ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THU HƢƠNG
TéI “LµM NHôC NG¦êI KH¸C”
THEO LUËT H×NH Sù VIÖT NAM. Lý LUËN Vµ THùC TIÔN
XÐT Xö LO¹I TéI PH¹M NµY TR£N §ÞA BµN THµNH PHè Hµ NéI
LUẬT VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN Nguyễn Thu Hƣơng
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LÀM NHỤC
NGƢỜI KHÁC 7
1.1. Khái niệm Tội làm nhục ngƣời khác 7
1.2. Ý nghĩa của việc quy định Tội làm nhục ngƣời khác trong
Chƣơng 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG
TỘI LÀM NHỤC NGƢỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI 54
3.1. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống Tội
làm nhục ngƣời khác 54
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về Tội
làm nhục ngƣời khác 57
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối
với Tội làm nhục ngƣời khác 60
3.3.1. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về
quyền con người và Tội làm nhục người khác 60
3.3.2. Nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở 65
3.3.3. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Cơ quan Công an, Viện kiểm
sát, Tòa án về Tội làm nhục người khác 67
Kết luận chƣơng 3 77
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BLHS: Bộ luật hình sự
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang
Biểu đồ 2.1.
Các vụ án về Tội làm nhục người khác từ năm 2009
đến năm 2013
39
Biểu đồ 2.2.
Các bị cáo về Tội làm nhục người khác từ năm 2009
đến năm 2013
39
Biểu đồ 2.3.
Số vụ án Tội làm nhục người khác và số vụ án của
Chương XII từ năm 2009 đến năm 2013
41
Biểu đồ 2.4.
Số bị cáo Tội làm nhục người khác và số bị cáo của
Chương XII từ năm 2009 đến năm 2013
41
Biểu đồ 2.5.
Tỷ lệ hình phạt tù áp dụng đối với các bị cáo phạm Tội
làm nhục người khác trong 5 năm (từ năm 2009 đến
năm 2013)
43
2
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được coi là một trong những mục
tiêu quan trọng của Bộ luật Hình sự. Những quyền con người được pháp luật
nói chung và luật hình sự nói riêng bảo vệ là quyền được sống, quyền bất
khả xâm phạm về thân thể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Vì vậy, Bộ luật
Hình sự đã quy định một phần riêng biệt quy định các tội phạm xâm phạm
tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người tại một chương
riêng trong đó có Tội làm nhục người khác. Tuy nhiên, do các quy định của
Luật hình sự Việt Nam về Tội làm nhục người khác còn chưa cụ thể rõ ràng,
chưa đảm bảo tính hệ thống đồng bộ, đặc biệt thiếu khái niệm cụ thể về hành
vi làm nhục người khác nên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau không thống
nhất trong việc nhận thức các dấu hiệu pháp lý, định tội danh, đường lối xử
lý đối với tội phạm này.
Nhận thức được điều đó, tác giả đã nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những
vấn đề lý luận về Tội làm nhục người khác và thực tế áp dụng tại thành phố
Hà Nội để từ đó đánh giá việc xét xử trong thực tiễn đưa ra kiến giải lập pháp
là mô hình lý luận và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy phạm của
tội phạm này trong giai đoạn hiện nay để có những ý nghĩa lý luận- thực tiễn
pháp lý quan trọng và đáp ứng tính cấp thiết của xã hội. Chính vì vậy, tác giả
chọn đề tài Tội “Làm nhục người khác” theo Luật hình sự Việt Nam. Lý
luận và thực tiễn xét xử loại tội phạm này trên địa bàn Thành phố Hà Nội”
làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội làm nhục người khác là một trong những tội phạm được đề cập rất
sớm trong luật Hình sự Việt Nam và được quan tâm nghiên cứu. Tội làm nhục
người khác được đề cập trong các giáo trình, sách pháp lý, đề tài nghiên cứu
sau khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành như: Giáo trình luật hình sự
Việt Nam (Phần các tội phạm) của Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb
4
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử đối với Tội làm nhục người khác
trên địa bàn thành phố Hà Nội cụ thể là: “Khái niệm xúc phạm nghiêm
trọng ”, “làm nhục người khác”, nguyên nhân, điều kiện của tội phạm.
Những đặc trưng của Tội làm nhục người khác với các tội phạm khác cùng
chương, kết hợp thực tiễn áp dụng, xét xử tại Tòa án nhân thành phố Hà Nội
để qua đó chỉ ra nguyên tắc cơ bản và đề xuất các kiến giải lập pháp cũng
như các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng Tội làm nhục người khác trong
pháp luật hình sự Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về lý luận: Luận văn làm sáng tỏ bản chất pháp lý của Tội làm nhục
người khác theo luật hình sự Việt Nam dưới góc độ luật hình sự; xây dựng
khái niệm khoa học về Tội làm nhục người khác và ý nghĩa.
+ Về pháp luật: Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản
của pháp luật hình sự về Tội làm nhục người khác.
+ Về thực trạng hoạt động xét xử Tội làm nhục người khác trên địa bàn
thành phố Hà Nội từ năm 2009 đến năm 2013.
+ Về kiến nghị: Tập trung vào kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự
về Tội làm nhục người khác.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý
luận những nội dung cơ bản về Tội làm nhục người khác, việc áp dụng các
quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội này trong thực tiễn xét xử trên
địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó rút ra những tồn tại, bất cập để đề xuất kiến
giải lập pháp bằng việc đưa ra các mô hình lý luận của quy phạm về Tội làm
nhục người khác theo luật hình sự Việt nam cũng như đưa ra các giả pháp
6
các sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành tư pháp hình
sự, cũng như góp phần phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn
áp dụng pháp luật hình sự trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm, cũng
như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội ở nước ta hiện nay.
- Luận văn góp phần và việc xác định đúng đắn những điều kiện cụ thể
của các trường hợp phạm tội “làm nhục người khác” trong thực tiễn điều tra,
truy tố, cũng như đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy phạm của chế định
miễn trách nhiệm hình sự ở khía cạnh lập pháp, cũng như việc áp dụng chúng
trong thực tiễn.
- Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật nước ta về tội
phạm này để rút ra những nhận xét, đánh giá.
- Phân tích thực tiễn xét xử Tội làm nhục người khác trong thực tiễn xét
xử trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2009 đến năm 2013, qua đó góp phần
đánh giá đúng thực trạng phạm tội “Làm nhục người khác”, những nguyên nhân
và điều kiện phạm tội, những khó khăn khi xét xử loại tội này trên thực tế.
- Luận văn còn chỉ ra một số tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn truy tố
và xét xử, nguyên nhân và đề xuất những giải pháp khắc phục.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo phần
nội dung chính của luận văn bao gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về Tội làm nhục người khác
Chương 2: Tội làm nhục người khác theo Bộ luật hình sự năm 1999
và thực tiễn xét xử loại tội phạm này trên địa bàn thành
phố Hà Nội từ năm 2008 đến 2011.
Chương 3: Những yêu cầu và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật
về Tội làm nhục người khác và nâng cao công tác đấu tranh
phòng chống tội phạm này trên địa bàn thành phố Hà Nội.
8
kinh tế, chính trị, chủng tộc, tôn giáo, dân tộc, giới tính,… Nhân phẩm và
danh dự của con người chính là những cái làm nên sự khác biệt và cũng là
bước tiến vượt bậc của con người với phần còn lại của giới tự nhiên. Vì chúng
là những giá trị chỉ thuộc tính chung của con người, do vậy, tôn trọng nhân
phẩm, danh dự của mỗi cá nhân con người là sự tôn trọng đối với chính mình,
đối với đồng loại. Tôn trọng nhân phẩm, danh dự của con người là tôn trọng
những giá trị của con người, nhờ đó con người thực hiện được sự công bằng
và bình đẳng.
Tội làm nhục người khác phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội
phạm, mà theo PGS.TSKH Lê Cảm, phải thể hiện ba bình diện với năm đặc
điểm (dấu hiệu) của nó là: a) bình diện khách quan: tội phạm là hành vi nguy
hiểm cho xã hội; b) bình diện pháp lý: tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự;
c) bình diện chủ quan: tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm
hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi [7, tr. 105].
Trong khoa học pháp lý hình sự, các nhà hình sự học đã đưa ra khái
niệm Tội làm nhục người khác. Các tác giả của Giáo trình luật hình sự Việt
Nam (Phần các tội phạm), Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội cho rằng,
“Tội làm nhục người khác là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm,
danh dự của người khác” [9, tr.158].
Các tác giả của Giáo trình luật hình sự Việt Nam, trường Đại học Luật -
Hà Nội cũng cho rằng, “Tội làm nhục người khác là hành vi xúc phạm
nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác” [42, tr.335].
Từ sự phân tích các quan điểm được trình bày ở trên, chúng tôi xin đưa
ra khái niệm Tội làm nhục người khác như sau: Tội làm nhục người khác là
hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, do người có năng lực
trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình
thức lỗi cố ý, xâm phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác.
10
động mạnh mẽ đến sự hình thành, phát triển nền đạo đức hướng tới con
người, tôn trọng con người và vì con người.
Đạo đức nói chung, các giá trị đạo đức như nhân phẩm, danh dự của
con người nói riêng, một mặt kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống, nhưng
mặt khác, nó phải bảo đảm phù hợp với những yêu cầu của pháp luật nói
chung, pháp luật hình sự nói riêng, khuyến khích công dân tuân thủ pháp luật,
trong đó có pháp luật hình sự.
Thứ hai, tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh phòng, chống các hành vi
xâm phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác.
Đạo đức hình sự giữ vai trò hết sức quan trọng trong đấu tranh phòng
ngừa tội phạm nói chung, Tội làm nhục người khác nói riêng, bởi vì chỉ văn
bản này mới quy định hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự
của người khác là tội phạm và hình phạt có thể áp dụng đối với người đã gây
ra hành vi đó. Việc Nhà nước quy định Tội làm nhục người khác và hình phạt
áp dụng với người phạm tội là nhân danh ý chí của nhân dân, là sự thể hiện
thái độ của nhân dân (thông qua Nhà nước đối với tội phạm). Quy phạm pháp
luật hình sự về Tội làm nhục người khác vừa có tính chất cấm chỉ, vừa có tính
chất bắt buộc. Quy phạm này, một mặt cấm người ta không được thực hiện
hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác bằng sự răn đe áp
dụng hình phạt đối với người phạm tội; mặt khác, quy phạm pháp luật hình sự
này cũng buộc các cơ quan có trách nhiệm khi phát hiện có dấu hiệu của Tội
làm nhục người khác thì phải điều tra, truy tố, xét xử một cách nghiêm minh,
buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự.
Thứ ba, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước ta đối với việc bảo vệ và
phát triển quyền con người nói chung, nhân phẩm, danh dự của con người
nói riêng.
Dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta luôn xác định con người
12
trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử nói chung và điều tra, truy tố, xét xử
về Tội làm nhục người khác nói riêng.
Việc quy định Tội làm nhục người khác trong pháp luật hình sự hiện
hành, ngoài ý nghĩa về mặt lập pháp hình sự còn có ý nghĩa nâng cao nhận
thức của nhân dân nói chung, cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng
về sự cần thiết phải tôn trọng nhân phẩm, danh dự của con người.
Mặt khác, việc quy định cụ thể về Tội làm nhục người khác trong pháp
luật hình sự còn giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật nắm vững nội dung, bản
chất pháp lý; từ đó áp dụng đúng đắn quy phạm pháp luật hình sự này, góp
phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng ngừa Tội làm nhục người khác.
Động viên quần chúng nhân dân tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh này.
1.3. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định
pháp luật hình sự Việt Nam từ thời phong kiến đến trƣớc khi ban hành
Bộ luật hình sự năm 1985 về Tội làm nhục ngƣời khác
1.3.1. Tội làm nhục người khác trong thời kỳ phong kiến và Pháp thuộc
Tội làm nhục người khác là một trong những tội phạm được đề cập rất
sớm trong luật hình sự Việt Nam. Thời kỳ phong kiến, trong Quốc triều hình
luật (Bộ luật Hồng Đức) là “Bộ luật chính thống và quan trọng nhất của triều
đại nhà Lê”, cũng là “Bộ luật xưa nhất còn được lưu giữ đầy đủ ở nước ta” đã
đề cập Tội làm nhục người khác tại các điều 489, 491 492, 496. Điều 489 quy
định: “Học trò mà đánh và lăng mạ thầy học, thì xử nặng hơn tội (đánh, lăng
mạ) người thường ba bậc; đánh chết thì phải tội chém" [1, tr.178]. Đây là quy
định mang tính nhân văn, thể hiện truyền thống “tôn sư trọng đạo” của dân
tộc, để cho quy tắc đạo đức “thầy ra thầy, trò ra trò” được thực hiện nghiêm
chỉnh. Điều 495 Bộ luật còn quy định: “Lăng mạ vợ của quan tại chức, thì bị
tội cùng tiền tạ, đều xử giảm tội lăng mạ người chồng ba bậc; lăng mạ đối với
con thì tội lại xử giảm một bậc nữa” [1, tr.180].
14
để bảo vệ nhân phẩm, danh dự của giai cấp thống trị, bóc lột. Trên tinh thần
đó, Điều 154 Luật hình An Nam quy định:
Trong khi quan lại đương làm chức vụ, người nào lấy văn
từ, ngôn ngữ, thư chỉ và làm việc gì hay là dọa điều gì, để cho
mất danh dự, thể diện của các viên quan lại ấy, phải phạt giam từ
một tháng đến hai năm, và phạt bạc từ hai mươi đồng đến hai
trăm đồng [32, Điều 154, tr.25].
Tương tự như vậy, Điều 222 Hình luật canh cải quy định:
Người nào xỉ mạ quan bên chánh trị, bên Tòa hội đồng thẩm
án, trong lúc mấy vị ấy làm việc bổn phận hoặc dùng lời nói mà xỉ
mạ, hoặc viết chữ hoặc vẽ hình mà không có truyền ra ngoài, trong
các cách ấy hoặc nói xấu cho danh giá, cho sự liêm sỉ của các vị ấy,
thì phải bị phạt tù từ 15 ngày cho tới 2 năm [14, Điều 122, tr.54];
Hoàng Việt hình luật quy định:
Dùng lời nói, hoặc giấy má, viết tay hay giấy in, bức vẽ
hoặc những phương pháp khác mà lỵ mạ một người viên chức
đương khi làm chức vụ hay là nhân khi làm chức vụ, bất kỳ là
công việc hay không cũng gọi là lỵ mạ và chiếu theo Điều 145
chương thứ 12 mà nghĩ xử [14, Điều 320, tr. 445].
1.3.2. Tội làm nhục người khác trong thời kỳ từ khi Cách mạng tháng
Tám năm 1945 thành công cho đến trước khi Bộ luật hình sự năm 1985
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời, đã ban hành
một loạt các văn bản quy phạm pháp luật hình sự, nhằm bảo vệ chính quyền
nhân dân, chống thực dân Pháp, trừng trị bọn việt gian phản động. Do tình
hình kháng chiến diễn ra hết sức khẩn trương, không thể ban hành kịp các văn
bản quy phạm pháp luật nói chung, văn bản quy phạm pháp luật hình sự cần
16
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Nhà nước Cộng hòa miền Nam Việt
Nam; mỗi Nhà nước có pháp luật riêng. Nhà nước Cộng hòa miền Nam Việt
Nam đã ban hành ngay một số chính sách, văn bản quy phạm pháp luật hình sự
nhằm phục vụ thực hiện một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách là
trấn áp bọn phản cách mạng và tội phạm khác, bảo vệ vững chắc an ninh chính
trị và trật tự an toàn xã hội ở nửa đất nước mới được giải phóng.
Cùng với việc ban hành Sắc luật về tổ chức Tòa án nhân dân và Viện
Kiểm sát nhân dân, Sắc luật quy định việc bắt, giam, khám người, khám nhà
ở, đồ vật của Người phạm tội, Nhà nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã
ban hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15-3-1976 quy định các tội phạm và hình
phạt. Sắc luật này được áp dụng trong phạm vi toàn quốc trước khi Bộ luật
hình sự được ban hành. Sắc luật số 03-SL/76 có quy định về các tội xâm
phạm đến thân thể và nhân phẩm của công dân một cách đầy đủ hơn so với
Thông tư số 442-TTg ngày 19-11-1955 của Thủ tướng Chính phủ Điểm d
Điều 5 Sắc luật quy định: “Phạm các tội khác xâm phạm thân thể và nhân
phẩm của công dân thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm những kẻ lập công
chuộc tội" [32, tr.236]. Trên cơ sở quy định này, các Tòa án đã vận dụng xử
lý một số trường hợp phạm Tội làm nhục người khác.
1.3.3. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IV, V của Đảng, nhân dân ta đã giành được một số thành tựu nhất định
trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, tạo ra những cơ sở đầu tiên cho sự
phát triển mới. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, chúng ta đã gặp phải
nhiều khó khăn và khuyết điểm do duy trì quá lâu cơ chế quản lý quan liêu,
bao cấp, nên không thực hiện được mục tiêu đã đề ra là ổn định một cách cơ
bản tình hình kinh tế – xã hội và đời sống nhân dân. Về mặt lập pháp hình sự,