Khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại từ thực tiễn thực hiện tại các toà án trên địa bàn thành phố hải phòng - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
------------------------

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

KHỞI KIỆN, THỤ LÝ TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÁC TOÀ
ÁN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

ĐINH NAM VƯƠNG

HÀ NỘI – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
------------------------

LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHỞI KIỆN, THỤ LÝ TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÁC TOÀ
ÁN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

ĐINH NAM VƯƠNG
Chuyên ngành: Luật kinh tế
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN ANH TUẤN


Học viên

Đinh Nam Vương

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN, THỤ LÝ TRANH
CHẤP VỀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI ................................................ 7
1.1. Tranh chấp kinh doanh thương mại .....................................................7
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại ............................... 7
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của tranh chấp kinh doanh thương mại .............. 9
1.1.3. Các loại tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định của Bộ
Luật tố tụng dân sự .................................................................................. 9
1.2. Khởi kiện tranh chấp kinh doanh thương mại ................................... 10
1.2.1. Khái niệm khởi kiện vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại ... 11
1.2.2. Đặc điểm của khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại .... 14
1.3. Thụ lý vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại.......................... 23
1.3.1. Khái niệm thụ lý vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại ..... 23
1.3.2. Đặc điểm thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại ................ 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHỞI KIỆN, THỤ LÝ GIẢI QUYẾT
CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI CÁC TOÀ
ÁN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ................................................................ 39

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT

Ký hiệu

Nguyên nghĩa

1

BLDS

: Bộ luật dân sự

2

BLTTDS

: Bộ luật tố tụng dân sự

3

KDTM

: Kinh doanh thương mại

4

TA

: Tòa án


10

TP

: Thành phố

v


DANH MỤC BẢNG, HÌNH
BẢNG
Bảng 2.1:

Số lượng tranh chấp thương mại nộp đơn khởi kiện trên
địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012 – 2016 .....51

Bảng 2.2:

Số lượng đơn khởi kiện gửi tới tòa án theo các hình thức .......53

Bảng 2.3:

Tổng số tranh chấp kinh doanh thương mại được thụ lý trên địa
bàn thành phố Hải Phòng trong thời gian qua .........................55

HÌNH
Hình 2.1:

Số lượng tranh chấp thương mại nộp đơn khởi kiện trên

nhất và đề ra trước khi đưa ra cơ quan tài phán không được pháp luật qui định
và ghi nhận, cũng như đảm bảo thực hiện một cách nghiêm túc.
1


- Còn có những qui định thiếu hợp lý, mâu thuẫn và vi phạm quyền
quyết định của các chủ thể.
- Còn có sự can thiệp quá sâu của các thủ tục tố tụng cũng như việc tòa
án giải quyết vượt quá yêu cầu của các đương sự trong vụ án tranh chấp liên
quan đến kinh doanh thương mại được giải quyết tại tòa án. Đây không chỉ là
vi phạm nguyên tắc tự định đoạt mà còn vi phạm nguyên tắc tự do kinh doanh
theo quy định của Hiến pháp.
Ý thức sâu sắc được những bất cập và hạn chế đó tôi lựa chọn đề tài
“Khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh, thương mại từ thực tiễn thực
hiện tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng” làm luận văn tốt
nghiệp chương trình Cao học Thạc sĩ Luật kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong góc độ lý luận và thực tiễn pháp luật về giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại luôn được sự quan tâm và đầu tư nghiên cứu của
nhiều tác giả. Nhiều người làm công tác giảng dạy và nghiên cứu luôn tìm tòi,
sáng tạo và có những công trình khoa học về vấn đề này. Có thể kể đến một
số các công trình nghiên cứu sau đây:
“Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế”, Khóa luận tốt nghiệp/Trần Anh Hoài; Người
hướng dẫn: TS. Nguyễn Thái Phúc, TP. HCM năm 2002; “Quyền tự định đoạt
của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004”,
Khoa Luật – ĐHQGHN, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật dân sự, mã số 60 38
30/ Nguyễn Phương Hạnh. TS. Nguyễn Công Bình hướng dẫn, Hà Nội năm
2011; “Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam”, ĐH
Luật TP. HCM, Luận văn Thạc sĩ Luật dân sự, mã số 60 38 01 03/ Đinh Kim

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu để đạt được những mục đích cơ bản sau:
Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống các cơ sở lý luận về khởi
3


kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại, phân tích thực trạng quy
định của pháp luật, thực tiễn thực thi việc áp dụng khởi kiện, thụ lý vào giải
quyết tranh chấp kinh doanh thương mại trên địa bàn thành phố Hải Phòng
và đánh giá thực trạng áp dụng nguyên tắc đó để giải quyết các vụ việc tranh
chấp trong thực tế. Việc ghi nhận và tôn trọng pháp luật trong giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án. Từ đó kiến nghị đưa ra các giải
pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng trong khởi kiện, thụ lý tranh chấp kinh
doanh thương mại tại tòa án.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu tổng quát trên, luận văn đưa ra những mục
tiêu cụ thể như sau:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản, bản chất, đặc điểm và
nguyên tắc cơ bản trong khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại.
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng khởi kiện, thụ lý giải quyết các tranh
chấp kinh doanh thương mại tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng
trong thời gian qua.
Thứ ba, kiến nghị và đề xuất các giải pháp cụ thể mang tính luật định
nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng trong khởi kiện, thụ lý giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại tại các tòa án hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định hiện hành của pháp
luật Việt Nam về việc khởi kiện, thụ lý giải quyết tranh chấp kinh doanh

dụng và nhu cầu thực tế đối với việc khởi kiện, thụ lý giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng, từ
đó phân tích, làm rõ những mặt ưu, nhược điểm trong khởi kiện, thụ lý
tranh chấp về kinh doanh thương mại tại các tòa án trên địa bàn thành phố
Hải Phòng.
5


Thứ ba, từ nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn pháp luật, từ đó đề
xuất được một số kiến nghị về hướng sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về khởi
kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu làm 3 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh
thương mại.
Chương 2. Thực trạng khởi kiện, thụ lý tranh chấp kinh doanh thương
mại tại các toà án trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Chương 3. Hoàn thiện pháp luật tố tụng về khởi kiện, thụ lý tranh chấp về
kinh doanh thương mại tại các toà án trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

6


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN, THỤ LÝ TRANH
CHẤP VỀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI

1.1. Tranh chấp kinh doanh thương mại
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại

Có thể nhận thấy rằng, khái niệm tranh chấp KDTM thực chất là những
mâu thuẫn phát sinh từ việc các chủ thể kinh doanh có sự bất đồng đến mức
trái ngược nhau trong hoạt động kinh doanh, đầu tư, cung ứng dịch vụ,… gọi
chung là hoạt động KDTM.
Cách định nghĩa này, mặc dù còn nhiều hạn chế song cũng đã chỉ ra
được bản chất của tranh chấp KDTM là mâu thuẫn, xung đột về những lợi ích
phát sinh khi tham gia các hoạt động KDTM. Tuy nhiên, phạm vi giữa mâu
thuẫn, xung đột và tranh chấp là khác nhau, chỉ khi nào mâu thuẫn và xung
đột lớn đến mức không thể điều hoà thì tranh chấp mới xảy ra.
Ngoài các định nghĩa trên, về tranh chấp KDTM thì giáo trình Luật
Thương mại, tập 2 của trường Đại học Luật Hà Nội cũng đưa ra quan điểm về
tranh chấp thương mại: “Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất
đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực
hiện các hoạt động thương mại.
Từ những phân tích trên, có thể thấy hiện nay, vẫn chưa đưa được cách
hiểu thống nhất, đặc biệt là chưa có văn bản pháp lý nào quy định cụ thể khái
niệm tranh chấp kinh doanh thương mại mà mới chỉ dừng lại ở vấn đề quan
điểm của một số tác giả trên cơ sở tiếp cận nó thông qua Luật Thương mại và
Luật tố tụng dân sự.
Tóm lại, có thể hiểu khái niệm tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn,
bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có liên
quan đến lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và thương mại. Và có thể định nghĩa
một cách ngắn gọn đối với tranh chấp KDTM như sau: “Tranh chấp KDTM là
8


những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các
chủ thể tham gia các quá trình của hoạt động KDTM”.
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của tranh chấp kinh doanh thương mại
Từ những phân tích về cách hiểu của nội hàm tranh chấp KDTM như

viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa
các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động,
giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển
đổi hình thức tổ chức của công ty.
- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc
thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
1.2. Khởi kiện tranh chấp kinh doanh thương mại
Có thể nhận thấy, mối quan hệ trong hoạt động KDTM vừa mang tính
xung đột vừa hợp tác. Vì thế, khi xảy ra tranh chấp các bên luôn tìm cách
nhanh chóng để giải quyết các xung đột, mâu thuẫn này để sớm đưa hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình trở lại bình thường ổn định. Do đó, việc
giải quyết tranh chấp KDTM đòi hỏi các bên tranh chấp cũng như cơ quan
giải quyết tranh chấp phải tiến hành nhanh chóng, kín đáo, không làm ảnh
hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của các bên đồng thời phải luôn đảm
bảo được sự hợp tác trong hoạt động KDTM.
Khi xảy ra tranh chấp các bên có quyền tự lựa chọn phương thức giải
quyết tranh chấp của mình bằng các con đường khác nhau. Trên thực tế tranh
chấp KDTM có thể được giải quyết bằng toà án hoặc các phương thức khác
ngoài toà án. Pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM quy định đối với các
phương thức giải quyết tranh chấp KDTM nói trên về trình tự, thủ tục và các
nội dung khác đảm bảo quá trình giải quyết tranh chấp KDTM theo quy trình,
đảm bảo tính pháp lý.
- Đối với các phương thức giải quyết tranh chấp KDTM như hoà giải,
thương lượng chỉ cần các bên có thiện chí giải quyết, pháp luật chưa có quy
định về thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM bằng phương thức này nhưng
trong các phương thức giải quyết khác mà pháp luật có quy định về trình tự
10


thủ tục đều khuyến khích các bên tiến hành hoà giải hoặc thương lượng trước

quyết các tranh chấp lao động. Thuật ngữ vụ án dân sự là tiếp tục được kế
thừa sử dụng trong các văn bản pháp luật này. Theo đó, thủ tục để giải quyết
các vấn đề phát sinh căn cứ vào loại quan hệ cụ thể, thủ tục tố tụng dân sự
giải quyết cho quan hệ dân sự, thủ tục tố tụng kinh tế giải quyết cho các quan
hệ kinh tế, kinh doanh thương mại; và thủ tục tố tụng lao động giải quyết cho
các quan hệ lao độngchứ không căn cứ vào việc vụ việc đó có tranh chấp hay
không. Hay nói cách khác, theo các Pháp lệnh nói trên, khi các đương sự có
nhu cầu đưa các vụ việc dân sự, kinh tế, lao động để giải quyết theo thủ tục tố
tụng thì tất cả các vụ việc, tranh chấp hay không tranh chấp vẫn được gọi
chung là vụ án.
Thực tiễn giải quyết các loại việc về dân sự, kinh tế, lao động... cho
thấy nếu áp dụng một thủ tục tố tụng chung với những trình tự nghiêm ngặt
như nhau, thông qua phiên toà với những thủ tục như thẩm vấn, tranh luận,
đối chất... cho một số loại việc không có tranh chấp, chỉ đơn giản là việc xác
nhận một sự kiện pháp lý nào đó... thì lại dẫn đến sự rườm rà, kéo dài việc
giải quyết, gây mất thời gian vừa gây tốn kém cho công dân và Nhà nước,
không bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
Vì vậy, khi cho soạn thảo BLTTDS 2004, nhà làm luật đã xây dựng hai
loại thủ tục riêng biệt là thủ tục giải quyết các vụ án dân sự có tranh chấp và
thủ tục giải quyết việc dân sự không có tranh chấp. Theo đó, lần đầu tiên khái
niệm vụ việc dân sự và việc dân sự đã được BLTTDS ghi nhận chính thức.
Khái niệm vụ việc dân sự đã thay thế cho khái niệm vụ án dân sự trước đây,
còn hiện tại, nếu các cá nhân, cơ quan tổ chức có tranh chấp về quyền và
nghĩa vụ thì gọi là vụ án dân sự, nếu cơ quan cá nhân tổ chức không có tranh
chấp về quyền và nghĩa vụ nhưng có yêu cầu Toà án công nhận cho mình
quyền về dân sự thì là việc dân sự. Có thể nói, từ thời điểm này khái niệm vụ
án dân sự không còn nội hàm bao rộng như trước nữa, bao gồm cả các tranh
chấp và yêu cầu mà chỉ bao hàm các tranh chấp về dân sự, các yêu cầu về dân
12




- Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao
động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể
người lao động do pháp luật quy định;
- Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi
ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách.
- Ngoài ra theo quy định của BLDS, hộ gia đình, tổ hợp tác là các chủ
thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự, vì vậy khi tham gia các quan hệ dân
sự nếu xảy ra tranh chấp các chủ thể này cũng có quyền yêu cầu Tòa án bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Như vậy, khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại là việc cá
nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật
TTDS nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của mình hay của người khác, bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích Nhà
nước trong trường hợp lợi ích đó đang bị xâm phạm hay có tranh chấp với
chủ thể khác.
Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại vụ là hoạt động đầu
tiên của tố tụng dân sự, là hành vi tố tụng đầu tiên của nguyên đơn làm phát
sinh các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Việc thực hiện quyền khởi kiện
tranh chấp về kinh doanh thương mại thể hiện bằng việc nguyên đơn nộp đơn
yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án, được xác định là sự kiện thực tế có ý nghĩa
pháp lý làm phát sinh quá trình tố tụng. Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh
thương mại là giai đoạn đầu tiên để bắt đầu thủ tục tố tụng.
1.2.2. Đặc điểm của khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại
Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại được xem là “Công cụ
hữu hiệu nhất trong toàn bộ các phương thức khác nhau mà xã hội và Nhà
nước dùng để giải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn lợi ích ” [4,390]. Hoạt
động khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại có những đặc điểm sau:

hiện ở thời điểm trước khi Tòa án thụ lý vụ án. Hoạt động ngay sau việc nộp
15


đơn khởi kiện là hoạt động xem xét đơn khởi kiện. Tòa án sau khi nhận đơn
khởi kiện sẽ xem xét đơn và trong thời hạn luật định phải ra một trong các
quyết định thụ lý nếu thuộc thẩm quyền; chuyển đơn nếu không thuộc thẩm
quyền và trả lại đơn. Khởi kiện chính là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp
nhân và các chủ thể khác nhau tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự,
là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.
- Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại là hoạt động trong đó
các đương sự được tự do định đoạt, theo đó các nhân, cơ quan, tổ chức và các
chủ thể khác có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại có quyền thực hiện hoặc
không thực hiện hoạt động khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án có thẩm
quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền dân sự phải chấm dứt hành vi
vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc theo thỏa thuận của các bên. Đây là đặc
điểm đặc trưng của hoạt động này. Việc khởi kiện được thực hiện trên cơ sở
tự nguyện và quyền tự do của cá nhân, đồng thời pháp luật cũng ghi nhận việc
tự định đoạt và tự thỏa thuận của các chủ thể. Điều này xuất phát từ bản chất
dân sự của hoạt động kinh doanh thương mại nên trong tố tụng dân sự thì các
đương sự có quyền tự định đoạt về việc bảo vệ quyền lợi của mình. Các
đương sự được tự do lựa chọn các phương thức để bảo vệ quyền, lợi ích của
mình như trung gian hòa giải, trọng tài hoặc yêu cầu sự can thiệp của Tòa án
bằng việc thực hiện hoạt động khởi kiện.
1.2.3. Điều kiện khởi kiện tranh chấp kinh doanh thương mại
Thứ nhất, Điều kiện về chủ thể khởi kiện
Để khởi kiện vụ án dân sự, chủ thể khởi kiện phải có quyền khởi kiện
và có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Đây là điều kiện đầu tiên phải xác
định khi đương sự thực hiện việc khởi kiện (điểm a khoản 1 Điều 192
BLTTDS năm 2015).

được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ của Tòa án, góp phần giải
quyết đúng đắn, tạo điều kiện cho các đương sự tham gia tố tụng bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Để vụ án dân sự được thụ lý, đơn khởi kiện
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status