tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự việt nam lý luận và thực tiễn - Pdf 21

TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƯỜI TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tính mạng con người là giá trị cao nhất của con người. Quyền được sống, được
tôn trọng là quyền cơ bản, hàng đầu của con người.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao trong hệ thống các v¨n b¶n quy ph¹m ph¸p
luËt, là đạo luật gốc mà các văn bản pháp luật khác phải tuân theo. Quyền sống của
con người được qui định tại Điều 71 Hiến pháp năm 1992 . Đồng thời, được cụ thể hóa
tại các điều 32, 609 của Bộ luật Dân sự; Điều 8, Điều 24 Luật Bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em. Bộ luật Hình sự năm 1999 (được Quốc hội khóa X nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 6 - từ ngày 18 tháng 11 đến ngày 21
tháng 12 năm 1999) đã dành chương XII qui định về các tội xâm phạm tính mạng, sức
khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Đây là Chương thứ hai phần các tội phạm cụ
thể, chỉ đứng sau chương qui định về các tội xâm phạm an ninh quốc gia.
Trong thời gian qua, quyền sống – tính mạng của công dân được bảo đảm trên
nhiều phương diện. Tuy vậy, còn khá nhiều nguy cơ đe dọa sự sống của con người cần
được phòng ngừa, ngăn chặn và chống lại, như các hành vi xâm phạm tới tính mạng
của con người.
Trong những năm gần đây, tội phạm xâm phạm tính mạng nói chung và nhóm
tội phạm vô ý làm chết người nói riêng có chiều hướng gia tăng về tính nguy hiểm của
hành vi; phức tạp, tinh vi về thủ đoạn. Tính chất tội phạm rất nghiêm trọng. Công tác
đấu tranh phòng chống loại tội phạm này vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Với những lý do nêu trên, việc nghiên cứu đề tài: “Vô ý làm chết người trong
pháp luật hình sự Việt Nam – Lý luận và thực tiễn” là rất cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Nhóm đề tài liên quan đến các tội phạm xâm phạm về tính mạng, sức khỏe,
nhân phẩm, danh dự của con người vẫn luôn là nhóm đề tài được các nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu. Đáng lưu ý là Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Việt Nam
1
năm 1999 tập II phần các tội phạm cụ thể đã được rất nhiều các tập thể các tác giả

ti s dng cỏc quan im ca ng v nh nc ta v chớnh sỏch x lý ti
phm v ngi phm ti xõm phm tớnh mng con ngi trong nhng nm va qua v
vic phũng nga cỏc ti phm ny trong tỡnh hỡnh hin nay.
5. Phng phỏp nghiờn cu: ti c nghiờn cu da trờn phng phỏp
lun ca ch ngha duy vt bin chng v ch ngha duy vt lch s.
Cỏc phng phỏp nghiờn cu c th c s dng l:
- Phng phỏp h thng húa
- Phng phỏp so sỏnh
- Phng phỏp thng kờ.
6. ý ngha lý lun v thc tin ca ti
- ti l cụng trỡnh chuyờn kho u tiờn nghiờn cu lm rừ nhng c s lý lun
v thc tin v ti vụ ý lm cht ngi trong B lut hỡnh s Vit Nam.
- Phõn tớch khỏi nim, du hiu phỏp lý v ti Vụ ý lm cht ngi, ng thi phõn
bit ti phm ny vi một số cỏc ti phm khỏc cũng có dấu hiệu vô ý làm chết ngời.
- Khỏi quỏt tỡnh hỡnh ỏp dng phỏp lut trong thi gian hin nay, thc tin xột x.
- xut mt s gii phỏp nõng cao hiu qu phũng chng ti phm.
- Kt qu ca ti cú th dựng lm ti liu tham kho, hc tp, ng thi cung cp
cho cỏn b lm cụng tỏc thc tin nhng hng dn, ch dn c th, gúp phn nõng cao
hiu qu ỏp dng phỏp lut trong giai on hin nay.
Chng I
C S Lí LUN CA VIC QUY NH TI Vễ í LM CHT NGI
TRONG B LUT HèNH S VIT NAM
I. Sự cần thiết quy định tội vô ý làm chết ngời trong pháp luật hình sự
việt nam
Con ngi l t bo ca xó hi, l vn quý nht ca xó hi, l ch th ca quan
h xó hi cn c xó hi cụng nhn v bo v cỏc quyn con ngi. Trong cỏc quyn
con ngi thỡ quyn thiờng liờng v cao quý nht l quyn sng. Vỡ ú l iu cú ý
ngha quan trng nht i vi bt k cỏ nhõn no v l c s mi cỏ nhõn con ngi
cú th thc hin c cỏc quyn khỏc ca mỡnh c phỏp lut cụng nhn v bo v.
3

phải chịu hình phạt. Đây chính là thái độ của xã hội đối với hành vi đi ngược lại những
chuẩn mực xã hội, đi ngược lại lợi ích của xã hội. Việc chịu hình phạt đảm bảo tính
nghiêm minh của pháp luật đồng thời đảm bảo công bằng xã hội. Trên cơ sở đó, người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có điều kiện để cải tạo, giáo dục bản thân trở
thành người có ích cho xã hội.
Việc quy định phù hợp giữa tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi vi phạm và hình phạt, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó phát huy hiệu quả đấu
tranh phòng chống tội phạm, đồng thời đảm bảo công bằng xã hội. Hành vi càng thể
hiện tính nguy hiểm cho xã hội cao bao nhiêu, thì hình phạt đối với hành vi ấy phải
càng nghiêm khắc bấy nhiêu. Khi hai yếu tố này tương xứng nó góp phần là giảm
thiểu mặt tiêu cực của hình phạt. Không chỉ cộng đồng xã hội nói chung mà ngay cả
người phạm tội cũng nhận thấy hình phạt cho mình như vậy là thích đáng. Có như vậy,
bản thân họ mới có thể cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Trong thực tiễn có rất nhiều hành vi xâm phạm tính mạng con người. Với
nhiều hình thức lỗi khác nhau. Cố ý trực tiếp, Cố ý gián tiếp, Vô ý vì quá tự tin và Vô
ý vì cẩu thả. Đối với trường hợp người phạm tội cố ý (bao gồm cả cố ý trực tiếp và cố
ý gián tiếp) xâm phạm tính mạng, thì tội danh được xác định luôn là giết người, hoặc
giết người có dự mưu…. trường hợp người phạm tội vô ý xâm phạm tính mạng con
người thì được xác định là vô ý làm chết người. Việc xâm phạm tính mạng con người
trong trường hợp này thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội. Từ xưa đến nay, việc
nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi này đã được các nhà nước nhận thức
rõ và đều đã quy định trong luật hình sự của mình. Do kỹ thuật lập pháp ở mỗi giai
đoạn lịch sử và mỗi khu vực có khác nhau, nên việc quy định trong các văn bản pháp
quy mỗi thời mỗi khác. Nhưng tựu trung lại, đều thể hiện thái độ nghiêm khắc của nhà
nước trước hành vi nguy hiểm này.
Quy định tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự là công cụ pháp lý để
Nhà nước – thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước – thể hiện thái độ của mình đối
với hành vi nguy hiểm cho xã hội và kiên quyết đấu tranh phòng chống tội phạm.
5
Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử những năm qua cho thấy rằng, mỗi loại tội phạm có

các cấu thành tội phạm này trong phạm vi từng tội danh. Điều này thể hiện ở việc: đối
với cùng một loại hành vi vô ý làm chết người cũng có nhiều mức độ nguy hiểm khác
nhau cần thiết phải tiếp tục phân hoá theo từng khoản một để có thể đưa ra khung hình
phạt phù hợp. Bên cạnh việc phân hoá hành vi nguy hiểm cho xã hội của các loại hành
vi khác nhau thành các cấu thành tội phạm độc lập. Mỗi cấu thành tội phạm cũng cần
phải phản ánh đúng tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Xem xét phân tách cấu
thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự cũng góp phần phân hoá trách nhiệm hình sự của từng mức độ nguy hiểm cho xã
hội của hành vi.
Hành vi vô ý làm chết người trong mỗi trường hợp khác nhau là khác nhau.
Nhưng để đảm bảo yêu cầu của phân hoá trách nhiệm hình sự, việc cụ thể hoá trách
nhiệm hình sự theo tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là rất cần thiết.
Trường hợp vô ý làm chết một người và vô ý làm chết nhiều người tính nguy hiểm cho
xã hội của hành vi có sự khác biệt lớn. Chia tách theo từng mức độ như vậy là cơ sở để
chúng ta đưa ra mức chế tài phù hợp. Sự phân hoá trách nhiệm hình sự càng triệt để
bao nhiêu thì sẽ góp phần tạo cơ sở pháp lý thuận lợi bấy nhiêu cho công tác cá thể
hoá trách nhiệm hình sự trong thực tiễn xét xử.
Từ những đòi hỏi nêu trên, việc quy định tội vô ý làm chết người trong BLHS
năm 1999 với hai cấu thành tội phạm (cấu thành tội phạm cơ bản và cấu thành tội
phạm tăng nặng trách nhiệm hình sự) là thật sự đúng đắn và cần thiết đáp ứng được
đòi hỏi của lý luận và thực tiễn.
II. Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của tội v« ý lµm chÕt ngêi
1. Khái niệm
“Vô ý làm chết người” hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các trường hợp vô
ý làm chết người được quy định trong các đạo luật Hình sự và văn bản hướng dẫn thi
hành, văn bản pháp luật hình sự từ trước tới nay. Nghiên cứu về khái niệm Vô ý làm
7
chết người trong các văn bản đó là nghiên cứu về khái niệm “Vô ý làm chết người”
nói chung. Trong phạm vi Luận văn này, học viên tập trung nghiên cứu Tội Vô ý làm
chết người theo quy định tại điều 98 BLHS 1999. Những trường hợp Vô ý làm chết

xác định hình thức lỗi hơn là việc đưa ra một khái niệm đủ sức để cá biệt hoá hành vi
vô ý làm chết người với các hành vi của các loại tội phạm khác cũng có dấu hiệu vô ý
làm chết người. Định nghĩa trên cũng chưa nêu hậu quả của hành vi đó là phải gây ra
cái chết cho người khác. “chết người” trong định nghĩa trên mới ở dạng tiềm năng
“khả năng gây ra cái chết”. Định nghĩa trên cũng giống như cách định nghĩa thứ nhất
chưa đề cập đến dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và các dấu hiệu của chủ thể đối
với tội phạm này, đồng thời định nghĩa này chưa làm rõ được ranh giới của hành vi vô
ý làm chết người và các hành vi khác cũng có dấu hiệu vô ý làm chết người.
Về hành vi: Trong luật hình sự Việt Nam, hành vi vô ý làm chết người không
chỉ có trong tội vô ý làm chết người mà còn có trong một số tội phạm được qui định
tại các điều luật khác ví dụ như: “Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ”;
“Tội làm chết người do vi phạm qui tắc nghề nghiệp hoặc qui tắc hành chính”;“Tội vi
phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”; “Tội vi phạm qui
định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ ” Về cơ bản, trong những
trường hợp này cũng là vô ý làm chết người, do vậy định nghĩa tội vô ý làm chết
người phải phân biệt được ranh giới giữa tội vô ý làm chết người với các tội phạm
khác cũng có dấu hiệu vô ý làm chết người.
Hành vi vô ý làm chết người để xác định tội phạm và hình phạt theo qui định
tại điều 98 BLHS với tội danh “Tội vô ý làm chết người” là trường hợp hành vi vô ý
gây ra cái chết cho người khác trong điều kiện hoạt động sinh hoạt thông thường.
Những hành vi phát sinh từ sinh hoạt hàng ngày là vô cùng phong phú, muôn hình vạn
trạng. Trong hầu hết các lĩnh vực chứa đựng những nguy cơ, hay nguồn nguy hiểm,
đều có những nguyên tắc đảm bảo an toàn. Khi thực hiện hành vi đòi hỏi chúng ta phải
nắm được và tuân thủ những quy tắc an toàn để phòng ngừa và tránh những hậu quả
xấu có thể xảy ra, phải cân nhắc, xem xét trước khi đi đến một hành động cụ thể. Nếu
9
trong quá trình thực hiện, chúng ta bỏ qua những nguyên tắc đảm bảo an toàn đó,
chúng ta có thể gây ra những hậu quả khôn lường. Nếu gây thiệt hại về tính mạng cho
người khác, người thực hiện hành vi đó có thể trở thành tội phạm vô ý làm chết người.
Về dấu hiệu hậu quả chết người: Việc vi phạm quy tắc an toàn trong sinh

cần phải nêu được điều kiện về chủ thể của tội phạm như năng lực trách nhiệm hình sự
và tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cũng là hành vi vi phạm các quy tắc sinh hoạt thông
thường, cũng là hậu quả chết người, cũng với lỗi vô ý, nhưng nếu tội phạm được thực
hiện bởi chủ thể là người không có năng lực trách nhiệm hình sự, chưa đủ tuổi thì
cũng không cấu thành tội phạm Vô ý làm chết người.
Bên cạnh đó, trên cơ sở khoa học chúng ta thấy rằng một định nghĩa khoa học
nhất thiết phải đáp ứng được bốn tiêu chí chủ yếu là chặt chẽ về mặt lôgic, chính xác
về mặt ngôn ngữ, ngắn gọn về mặt hình thức (cấu trúc) và đầy đủ về mặt nội dung
[44, Tr.296].
Khi đưa ra khái niệm về tội vô ý làm chết người, trong khái niệm phải nêu bật
được những đặc trưng của tội phạm này: Về khách thể: quan hệ xã hội được luật hình
sự bảo vệ, về khách quan: giới hạn về hành vi làm chết người xem xét xử lý về tội vô
ý làm chết người, hậu quả chết người, mối quan hệ nhân quả; về dấu hiệu hậu quả chết
người, về chủ quan: yếu tố lỗi, về chủ thể: năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi.
Thông qua định nghĩa, phải thấy rõ được phạm vi điều chỉnh hay giới hạn của tội
phạm này.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về tội Vô ý làm chết người
như sau:
“Tội vô ý làm chết người là hành vi gây ra cái chết cho người khác một
cách trái pháp luật trong điều kiện sinh hoạt thông thường, do người có năng lực
TNHS và đủ tuổi chịu TNHS, thực hiện một cách vô ý”
2. Dấu hiệu pháp lý của tội v« ý lµm chÕt ngêi
2.1. Khách thể của tội phạm
11
Tội vô ý làm chết người xâm phạm đến quyền sống của con người. Hành vi
của tội phạm tác động đến con người đang sống, trong điều kiện sinh hoạt bình thường
gây nên sự biến đổi trạng thái của con người từ một cơ thể sống chuyển sang chấm dứt
và mất khả năng sống.
Tuy nhiên để xác định một hành vi có xâm phạm quyền sống hay không chúng
ta phải xác định đối tượng tác động có phải là một con người đang sống hay không.

mỗi quốc gia mà việc xác định thời điểm bắt đầu sự sống của mỗi con người theo pháp
luật của mỗi quốc gia cũng khác nhau. Ngoài ra còn phụ thuộc vào các chính sách phát
triển trong đó có chính sách dân số của từng quốc gia Nhưng cho dù phụ thuộc vào
yếu tố nào đi chăng nữa, sự sống của bào thai là một thực tế không thể chối từ và cần
được bảo vệ. Theo quan điểm cá nhân học viên cho rằng: Sự sống của bào thai đã hình
thành từ khi trứng được thụ tinh và làm tổ trong tử cung của người mẹ. Bào thai đã
mang những đặc điểm của sự sống như dần có sự hình thành và hoàn thiện các mô, cơ,
mạch máu, có sự trao đổi chất, hô hấp thông qua cuống rốn và nhau thai, có cảm giác,
xúc giác và các bộ phận khác của cơ thể con người; có hệ thần kinh và sơ đồ gen riêng
mang tính cá thể, riêng biệt; dần hình thành hệ đường vân riêng mang tính cá nhân, có
sự sinh trưởng và phát triển Tuy chưa độc lập nhưng bào thai đã đầy đủ yếu tố để
xác định sự sống của mình, xác định tính cá thể của mình. Bản thân bào thai quá non
nớt, chưa thể độc lập và phụ thuộc vào rất nhiều vào cơ thể người mẹ. Càng không thể
nói đến việc tự bảo vệ quyền sống cho mình. Chính sách dân số của mỗi quốc gia ảnh
hưởng rất nhiều đến việc pháp điển hoá một quy định pháp luật hình sự về việc bảo vệ
bào thai. Với một nước có sự gia tăng dân số như nước ta hiện nay, tỷ lệ dân số nước
ta trong thời gian tới đang có nguy cơ thiếu lao động, dân số già, chính sách dân số
cũng đã mở rộng về lượng con cho phép mỗi cặp vợ chồng được sinh… việc bảo vệ
bào thai cũng trở nên cần thiết. Xét từ góc độ nhân đạo, chúng ta có thể giới hạn độ
tuổi của bào thai có thể cho phép việc chấm dứt thai kỳ (như trong quy định của pháp
luật hình sự Đức) như thai nhi dưới 12 tuần tuổi. Khi bào thai đã qua 12 tuần tuổi, bào
thai đã hình thành rõ hình người, giới tính, các chi, hệ đường vân… tính cá thể của
thai nhi đã được xác định rõ rệt, chúng ta cần phải bảo vệ quyền sống cho bào thai. Vì
13
các lẽ trên, cho dù xét từ góc độ sinh học, góc độ xã hội hay từ góc độ nhân đạo đều
cho thấy rằng: cần thiết phải công nhận quyền sống của bào thai và phải được bảo vệ
như một thực thể sống con người. Và cần thiết phải ghi nhận trong pháp luật hiện hành
việc bảo vệ quyền sống của bào thai.
Ở một số nước trên thế giới, bào thai được coi là một con người. Như pháp
luật của Cộng hoà Liên bang Đức, Bang California… do đó đã trở thành đối tượng của

đó, quan điểm này cho rằng cần phải bảo vệ đứa trẻ sớm hơn, bảo vệ quyền sống của
con người. Ngược trở lại, trong quá trình sinh đứa trẻ, với một người mẹ không có
kinh nghiệm, do không thực hiện theo chỉ dẫn của bác sỹ chuyên môn, dẫn đến hậu
quả đứa trẻ bị chết ngạt thì người mẹ này hoàn toàn có thể bị kết tội vô ý làm chết
người Người mẹ đã trải qua chuyến “vượt cạn” đầy nguy hiểm. Đứa trẻ được sinh ra
cũng đồng thời với việc người mẹ được sinh ra một lần nữa. Nhưng không may mắn,
đứa trẻ đã chết. Định tội cho người mẹ này như thế nào. Coi đây là hành vi vô ý làm
chết người hay không? Về đạo đức, lương tâm đều không thể.
Theo quan điểm của học viên, học viên cho rằng thời điểm bắt đầu sự sống của
một con người độc lập đó là khi người mẹ đã kết thúc quá trình sinh- cơ thể đứa trẻ
được thoát hẳn ra bên ngoài cơ thể người mẹ. Việc cắt dây rốn cho đứa trẻ hay chưa
không quan trọng, vì điều đó chỉ mang tính hình thức. Dinh dưỡng của đứa trẻ không
còn phụ thuộc vào cuống rốn nữa. Điều quan trọng nhất, sự sống của đứa trẻ đã độc
lập, đứa trẻ đã là một con người độc lập.
Khi thai nhi dần tách khỏi cơ thể mẹ, thai nhi chỉ còn “dính” với cơ thể người
mẹ qua cuống rốn. Tất cả hệ tuần hoàn, hệ hô hấp của thai nhi đã hoàn thiện về cơ
bản, sự phụ thuộc về dinh dưỡng, hô hấp của thai nhi đã chấm dứt. Tuy nhiên, lúc này,
sự sống của đứa trẻ vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào người mẹ. Chúng ta đang bảo vệ
quyền sống của con người. Khi bản thân quyền sống đó, thai nhi chưa hoàn toàn độc
lập, như vậy không thể nói đến việc bảo vệ quyền sống đó như một quyền sống của
con người độc lập.
Về thời điểm chấm dứt hoàn toàn sự sống.
15
Thông thường chúng ta sử dụng thuật ngữ “chết” hay “sự chết”. Theo giáo
trình Y pháp học [30], “sự chết là kết thúc không thể hồi phục hoạt động sống của một
cá thể”. Nhưng trong thực tế, khi đi vào bản chất sâu xa, sự chết không đơn giản như
một mệnh đề định nghĩa. Ở đây ta chỉ xét dưới khía cạnh sinh học. Trên một cơ thể
sinh học nói chung, luôn luôn có sự suy thoái, già và chết đi của các tế bào, của hồng
cầu, của một bộ phận mô - cơ quan bị cắt bỏ, bị hoại tử. Ngược lại, khi một cơ thể đã
chính thức báo tử vẫn còn rất nhiều cơ quan mô, tạng, tế bào vẫn duy trì sự sống của

đó thực sự chết – giai đoạn chết sinh học.
Do đó, sự tác động vào cơ thể con người trong khoảng xác định nêu trên gây ra
cái chết cho con người đều xác định là hành vi xâm phạm tính mạng của con người
2.2. Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành của tội phạm.
không có mặt khách quan thì cũng không có các yếu tố khác của tội phạm và cũng
không có tội phạm. “Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao
gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan”
[47]. Theo đó, mặt khách quan của tội vô ý làm chết người là những biểu hiện của tội
vô ý làm chết người diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Trong đó bao
gồm: hành vi nguy hiểm, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi nguy hiểm và hậu quả nguy hiểm cho xã hội; các điều kiện bên ngoài của việc
thực hiện hành vi phạm tội: thời gian, địa điểm phạm tội,… Trong đó hành vi nguy
hiểm và hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu
quả là những biểu hiện cơ bản của yếu tố mặt khách quan của tội vô ý làm chết người.
2.2.1 Hành vi khách quan
Hành vi khách quan của tội vô ý làm chết người là những biểu hiện của con
người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể có sự kiểm soát
của ý thức và điều khiển của ý chí.
Hành vi nguy hiểm hay hành vi khách quan của tội phạm là yếu tố cơ bản
không chỉ đối với tội vô ý làm chết người mà còn là yếu tố cơ bản của mọi cấu thành
17
tội phạm. Hành vi khách quan là nguyên nhân dẫn đến việc xảy ra hậu quả nguy hiểm,
là nguyên nhân gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, là
biểu hiện bên ngoài của ý thức, ý chí chủ quan của người phạm tội, … cụ thể đối với
tội vô ý làm chết người hành vi khách quan là nguyên nhân gây thiệt hại cho sự sống
của con người. Hậu quả làm chết người chỉ xuất hiện sau khi có hành vi khách quan
diễn ra. Sau khi có hành vi khách quan diễn ra chúng ta mới có thể xem xét đến các
yếu tố khác như chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm.
Theo luật Hình sự Việt Nam, hành vi khách quan của tội vô ý làm chết người

hành vi đó được qui định trong luật hình sự. Việc thực hiện hành vi khách quan thoả
mãn các đặc điểm của tội phạm qui định trong luật hình sự đồng nghĩa với vi phạm
pháp luật hình sự, hay trái pháp luật hình sự. Tội vô ý làm chết người, trải qua các thời
kỳ lịch sử lập pháp Việt nam được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như ngộ sát, thất
sát thương, lầm lỡ làm chết người nhưng về bản chất vẫn thể hiện đó là hành vi vô ý
làm chết người. Bộ Luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã kế
thừa truyền thống lập pháp và quy định về tội phạm này. Quy định này trở thành cơ sở
pháp lý cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự của người phạm tội.
Hình thức thể hiện của hành vi
Hành vi khách quan của tội vô ý làm chết người có thể bằng hành động và
không hành động.
Hành động phạm tội vô ý làm chết người là hình thức của hành vi khách quan
làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm là con người
đang sống gây thiệt hại là hậu quả chết người qua việc chủ thể làm một việc bị pháp
luật cấm.
Hành động phạm tội có thể chỉ tác động đơn giản xảy ra một lần trong thời
gian ngắn hoặc dài, hoặc có thể là tổng hợp của nhiều động tác khác nhau, hoặc có thể
lặp đi lặp lại liên tục trong thời gian dài. Hành động phạm tội có thể tác động trực tiếp
vào đối tượng tác động hoặc thông qua trung gian là các công cụ, phương tiện phạm
19
tội. Trường hợp hành động phạm tội thông qua công cụ phương tiện phạm tội như:
trường hợp giăng dây điện trần để bẫy chuột tại nơi ít người qua lại, nhưng đã dẫn đến
hậu quả điện giật làm chết người; hoặc trường hợp dùng súng tự chế bắn chim, thú
nhưng không may trúng vào người khác làm chết người, hành động tự cấp cứu cho
người khác không đúng cách dẫn đến chết người….
Không hành động phạm tội là hình thức hành vi khách quan làm biến đổi tình
trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể
của tội phạm thông qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải
làm mặc dù có đủ điều kiện để làm. như trường hợp: người sửa thiết bị điện, khi đi ra
ngoài mua bổ sung thiết bị để lắp đặt, sửa chữa đã không cắt cầu dao, khi người khác

về tội vô ý làm chết người.
Nước ta vừa trải qua cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc thống nhất đất
nước. Vật liệu nổ, vũ khí quân dụng mặc dù đã được nhà nước thống nhất quản lý
nhưng lượng vũ khí, vũ khí tự tạo, chất nổ nằm trong sự quản lý của người dân vẫn
còn một lượng đáng kể. Đây là một nguồn nguy hiểm rất lớn. Việc tàng trữ và sử dụng
các loại vũ khí, chất nổ này trong những năm vừa qua đã gây ra biết bao cái chết
thương tâm, biết bao người vì đó mà rơi vào vòng lao lý. Không ít vụ án vô ý làm chết
người đã xảy ra do dùng súng đi săn bắn.
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, khoa học kỹ thuật. Cuộc sống
ngày một hiện đại. Song song với nó trong xã hội lại càng phát sinh thêm nhiều nguồn
nguy hiểm hàm chứa nguy cơ cao dẫn đến hậu quả chết người. Trong xã hội hiện đại,
điện là một phần không thể thiếu, bên cạnh những tác dụng tích cực không thể thay thế
của điện, điện còn là một nguồn nguy hiểm đáng kể. Việc sử dụng điện không đúng,
không tuân thủ các quy tắc an toàn sẽ là một nguy cơ rất cao gây ra thiệt hại về tính
mạng con người.
Một dạng hành vi khác cũng xảy ra khá phổ biến trong thời gian gần đây đó là
hành vi của các con nghiện cấp cứu người không đúng cách đã dẫn đến hậu quả chết
21
người. Do tình hình nghiện ma tuý diễn biến hiện nay ngày càng phức tạp. Các con
nghiện sử dụng chất ma tuý một cách tuỳ tiện. Tình trạng sốc thuốc diễn ra ngày càng
nhiều. Đi đôi với nó là tình trạng các con nghiện thiếu kiến thức về sơ cứu, cấp cứu; tự
cấp cứu cho nhau khi thấy bạn nghiện của mình rơi vào tình trạng sốc thuốc, dẫn đến
không ít trường hợp do cố gắng cấp cứu đã vô tình làm “bạn nghiện” bị thương nặng.
Từ việc bị sốc thuốc kết hợp với bị thương nặng đã trực tiếp dẫn đến cái chết của con
người.
Cũng là sản phẩm của sự phát triển khoa học công nghệ trong lĩnh vực thẩm
mỹ, hiện nay nhiều người có nhu cầu nhờ sự can thiệp của khoa học, công nghệ để làm
thay đổi một số bộ phận trên cơ thể như nâng ngực, phẫu thuật nâng mũi, chỉnh hình
từng bộ phận trên cơ thể cho hoàn hảo hơn….Đứng trước nhu cầu của xã hội, và lợi
nhuận mà các hoạt động này đem lại nhiều cơ sở chưa đủ điều kiện hoạt động, nhiều

Tính mạng con người là vô cùng quý giá. Khi tính mạng đã mất đi thì không
thể khôi phục, không gì bù đắp được. Không ai có thể xác định được giá trị của tính
mạng con người. Thiệt hại này không chỉ đối với bản thân nạn nhân, gia đình, người
thân của nạn nhân mà đây còn là thiệt hại đối với xã hội. Nạn nhân bị mất đi quyền
sống, mọi quyền khác cũng không còn cơ sở để tiếp tục thực hiện. Cha mẹ mất con, vợ
mất chồng, con mất cha, (mất mẹ), anh mất em, họ hàng mất đi người thân, cơ quan, tổ
chức mất đi người đồng nghiệp, xã hội mất đi người công dân – một tế bào của xã hội.
Thiệt hại về tính mạng dù không gì có thể bù đắp được, tuy nhiên, để bù đắp
phần nào tổn thất lớn lao mà gia đình và người thân của nạn nhân phải gánh chịu, pháp
luật quy định nghĩa vụ của người phạm tội phải bồi thường tổn thất – thiệt hại về tính
mạng cho gia đình nạn nhân.
“Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc suy sụp
về tâm lý, tình cảm của cá nhân” [14]. Gia đình, người thân của nạn nhân phải chịu sự
đau thương, suy sụp về tâm lý tình cảm khi bị mất đi một người thân. Thiệt hại này tuy
không dễ xác định trong thực tế. Nhưng đây là thiệt hại thực tế, chúng ta phải xem xét
23
để đánh giá và xác định thiệt hại về tinh thần hay mức độ tổn thất về tinh thần. Trên cơ
sở đó, yêu cầu bị can có nghĩa vụ phải bồi thường - bù đắp một phần tổn thất về tinh
thần cho người thân thích của nạn nhân. Tổn thất tinh thần hay thiệt hại về tinh thần
không phải trường hợp nào cũng giống nhau, không phải có thể cân đong đo đếm
được. Đau thương, mất mát của gia đình nạn nhân không gì có thể tính toán hay trị giá
được. Do đó, mức độ bồi thường, bù đắp tổn thất về tinh thần, thiệt hại về tinh thần chỉ
được xác định là bù đắp một phần tổn thất – thiệt hại về tinh thần.“Thiệt hại về vật
chất là tổn thất về vật chất có thể tính thành tiền” [14]. Thiệt hại về vật chất bao gồm:
Tài sản bị mất, bị huỷ hoại, bị hư hỏng; chi phí phải bỏ ta để khắc phục, ngăn chặn
thiệt hại cùng những hoa lợi, lợi tức không thu được mà đáng ra thu được” [14]. Đối
với tội Vô ý làm chết người - gây thiệt hại về tính mạng, thiệt hại về vật chất có thể
gây ra đó là thiệt hại về phần thu nhập của nạn nhân và có thể có những thiệt hại vật
chất khác có thể xảy ra trong từng vụ việc cụ thể. Thu nhập của nạn nhân chúng ta
cũng không thể tuyệt đối hoá, không thể buộc bị can – bị cáo bồi thường toàn bộ theo

ý làm chết người phải là dấu hiệu chết người và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội đó gây nên cũng buộc phải là mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả chết người do hành vi đó gây ra.
Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả được xác định dựa trên nội dung
cặp phạm trù nhân quả của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Theo đó, mối quan hệ nhân
quả trong tội phạm vô ý làm chết người được xác định như sau : hành vi nguy hiểm
cho xã hội của tội phạm được nhìn như một hiện tượng là nguyên nhân, trong điều
kiện hoàn cảnh nhất định hành vi nguy hiểm trên trực tiếp làm phát sinh hậu quả chết
người là kết quả. Để xem xét đánh giá có hay không có mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi nguy hiểm và hậu quả chết người, chúng ta phải xem xét dựa trên nội dung
của cặp phạm trù nhân quả. Theo đó, chúng ta phải làm rõ ba nội dung :
Trước tiên chúng ta phải làm rõ được hành vi trái nguy hiểm phải xảy ra trước
hậu quả nguy hiểm về mặt thời gian. Khi hậu quả xảy ra trước hành vi chúng ta đang
xem xét thì đương nhiên loại trừ khả năng có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi đang
25

Trích đoạn Nguyờn nhõn trong hoạt động quản lý nhà nước về an ninh trật tự, an toàn xó hội. Nguyờn nhõn trong hoạt động tố tụng. Nguyờn nhõn trong phỏp luật Những tồn tại trong tuyờn truyền phổ biến giỏo dục phỏp luật. Kiến nghị về tuyờn truyền phổ biến, giỏo dục phỏp luật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status