quyết tranh chấp. Hiệu quả của việc giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo quyền lợi và nghĩa
vụ của các bên. Một cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại thuận lợi,
minh bạch là nhân tố quan trọng trong việc xây dựng môi trường kinh doanh lành
mạnh cho sự phát triển của nền kinh tế. Thực tiễn cho thấy, khi các bên tranh chấp
kinh doanh thương mại không thể tự thương lượng hoặc qua hòa giải hoặc trọng tài
để giải quyết tranh chấp thì việc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp là
biện pháp tối ưu.
Trong quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp về dân sự nói chung và tranh
chấp KDTM nói riêng, thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh là rất quan trọng,
nó có vai trò quyết định đến việc giải quyết đúng đắn các vụ án tranh chấp, góp
phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hôi
chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan. Ở Việt Nam hiện nay, trình tự giải quyết vụ án tranh
chấp dân sự nói chung và giải quyết tranh chấp KDTM nói riêng đều được quy định
chung trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Bộ luật Tố tụng dân sựnăm 2015 đã có những
quy định cụ thể về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh. Tuy nhiên,thực tiễn
áp dụngpháp luật về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh để giải quyết, xét xử
các vụ án KDTM cho thấy còn nhiều vướng mắc, bất cập. Đó là các quy định về
nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự và việc
1
thực hiện nguyên tắc này trên thực tế; các quy định về chủ thể có nghĩa vụ cung cấp
chứng cứ, trình tự thủ tục cung cấp chứng cứ và việc thực hiện nghĩa vụ chứng
minh trong giải quyết các tranh chấp nói chung trong đó có tranh chấp về KDTM...
Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu làm rõ các quy định của pháp luật và thực
tiễn thực hiện các quy định về thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố
tụng dân sự nói chung đặc biệt là trong giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM để từ
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Là các quy phạm pháp luật hiệnhành
liên quan trực tiếp đến vấn đề thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải
quyết các tranh chấp KDTM mà chủ yếu là quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự
2015 và những văn bản pháp luật có liên quan.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu pháp luật thực định ViệtNam về
thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp
KDTM thông qua thực tiễn tại các Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương trong phạm vi
05 năm (2012 -2016).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Ngoài ra, các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu đề tài bao gồm:
phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, hệ thống hóa pháp luật...
6. Ý nghĩa lý luận và những đóng góp của luận văn
Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện về cả lý luận và thực tiễn, xác định
những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về thủ tục cung cấp chứng cứ và
chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM. Tác giả của luận văn với
mong muốn đây là công trình nghiên cứu có ít nhiều giá trị về mặt lý luận cũng như
thực tiễn để làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động giảng dạy pháp lý cũng như
tạo những gợi ý có giá trị cho các nhà lập pháp hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật
về giải quyết tranh chấp KDTM.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết
cấu thành ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thủ tục cung cấp chứng cứ và
chứng minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại.
của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên
thị trường nhằm mục đích sinh lợi.Luật Thương mại năm 2005 đã đưa ra khái niệm
về hoạt động thương mại tương đối giản đơn nhưng đã hàm chứa và lột tả được nội
hàm của hoạt động thương mại. Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy
định:Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm
mục đích sinh lợi khác. Theo khái niệm này, quan niệm về hoạt động thương mại
được mở rộng bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi. Như vậy, cả hai hoạt
động kinh doanh và thương mại nêu trên có cùng nội hàm về việc các chủ thể kinh
doanh cùng hoạt động đầu tư, kinh doanh, cung ứng các dịch vụ…nhằm mục đích
sinh lợi, do đó hai hoạt động này đã được Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 gọi chung là
7
hoạt động kinh doanh, thương mại và đưa vào cùng một quy trình khi giải quyết
tranh chấp là hoàn toàn phù hợp. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 không dùng khái
niệm “tranh chấp về hợp đồng kinh tế” như Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế
mà dùng khái niệm “tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại” và đã liệt
kê đầy đủ hơn các hành vi kinh doanh, thương mại nào có tranh chấp thì thuộc thẩm
quyền của TAND.
Có thể nhận thấy rằng, khái niệm tranh chấp KDTM thực chất là những mâu
thuẫn phát sinh từ việc các chủ thể kinh doanh có sự bất đồng đến mức trái ngược
nhau trong hoạt động kinh doanh, đầu tư, cung ứng dịch vụ...gọi chung là trong hoạt
động KDTM.
Cách định nghĩa này mặc dù còn nhiều hạn chế song cũng đã chỉ ra được bản
chất của tranh chấp KDTM là mâu thuẫn, xung đột về những lợi ích phát sinh khi
tham gia các hoạt động KDTM. Tuy nhiên, phạm vi giữa mâu thuẫn, xung đột và
tranh chấp là khác nhau, chỉ khi nào mâu thuẫn và xung đột lớn, đến mức không thể
điều hòa thì tranh chấp mới xảy ra.
Ngoài các định nghĩa trên về tranh chấp kinh doanh thương mại thì giáo trình
tài sản nên nội dung tranh chấp thường liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các
bên. Thông thường, những mâu thuẫn bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên
phát sinh trong các mối quan hệ cụ thể bao gồm:
Tranh chấp về mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại
lý; kí gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn kĩ thuật; vận chuyển hàng
hoá, hành khách; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; đầu tư tài
chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác.
Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ
chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch
về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa
công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội
đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên
của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập,
hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của
công ty.
Tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.
9
Như đã phân tích, tranh chấp KDTM là việc phát sinh các mâu thuẫn, bất
đồng từ hoạt động sản xuất, đầu tư hay cung ứng các dịch vụ… (được gọi chung là
các hoạt động KDTM). Đây là một trong các loại việc thuộc lĩnh vực tư, do đó các
bên có quyền thỏa thuận lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh ngay
từ trước khi nó xảy ra (quyền định liệu trước) hoặc sau khi tranh chấp xảy ra. Việc
lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của các bên được thực hiện trên cơ sở
sự nhanh chóng, ít tốn kém và phải đảm bảo các quyền tự do kinh doanh của các
chủ thể, không cản trở các hoạt động kinh doanh của chủ thể và không làm mất cơ
Thứ ba, việc giải quyết tranh chấp thương mại có thể được tiến hành qua
nhiều giai đoạn xét xử;
Thứ tư, quyết định của Tòa án có thể được thi hành bằng sự cưỡng chế của
nhà nước.
Ở Việt Nam hiện nay, thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM cùng các tranh
chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, lao độngtại Tòa án được thực hiện theo Bộ luật
Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên thủ tục giải
quyết tranh chấp KDTM cũng có những nét đặc thù xuất phát từ đặc thù của quan
hệ KDTM có tranh chấp.
1.1.1.2. Khái niệm thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại
Theo từ điển tiếng Việt, “thủ tục” là “công việc giấy mà tuần tự phải làm
theo phép”2. Theo nghĩa thông thường, thủ tục được hiểu là phương thức, cách thức
giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể thống nhất bao gồm các
nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt được kết quả mong muốn.
Trong một vụ án dân sựnói chung, vụ án tranh chấp KDTM nói riêng luôn
chứa đựng những mâu thuẫn giữa các bên đương sự. Để giải quyết được vụ án dân
sự thì mọi vấn đề của vụ án dù bên nào nêu ra cũng đều phải được làm rõ trước khi
Tòa án quyết định giải quyết vụ án đó. Nhưng để giải quyết được vụ án dân sự đúng
pháp luật, khách quan thì những chủ thể tham gia tố tụng và Tòa án cần phải chứng
minh được những tình tiết trong vụ án là “có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý
2
Từ điển tiếng Việt, Nxb. Từ điển bách khoa, tr 1271.
11
lẽ”3. Do chứng minh là hoạt động có tính chất chi phối kết quả giải quyết vụ án dân
12
mặc dù chúng đã xảy ra trước khi có đơn kiện đến Tòa án người ta vẫn có thể biết
về chúng. Để xác định được các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự Tòa án phải
nghe lời trình bầy của đương sự, người làm chứng là những người trực tiếp tham gia
hoặc chứng kiến và xem xét các tài liệu, đồ vật có chứa đựng các tin tức, dấu vết, sự
kiện.
Trong tố tụng dân sự, những tin tức, dấu vết về các tình tiết, sự kiện của vụ
việc dân sự được thể hiện dưới những hình thức nhất định do Tòa án sử dụng làm
cơ sở để giải quyết vụ việc dân sự được gọi là chứng cứ. Do vậy, nếu hiểu theo
nghĩa chung, chứng cứ là cái có thật mà căn cứ vào đó để Tòa án giải quyết vụ việc
dân sự. Các hoạt động tố tụng cung cấp, giao nộp, xem xét, đánh giá và sử dụng
chứng cứ thường bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khác nhau. Để đảm bảo việc giải
quyết các vụ việc dân sự được đúng đắn thì các hoạt động tố tụng này phải được
pháp luật quy định đầy đủ và chặt chẽ. Từ đó, chứng cứ được định nghĩa như sau:
Chứng cứ là cái có thật, được xác định theo một trình tự do luật định Tòa án
dùng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự.
Chứng cứ có thể là những tin tức, dấu vết liên quan đến các tình tiết, sự kiện
của vụ việc dân sự, được Tòa án sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự.
Song để mọi người có thể nhận thức được thì chúng phải được ghi lại, phản ánh lại
dưới những hình thức cụ thể như bản hợp đồng, bản di chúc, băng ghi âm, đĩa ghi
hình... Từ điều này, trên thực tế thường có cách hiểu chứng cứ trong vụ việc dân sự
là những phương tiện phản ánh lại chúng như bản hợp đồng, bản di chúc, băng ghi
âm, ghi hình đó... Như vậy, ở đây đã coi là chứng cứ cả những sự kiện dựa vào đó
Tòa án xác định các tình tiết của vụ việc dân sự và những phương tiện phục vụ cho
việc xác định những tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự. Nếu suy cho cùng những
phương tiện đó chẳng qua là chỉ hình thức biểu hiện bên ngoài của chứng cứ. Để
giải quyết được vụ việc dân sự, Tòa án phải căn cứ vào những tin tức, dấu vết về
không đủ cơ sở giải quyết thì Tòa án yêu cầu các đương sự cung cấp bổ sung tài
liệu, chứng cứ. Trường hợp các đương sự không thể cung cấp được các chứng cứ và
có yêu cầu thì theo quy định của BLTTDS Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc
yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý chứng cứ giao nộp chứng cứ
14
cho Tòa án. Sau khi có các chứng cứ, thì Tòa án phải tiến hành các hoạt động
nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trước khi sử dụng.
Trong nghiên cứu khoa học pháp lý nhiều tác giả đã đưa ra những khái niệm
khác nhau về thu thập chứng cứ nói chung và của Tòa án nói riêng.
Theo tác giả Tưởng Duy Lượng, “Thu thập chứng cứ là một hành vi tố tụng
của Tòa án, Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận các tài liệu, chứng cứ do đương sự,
cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp, hoặc do chính Tòa án trực tiếp sử dụng các biện
pháp để thu thập”4. Đề cập ở phạm vi rộng vàkhái quát hơn tác giả Nguyễn Minh
Hằng cho rằng: “Hoạt động thu thập chứng cứ được hiểu là hoạt động tố tụng dân
sự của các chủ thể chứng minh trong việc phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản
chứng cứ bằng các phương pháp, biện pháp theo một trình tự, thủ tục do pháp luật
tố tụng dân sự quy định”5
So sánh hai quan điểm trên thấy rằng các tác giả đều có những điểm chung
về khái niệm thu thập chứng cứ, đó là: Thu thập chứng cứ là hoạt động tố tụng dân
sự của các chủ thể chứng minh; được tiến hành theo trình tự thủ tục được pháp luật
tố tụng dân sự quy định. Tuy nhiên khái niệm thu thập chứng cứ của tác giả Tưởng
Duy Lượng đưa ra trên cơ sở quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 theo đó chỉ
có cơ quan tiến hành tố tụng mới có hoạt động thu thập chứng cứ. Bộ luật tố tụng
2004 quy định đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án
nhưng không phải trường hợp nào đương sự cũng có ngay chứng cứ mà để có
chứng cứ giao nộp, thì đương sự phải thực hiện việc thu thập. Chính vì vậy, Bộ luật
Tố tụng dân sự 2015 đã quy định đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập,
chấp KDTM được quy định chung trong BLTTDS. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc
điểm riêng của quan hệ tranh chấp KDTM nên thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng
minh trong giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM có những đặc điểm riêng sau
đây:
Thứ nhất,chủ thể thực hiện thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong
giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM là các cá nhân, tổ chức kinh doanh nên
thường trình độ hiểu biết pháp luật và có sự trợ giúp pháp lý tốt hơn; các chủ thể
thường cung cấp được nhiều tài liệu chứng cứ ban đầu;
Thứ hai, chứng cứ trong các vụ án tranh chấp KDTM thường có số lượng rất
lớn do các quan hệ kinh doanh thương mại thường đan xen với nhau;
Thứ ba, thủ tục cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết các vụ án
tranh chấp KDTM thực hiện thường phức tạp hơn vì vụ việc lớn có giá trị cao; tình
tiết phức tạp, thường phải có ý kiến của cơ quan hưu quan…
16
Thứ tư, theo quy định của BLTTDS thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án tranh
chấp KDTM ngắn hơn thời hạn giải quyết vụ án dân sự khác.
1.1.2. Ý nghĩa của việc ghi nhận và quy định trong luật thực định về thủ tục
cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại
- Đối với việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án:
Trong thực tiễn việc giải quyết các vụ án KDTM của Tòa án hiện nay thì tỷ
lệ số vụ việc dân sự được giải quyết hoàn toàn dựa vào chứng cứ và việc tự chứng
minh của các đương sự là không nhiều, trong phần lớn các vụ ánTòa án đều thực
hiện việc xác minh thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật. Việc pháp luật
TTDS quy địnhcho Tòa án có quyền áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ trong
giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm khi thỏa mãn những điều kiện nhất định sẽ có tác
vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại
1.2.1. Cơ sở lý luận
Tố tụng dân sự Việt Nam thể hiện rõ nét tính chất pha trộn giữa tố tụng tranh
tụng và tố tụng xét hỏi nhưng yếu tố xét hỏi nổi trội hơn. Thẩm phán được phân
công giải quyết vụ án là người trực tiếp xây dựng hồ sơ vụ án, trên cơ sở hồ sơ này
để giải quyết vụ án. Quá trình cung cấp, giao nộp chứng cứ và xác minh thu thập
chứng cứ cũng chính là quá trình xây dựng hồ sơ vụ án dân sự. Do vậy, hồ sơ vụ án
dân sự là yếu tố có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giải quyết vụ án.
Trước hết, đương sự là người trong cuộc vì vậy đương sự là người trực tiếp
đang lưu giữ các tài liệu chứng cứ và biết rõ các tài liệu chứng cứ có thể chứng
minh cho quyền lợi của minh. Vì vậy, đương sự hoặc người đại diện của đương sự
sẽ phải thực hiện việc cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là
hợp pháp và có căn cứ.
Ngoàiviệc phải đảm bảo giải quyết vụ án khách quan, công bằng đúng pháp
luật,Tòa án còn phải có trách nhiệm giải quyết vụ án tranh chấp KDTM đúng thời
hạn luật định. Tòa án là cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu, đánh giá toàn bộ chứng
cứ để giải quyết đúng đắn vụ án, việc đánh giá chứng cứ có đúng đắn khách
quan,toàn diện hay không phụ thuộc vào việc cung cấp, thu thập chứng cứ có đầy
18