Thụ lý vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự việt nam hiện hành qua thực tiễn áp dụng tại các tòa án trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐẶNG TẤT TÙNG

THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH QUA
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÁC TÒA ÁN TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015
1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐẶNG TẤT TÙNG

THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH QUA
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÁC TÒA ÁN TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

1.2. SƠ LƢỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
TTDS VIỆT NAM VỀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ ........................................ 17
1.2.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988 ...................................................... 17
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004 ...................................................... 19
1.2.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay ................................................................ 20
CHƢƠNG II: ....................................................................................................... 24
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN
HÀNH VỀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ. ............................................................. 24
2.1 ĐIỀU KIỆN THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ. .................................................. 24
* Vụ việc dân sự phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án ........................ 25
2.2. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ ................................ 43
2.2.1. Nhận và xem xét đơn khởi kiện ................................................................ 44
2.2.2. Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện. .................................................. 47
2.2.3. Bổ sung tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện ................................. 48
2.2.4. Dự tính tiền tạm ứng án phí và thông báo cho ngƣời khởi kiện. .............. 48
2.2.5. Vào sổ thụ lý vụ án dân dự........................................................................ 50
2.2.6.Thông báo việc thụ lý vụ án dân sự. .......................................................... 51
4


2.3 XỬ LÝ ĐỐI VỚI CÁC TRƢỜNG HỢP KHÔNG ĐỦ ĐIỀU KIỆN THỤ
LÝ .................................................................................................................... 53
2.3.1 Trả lại đơn khởi kiện .................................................................................. 53
2.3.2 Chuyển đơn khởi kiện cho TA khác giải quyết ......................................... 54
CHƢƠNG III....................................................................................................... 57
THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BLTTDS VIỆT NAM
HIỆN HÀNH VỀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT TTDS VỀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ ........................................ 57
3.1 THỰC TIỄN THỰC HIỆN BLTTDS VIỆT NAM HIỆN NAY VỀ THỤ
LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ....................................................................................... 57

1. Ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người,
quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công
nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định
của pháp luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh
quốc gia, trật tự và an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng.
Trong đó quyền dân sự đƣợc coi là quyền có ý nghĩa quan trọng cơ bản vì nó
có liên quan tới mọi mối quan hệ trong xã hội của con ngƣời. Theo đó, các chủ
thể pháp luật có quyền thực hiện mọi hành vi, mọi hoạt động nhằm thỏa mãn
lợi ích của mình nhƣng không đƣợc làm ảnh hƣởng, xâm phạm đến quyền lợi
của ngƣời khác. Tùy từng trƣờng hợp bị xâm phạm lợi ích hợp pháp, “họ có
quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận
quyền dân sự của mình; buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi cải cách
công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thƣờng thiệt hại” (khoản 2
Điều 9 Bộ luật tố tụng dân sự 2005(BLDS). Nhƣ vậy, quyền con ngƣời đƣợc
thể chế hóa bằng những quy định của pháp luật và pháp luật đã dự liệu các
phƣơng thức này nhằm bảo đảm cho quyền con ngƣời đƣợc thực hiện. Một
trong số các phƣơng thức đó là phƣơng thức qua vai trò của Tòa án. Điều 1
Luật tổ chức Tòa án nhân dân (TAND) năm 2002 quy định: “Trong phạm vi
6


chức năng của mình, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN; bảo vệ chế
độ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nƣớc, của
tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân”.
So với các phƣơng thức bảo vệ quyền lợi hợp pháp khác, thì phƣơng thức
yêu cầu Tòa án bảo vệ có ƣu điểm lớn nhất là quyền con ngƣời nói chung,
quyền dân sự nói riêng sẽ đƣợc nhanh chóng thực thi nhờ sức mạnh cƣỡng chế
của Nhà nƣớc. Tuy nhiên giải quyết bằng con đƣờng Tòa án phải tuân theo các
thủ tục mang tính chất bắt buộc nên thƣờng phải mất nhiều thời gian và đƣơng

định pháp luật và thực tiễn áp dụng, từ đó có thể đƣa ra khuyến nghị, góp phần
hoàn thiện nâng cao hiệu quả áp dụng của pháp luật tố tụng dân sự.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trƣớc khi BLTTDS năm 2014 đƣợc ban hành và sủa đổi bổ sung năm 2011 đã
có một số công trình nghiên cứu khoa học pháp lý về vấn đề thụ lý vụ án dân
sự, nhƣ bài “Một số ý kiến về thụ lý vụ án dân sự” của tác giả Lê Chí Công
đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 11/1998; luận án thạc sĩ luật học “thụ lý
và chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo pháp luật dân sự Việt Nam” của
Đoàn Đức Lƣơng. Từ khi BLTTDS năm 2004 đƣợc ban hành các công trình
nghiên cứu khoa học về vấn đề này vẫn đƣợc tiếp tục thực hiện nhƣ luận án
thạc sĩ “thụ lý vụ án dân sự một số vấn đề về lý luận và thực tiễn” của tác giả
Liễu Thị Hạnh. Sau khi BLTTDS 2004 đƣợc sửa đổi năm 2011 cũng có một số
công trình nghiên cứu khoa học pháp lý về vấn đề trên nhƣng chỉ dừng ở mức
độ khóa luận tốt nghiệp…Tuy nhiên mỗi công trình nghiên cứu nhìn nhận, giải
quyết vấn đề thụ lý vụ án dân sự ở một góc độ khác nhau, đặc biệt nghiên cứu
vấn đề thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
hiện hành tại thành phố Hà Nội thì chƣa có công trình nghiên cứu sâu nào.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về thụ lý vụ án dân sự.
- Tiếp cận các quy định của pháp luật hiện hành về thụ lý vụ án dân sự.
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định về thụ lý vụ án dân sự tại Tòa
án trên địa bàn TP Hà Nội.
- Đƣa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện BLTTDS về thụ lý vụ án dân sự.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác – Lê nin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan
8


điểm, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nhà nƣớc và pháp luật. Phƣơng pháp nghiên

CHƢƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1. KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA THỤ LÝ
VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm về thụ lý vụ án dân sự

Để có thể xây dựng đƣợc khái niệm khoa học về thụ lý VADS thì trƣớc
hết phải tìm hiểu khái niệm VADS. Cho đến nay vẫn chƣa có văn bản pháp
luật nào định nghĩa cụ thể VADS là gì, nhƣng qua nội dung của Điều 1
BLTTDS 2004 và sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì VADS là các tranh chấp, mâu
thuẫn phát sinh giữa các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thƣơng mại và lao động, đƣợc Tòa án chấp nhận giải quyết
theo yêu cầu của một trong các bên đƣơng sự. Nhƣ vậy, khái niệm VADS phải
đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các vụ án phát sinh từ bốn lĩnh vực: Dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thƣơng mại và lao động. Đặc điểm nổi
bật đầu tiên của VADS là VADS có chứa đựng các mâu thuẫn, tranh chấp phát
sinh từ quan hệ pháp luật phi hình sự, phi hành chính, thuộc thẩm quyền giải
quyết về dân sự của Tòa án. Vì có mâu thuẫn, tranh chấp nên trong VADS
thƣờng hình thành ít nhất hai bên đƣơng sự đối lập nhau, tranh giành, mâu
thuẫn nhau về quyền và lợi ích. Tuy nhiên, không phải trong mọi trƣờng hợp
cứ có mâu thuẫn, tranh chấp về các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thƣơng mại và lao động là sẽ có VADS. Các mâu thuẫn,
tranh chấp này chỉ trở thành VADS tại Tòa án bao gồm hai điều kiện. Thứ
nhất: Có yêu cầu giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp; Thứ hai: đƣợc Tòa án chấp
nhận giải quyết. Đây là những đặc điểm rất khác biệt giữa VADS với các loại
vụ án khác nhƣ: vụ án hình sự, vụ án hành chính.
Đối với bất cứ một Nhà nƣớc nào trên thế giới, để quản lý đƣợc xã hội
đều phải dùng đến pháp luật. Pháp luật là công cụ hữu hiệu để quản lý Nhà
nƣớc. Bằng các quy định có tính bắt buộc chung, mọi chủ thể trong xã hội đều
10

đáp ứng đƣợc đòi hỏi của lý luận thực tiễn tố tụng dân sự trong việc xây dựng
pháp luật TTDS.
11


Khi có mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án và chủ thể của mâu thuẫn, tranh chấp đó có quyền yêu cầu
Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ thì Tòa án sẽ
phải tiến hành giải quyết theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Trình
tự, thủ tục này bao gồm nhiều hoạt động tố tụng khác nhau, mà hoạt động đầu
tiên khẳng định trách nhiệm giải quyết tranh chấp thuộc về Tòa án mà không
phải thuộc về một cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền nào khác là hoạt động thụ
lý VADS. Với hoạt động thụ lý VADS, hoạt động này đã khởi động cho cả một
quy trình tố tụng tiếp theo. Chỉ khi Tòa án tiến hành thụ lý VADS thì những
hoạt động tố tụng tiếp theo mới đƣợc tiến hành nhƣ hòa giải, chuẩn bị xét xử…
Theo từ điển tiếng Việt thì “thụ lý VADS là việc tiếp nhận giải quyết vụ
kiện” [32,tr 961]. Còn theo từ điển luật học “thụ lý vụ án là bắt đầu tiếp nhận
một vụ việc để xem xét và giải quyết. Trong tố tụng dân sự thì thụ lý vụ án là
việc Tòa dân sự nhận đơn yêu cầu của đƣơng sự xem xét giải quyết một vụ
việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, tổ chức, cơ
quan” [33,tr 732]. Nhìn chung, các khái niệm trên đều khẳng định đƣợc bản
chất của việc Tòa án thụ lý VADS là việc Tòa án đã xác nhận trách nhiệm giải
quyết VADS. Thụ lý VADS không đơn thuần chỉ là hành vi nhận đơn yêu cầu
mà là cả một quy trình, gồm nhiều bƣớc khác nhau để đi đến quyết định cuối
cùng là thụ lý VADS.
Nhƣ vậy, thụ lý VADS là việc Tòa án có thẩm quyền chấp nhận, giải
quyết đơn khởi kiện của đƣơng sự và vào sổ thụ lý VADS để giải quyết theo
định của pháp luật TTDS.
Thụ lý VADS là hoạt động đầu tiên của Tòa án, mở đầu cho quá trình tố
tụng giải quyết các VADS. Các quy định của pháp luật TTDS hiện nay về thụ

mối quan hệ pháp luật tố tụng sẽ đƣợc phát sinh, các chủ thể sẽ bị ràng buộc
với nhau và mối quan hệ đó sẽ đƣợc điều chỉnh bằng các quy định của pháp
luật TTDS. Trong mối quan hệ này, Tòa án là chủ thể thực hiện quyền lực Nhà
nƣớc thông qua việc thụ lý giải quyết tranh chấp và quyết định thụ lý của Tòa
án có tính bắt buộc đối với các bên. Thụ lý VADS là một trong những thẩm
quyền của TAND nhằm thực hiện chức năng xét xử.
Điều 102 Hiến pháp 2013 đã quy định:
13


1.

Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.

2.

Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án khác do
luật định.

3.

Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Tòa án là cơ quan thực hiện chức năng xét xử các vụ án, trong đó có các
vụ án dân sự, hôn nhân – gia đình, kinh doanh, thƣơng mại, lao động. Tòa án là
nơi biểu hiện tập trung đầy đủ nhất quyền tƣ pháp, nơi thể hiện sức mạnh của
hệ thống cơ quan tƣ pháp. Qua hoạt động giải quyết các vụ án của Tòa án trong

đúng thẩm quyền theo cấp của Tòa án và đúng thẩm quyền theo lãnh thổ của
Tòa án. Khi thỏa mãn cả ba điều kiện về thẩm quyền thì Tòa án mới tiến hành
thủ tục thụ lý vụ án; nếu không thỏa mãn thì Tòa án sẽ phải thực hiện chuyển
đơn kiện đến Tòa án có thẩm quyền xem xét giải quyết hoặc trả lại đơn khởi
kiện cho ngƣời khởi kiện.
- Thụ lý VADS chỉ đƣợc thực hiện khi có yêu cầu khởi kiện của chủ thể
có quyền khởi kiện.
Nói tóm lại, thụ lý VADS là hoạt động đặc trƣng của Tòa án, nó gắn liền
với chức năng, nhiệm vụ của Tòa án. Tòa án muốn thực hiện đƣợc nhiệm vụ
của mình là giải quyết các VADS nhằm lập lại trật tự cho các quan hệ xã hội
thì bƣớc đầu tiên mà Tòa án phải thực hiện là hoạt động thụ lý VADS. Tuy
vậy, điều này không có nghĩa là Tòa án tự ý thụ lý VADS,Tòa án chỉ thụ lý khi
có ngƣời yêu cầu. Đây là nét khác biệt của tố tụng dân sự so với tố tụng hình
sự, vì ở tố tụng hình sự cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện việc giải quyết vụ
án thƣờng xuất phát từ quyết định khởi tố của cơ quan có thẩm quyền. Còn
trong tố tụng dân sự, khi quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm thì chủ thể có quyền
và lợi ích đó có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét giải quyết bảo
vệ cho mình; và khi đó Tòa án mới thực hiện đƣợc chức năng, nhiệm vụ của
mình nhƣ quy định trong Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức TAND 2014. Bên
cạnh đó, để hạn chế những trƣờng hợp lợi dụng quyền khởi kiện để xâm phạm
đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác thì pháp luật cũng đặt ra giới
hạn về phạm vi và ngƣời có quyền khởi kiện, đó phải là những ngƣời có quyền
15


và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và kèm theo yêu cầu về năng lực tố tụng dân
sự. Nhƣ vậy, thụ lý VADS đƣợc thực hiện bởi Tòa án chỉ khi có yêu cầu khởi
kiện của ngƣời có quyền khởi kiện.
- Thụ lý VADS không phải là một hoạt động tố tụng đơn giản, độc lập mà
nó là cả một quy trình gồm nhiều bƣớc khác nhau để đi đến kết quả là Tòa án

đơn kiện; xác định tiền tạm ứng án phí; vào sổ thụ lý và thông báo cho đƣơng
sự. Nhƣ vậy, nếu ngay từ khâu đầu tiên này mà không làm đúng thì tất yếu sẽ
dẫn đến việc giải quyết VADS thiếu chính xác, không hiệu quả.
Thụ lý VADS làm phát sinh quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể
tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Khi đã quyết định thụ lý VADS thì
lúc này Tòa án sẽ chịu trách nhiệm giải quyết VADS, làm phát sinh tƣ cách của
các chủ thể pháp luật, sẽ có nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan. Những ngƣời này sẽ có những quyền và nghĩa vụ tố tụng do
PLTTDS quy định, đồng thời thụ lý VADS làm phát sinh mối quan hệ giữa
Tòa án với các đƣơng sự.
Thụ lý VADS là cơ sở để Tòa án tính thời hạn giải quyết VADS. Pháp
luật quy định một thời hạn nhất định để giải quyết VADS và thời han đó sẽ
đƣợc bắt đầu tính kể từ thời điểm thụ lý VADS. Từ đây, sẽ là căn cứ để ngƣời
dân thực hiện quyền khiếu nại nếu Tòa án cố tình không thụ lý VADS, hoặc
kéo dài thời gian giải quyết ảnh hƣởng đến quyền lợi hợp pháp của họ. Khi Tòa
án thực hiện đúng quy định về thời hạn giải quyết vụ án VADS sẽ không còn
tình trạng vụ án bị kéo dài, tồn đọng, kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đƣơng sự, đảm bảo cho việc thực thi pháp luật và góp phần bảo vệ pháp
chế XHCN.
1.2. SƠ LƢỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP
LUẬT TTDS VIỆT NAM VỀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ
1.2.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988

Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật TTDS Việt Nam gắn liền
với sự ra đời và phát triển của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến
năm 1946 là cơ sở pháp lý quan trọng cho các quy định ở các văn bản pháp
luật có hiệu lực pháp lý thấp hơn.
17



18


văn bản pháp lý quan trọng, góp phần vào giải quyết các tranh chấp dân sự,
hôn nhân và gia đình đƣợc nhanh chóng và hiệu quả (17,tr 19).
Nhìn chung, do điều kiện đất nƣớc còn gặp nhiều khó khăn, chậm phát
triển, các quan hệ xã hội có tranh chấp không quá phức tạp nên số lƣợng văn
bản pháp luật quy định về thủ tục tố tụng dân sự và hƣớng dẫn về việc thụ lý
VADS còn rất ít. Tuy vậy, từ năm 1960 trở đi, Nhà nƣớc ta cũng đã bƣớc đầu
quan tâm và ban hành các văn bản pháp luật tố tụng dân sự, trong đó có quy
định về thụ lý VADS – làm cơ sở để giải quyết các tranh chấp trong thời kỳ
này.
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004

Đất nƣớc bƣớc vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới kể từ sau Đại hội
Đảng lần thứ VI năm 1986. Với sự chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp
sang nên kinh tế thị trƣờng nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trƣờng
có sự quản lý của Nhà nƣớc, theo định hƣớng XHCN đã tạo sự phát triển
phong phú đa dạng các quan hệ kinh tế và tác động mạnh mẽ đến các thiết chế
xã hội. Các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động phát sinh
trong điều kiện kinh tế mới đòi hỏi phải có sự điều chỉnh thích hợp về pháp
luật.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên mà trong thời gian này, các văn bản
pháp luật nói chung và văn bản pháp luật tố tụng nói riêng đã đƣợc ban hành
nhiều, trong đó phải kể đến ba pháp lệnh cơ bản là PLTTGQCVDS đƣợc ban
hành ngày 29/11/1989, PLTTGQCVAKT đƣợc ban hành ngày 16/3/1994,
PLTTGQCTCLĐ đƣợc ban hành 11/4/1996. Đây là những văn bản pháp luật
quan trọng có ý nghĩa rất lớn về thủ tục giải quyết các VADS trong thời kỳ
này, đặc biệt vấn đề thụ lý vụ án cũng đã đƣợc quy định trong các văn bản
pháp luật này tạo cơ sở pháp lý cho quá trình giải quyết VADS.

ra, việc quy định 3 thủ tục khác nhau với những thời điểm thụ lý vụ án khác
nhau dễ gây nhiều vƣớng mắc, nhầm lẫn, nhất là khi mà danh giới giữa các
VADS, vụ án kinh tế, tranh chấp lao động không phải lúc nào cũng rạch ròi,
tách biệt.
1.2.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay

20


Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn là quá trình đổi mới của đất nƣớc
một cách toàn diện, trong đó có yêu cầu đổi mới tổ chức hoạt động của Tòa án
nhân dân, các văn bản pháp luật tố tụng ban hành trƣớc đó tỏ ra không còn phù
hợp trong điều kiện mới và có nhiều thay đổi nữa. Ngày 15/6/2004, Quốc hội
nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua BLTTDS. Bộ luật này có hiệu
lực từ ngày 01/1/2005, đã quy định thống nhất một thủ tục để giải quyết các
VADS, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thƣơng mại, lao động, trong đó dành
hẳn chƣơng XII để quy định về vấn đề khởi kiện và thụ lý VADS với 18 điều
từ điều 161 đến điều 178.
BLTTDS 2004 đã xác định rõ các chủ thể có quyền khởi kiện VADS;
thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án; các điều kiện thụ lý VADS nhƣ vụ án
chƣa đƣợc Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết bằng một bản án
hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật; thủ tục tiền tố tụng đối với một số vụ
án; và các điều kiện thụ lý khác. Đồng thời không quy định quyền khởi tố
VADS cho Viện kiểm sát nữa. Quy định này là phù hợp vì nó thể hiện tối cao
nguyên tắc tự định đoạt của đƣơng sự, nguyên tắc thỏa thuận trong việc giải
quyết các VADS.
BLTTDS năm 2004 quy định các trƣờng hợp TA trả lại đơn khởi kiện tại
khoản 1 Điều 168, khoản 2 Điều 169 BLTTDS. Ngoài ra, BLTTDS năm 2004
còn quy định về quyền khiếu nại của ngƣời khởi kiện khi nhận lại đơn khởi
kiện, việc thông báo thụ lý VADS, quyền và nghĩa vụ của ngƣời đƣợc thông

Qua bốn năm thực hiện quy định của BLTTDS sửa đổi bổ sung, đặc biệt
là những sửa đổi trong quy định về thủ tục thụ lý VADS cấp sơ thẩm tƣơng đối
phù hợp. Điều đó đã góp phần to lớn vào việc nâng cao chất lƣợng xét xử các
VADS ngay từ giai đoạn thụ lý, bảo đảm quyền lợi cho đƣơng sự theo đúng
quy định của pháp luật, tạo niềm tin cho nhân dân vào tính nghiêm minh của
pháp luật. Mặc dù vậy, nhƣng những nội dung về thụ lý vụ án dân sự đƣợc quy
định trong BLTTDS 2004 và sửa đổi năm 2011 vẫn có những hạn chế nhất
định. Chính vì vậy dự thảo sửa đổi bổ sung BLTTDS đã có những điểm mới là
quy định về thời hiệu khởi kiện và nguyên tắc Tòa án không đƣợc từ chối thụ
lý và xét xử với lý do là chƣa có luật áp dụng.
Những nội dung thay đổi trên sẽ khắc phục đƣợc những bất cập của pháp
luật quy định về thụ lý vụ án dân sự, đáp ứng đƣợc yêu cầu của thực tiễn, đảm
22


bảo quyền khởi kiện của đƣơng sự, tăng tính hiệu quả của ngành tòa án tiến lên
xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền.
KẾT LUẬN CHƢƠNG I
Việc nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận về thụ lý VADS sơ thẩm
tại Chƣơng I của luận văn tốt nghiệp có thể kết luận, thụ lý VADS sơ thẩm là
một thủ tục tố tụng quan trọng nhằm giải quyết các tranh chấp về quan hệ hôn
nhân và gia đình, kinh doanh - thƣơng mại, lao động. Do đó, việc hoàn thiện
các quy định của pháp luật TTDS nói chung, các quy định về thụ lý VADS nói
riêng là đòi hỏi cấp thiết để phù hợp với sự phát triển của xã hội. Nếu giải
quyết đƣợc vấn đề đó một mặt sẽ góp phần vào việc giữ gìn trật tự xã hội, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, một mặt thúc đẩy sự tiến bộ của xã
hội.

23




Xét một cách cụ thể thì điều kiện để thụ lý vụ án bao gồm các điều kiện
sau: (trong khuôn khổ luận văn em chia thành điều các điều kiện cơ bản và các
điều kiện khác để thụ lý vụ án dân sự)
2.1.1 Điều kiện cơ bản để thụ lý vụ án dân sự:
* Vụ việc dân sự phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Để thụ lý vụ án, vụ việc phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Mỗi cơ
quan trong bộ máy nhà nƣớc đều có một chức năng và nhiệm vụ riêng biệt. Về
nguyên tắc, các cơ quan này phải làm đúng theo thẩm quyền của mình. Theo từ
điển tiếng việt năm 2001 của Viện ngôn ngữ học thì “Thẩm quyền là quyền
xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật”. Điều 102 Hiến
pháp 2013 quy định:
1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
2. Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật
định.
3. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Nhƣ vậy, Tòa án thực hiện quyền tƣ pháp chủ yếu với chức năng xét xử
các VAHS, dân sự, hành chính và các vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Khi BLTTDS quy định những vụ việc dân sự nào thuộc thẩm quyền xét xử của
Tòa án thì đó chính là thẩm quyền dân sự của Tòa án. Việc giải quyết tranh
chấp dân sự của Tòa án phải tuân theo một trình tự các thủ tục. Các thủ tục này
chính là toàn bộ các hoạt động mà Tòa án phải tiến hành. Theo BLTTDS, để
xác định đƣợc thẩm quyền giải quyết VADS thì cần phải lần lƣợt xác định
đƣợc thẩm quyền theo sự việc, thẩm quyền theo cấp, thẩm quyền theo lãnh
thổ, thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status