Bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm về tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam Luận văn ThS. Luật - Pdf 29


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TẠ XUÂN TRÀ

BẢO VỆ CÁC QUYỀN CON NGƢỜI
BẰNG CÁC QUY PHẠM VỀ TỘI PHẠM
TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
HÀ NỘI - 2014 3
Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn Tạ Xuân Trà 4
MỤC LỤC

luật hình sự Việt Nam
10
1.2.1.
Khái niệm bảo vệ các quyền con người bằng những quy
phạm về tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam
10
1.2.2.
Ý nghĩa của bảo vệ các quyền con người bằng những quy
phạm về tội phạm của pháp luật hình sự Việt Nam
11
1.2.3.
Đặc điểm của việc bảo vệ các quyền con người bằng những
quy phạm về tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam
13
1.3.
Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của tư tưởng bảo
vệ các quyền con người bằng những quy phạm về tội phạm
trong pháp luật hình sự Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám
năm 1945 đến nay
15
1.3.1.
Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến pháp
điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985
15
1.3.2.
Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1985 đến nay
17

5

Sự thể hiện nội dung bảo vệ các quyền con người bằng
những quy phạm về việc loại trừ trách nhiệm hình sự đối với
hành vi không tố giác tội phạm khi những người ruột thịt
hoặc thân thích gần thực hiện đối với nhau
54
2.2.
Sự thể hiện nội dung bảo vệ các quyền con người bằng
những quy phạm về tội phạm quy định trong Phần riêng
pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành
57
2.2.1.
Sự thể hiện nội dung bảo vệ các quyền con người bằng
những quy phạm về tội phạm quy định tại Chương 12 Bộ
luật hình sự
58
2.2.2.
Sự thể hiện nội dung bảo vệ các quyền con người bằng
những quy phạm về tội phạm quy định tại Chương 13 Bộ
luật hình sự
63

6
2.3.
Thực tiễn áp dụng các quy phạm về tội phạm trong pháp luật
hình sự Việt Nam đối với việc bảo vệ các quyền con người
64
2.3.1.
Thực tiễn áp dụng
64
2.3.2.

quyền con người
77
3.3.1.
Nhận xét chung
77
3.3.2.
Một số kiến nghị hoàn thiện
78

KẾT LUẬN
86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
89
7
8
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là những giá trị pháp lý và nhân văn của các dân tộc,
các quốc gia và cộng đồng trên toàn thế giới. Để bảo đảm được quyền con

49/NQ-TW ngày 02/6/2005 "Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020"
Về pháp luật của nhà nước, trước tiên phải kể đến Hiến pháp, đặc biệt là
Hiến pháp năm 1992, vừa mới được thay thế bằng Hiến pháp năm 2013, chúng
ta đã dành riêng chương 2 để quy định về quyền con người, trong đó có quyền
con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự được nghi nhận với vai trò là một trong
những quyền cơ bản. Cụ thể, Khoản 1 và 2 Điều 20, Hiến pháp năm 2013 quy định:
1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được
pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra
tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào
khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân
dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường
hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định [41].
Điều 31, tại các khoản 1, 2, 3, 4 quy định:
1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi
được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
2. Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong
thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín
theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai.
3. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.
4. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa [41].

10
Tiếp theo Hiến pháp, là luật và các văn bản dưới luật, quyền con
người và bảo vệ các quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự được ghi
nhận tương đối đầy đủ và rõ ràng. Đồng thời, đây là vấn đề vô cùng quan
trọng luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt từ các nhà khoa học, các luật gia,
cũng như những người làm công tác thực tiễn trong nước và ngoài nước.

Những tài liệu nói trên là tư liệu đáng quý để tác giả luận văn kế thừa
nghiên cứu trong luận văn của mình.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của nó - Bảo vệ
các quyền con người bằng các quy phạm về tội phạm trong pháp luật hình sự
Việt Nam. Tuy nhiên, bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm về tội
phạm là một đề tài vô cùng rộng lớn, cần phải nghiên cứu nhiều nội dung, từ
nhiều khía cạnh khác nhau, mà chỉ một công trình ở cấp độ cao hơn mới có
thể, thể hiện được đủ những đòi hỏi đó. Còn ở cấp độ luận văn thạc sĩ này, với
trình độ có hạn, tác giả chỉ dừng lại ở việc đề cập, nghiên cứu một cách tương
đối có tính hệ thống một số nội dung mà theo tác giả cho là chủ yếu đối với
vấn đề bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm về tội phạm được quy
định trong Phần chung, và 02 Chương: Chương 12 và Chương 13 (thuộc Phần
riêng) của Bộ luật hình sự Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận về bảo vệ
các quyền con người bằng các quy phạm về tội phạm trong Phần chung và, 02
Chương: Chương 12 và Chương 13 Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành.
4. Cơ sở phƣơng pháp luận và các phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản

12
Việt Nam về pháp luật, về đấu tranh phòng chống tội phạm, trên cơ sở chính
sách hình sự của Nhà nước Việt Nam.
* Về phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử.

yếu, cơ bản và quan trọng nhất. Đồng thời, đưa ra một số kiến nghị, nhằm
khắc phục phần nào trong số những quy phạm đang tồn tại trong luật thực
định, hướng tới tăng cường bảo vệ các quyền con người.
* Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Cùng với ý nghĩa về mặt lý luận, luận văn đã nghiên cứu, nhận ra một
số tồn tại, trong hoạt động thực tiễn, xét về bình diện bảo vệ các quyền con
người bằng các quy phạm về tội phạm, đưa ra căn cứ và giải pháp nhằm khắc
phục phần nào tồn tại và hạn chế, nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ các
quyền con người.
Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa trong hoạt động nghiên cứu khoa
học đối với các luật gia, học viên, sinh viên chuyên ngành tư pháp hình sự, kể
cả những người làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực tư pháp - hình sự, như
trong hoạt động tố tụng hình sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dùng của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng
những quy phạm về tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Sự thể hiện nội dung bảo vệ các quyền con người bằng
những quy phạm về tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và
thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Hoàn thiện một số quy phạm về tội phạm trong pháp luật
hình sự Việt Nam theo định hướng tăng cường bảo vệ các quyền con người.

14
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ BẢO VỆ CÁC QUYỀN CON NGƢỜI BẰNG NHỮNG QUY PHẠM
VỀ TỘI PHẠM TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM


ngôn đó, theo sự phát triển của nhân loại, những nội dung quyền con người
không ngừng được nâng lên, trở thành vị trí trung tâm, và là cái đích chung
của nhân loại. Chủ nghĩa Mác cũng chỉ ra rằng: Mọi sự vật, hiện tượng trên
thế giới đều tồn tại và phát triển theo những quy luật nhất định, luôn ở trạng
thái vận động. Quyền con người là một phạm trù lịch sử, nên cũng vận động
theo một quy luật của nó, mang tính thời đại, không chỉ là vấn đề của riêng
quốc gia nào. Chính vì vậy, cho đến ngày nay, trên thế giới vẫn xảy ra các
cuộc xung đột gay gắt trên cả lĩnh vực chính trị, vũ trang, tôn giáo, văn hóa…
mà nguyên nhân sâu xa vẫn là quyền con người. Thậm chí, trên thế giới, có
những thế lực lợi dụng vấn đề "quyền con người" đã đem quân can thiệp thô
bạo vào các quốc gia khác, chúng đưa ra những cái gọi là "Bảo đảm nhân
quyền", nhưng bản chất đó là sự chà đạp lên quyền con người.
Đặc biệt, thế giới từ thế kỷ XX đến nay đã xảy ra hai cuộc chiến tranh
lớn nhất lịch sử nhân loại, mà về quy mô, về thiệt hại của nó chưa từng có. Vì
vậy, vấn đề quyền con người, hơn bao giờ hết càng trở nên có ý nghĩa và là
vấn đề trên hết cần phải giải quyết của các quốc gia và của chung toàn thế giới.
Ngày 10/12/1948 Đại hội đồng Liên hợp quốc đã họp, thông qua
Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, trong đó, quyền con người được khẳng
định như sau: "Điều cốt yếu là quyền con người phải được pháp luật bảo vệ
để con người không buộc phải nổi dậy như là biện pháp cuối cùng nhằm
chống lại sự độc tài và áp bức" [31].
Ở phạm vi trong nước, qua quá trình đấu tranh đầy gian nan của cả
dân tộc để giành lấy quyền bính về mình, được đánh dấu bằng thắng lợi của

16
Cách mạng Tháng Tám năm 1945, quyền con người, quyền dân tộc đã được
ghi nhận trong bản Hiến pháp đầu tiên - Hiến pháp năm 1946. Tiếp theo được
phát triển ở những bản Hiến pháp sau này, đặc biệt là lần sửa đổi mới nhất
năm 2013 gần đây, quyền con người đã được ghi nhận tại riêng Chương 2, tại
Điều 14 quy định:

đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các quốc gia - thành
viên Liên hợp quốc cũng như bởi cộng đồng quốc tế [8, tr. 224].
Từ việc nghiên cứu, tổng quát các khái niệm của các cơ quan, tổ chức,
các nhà luật học chuyên nghiên cứu về quyền con người, cũng như các văn
bản luật của quốc tế và quốc gia, người viết có thể đưa ra khái niệm về quyền
con người như sau: Quyền con người là tổng hợp những giá trị vốn có và cao
quý nhất của mỗi người từ khi sinh ra, vừa mang bản chất tự nhiên, vừa mang
bản chất xã hội, vừa là động lực vừa là cái đích để nhân loại hướng tới.
1.2. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VIỆC BẢO VỆ CÁC
QUYỀN CON NGƢỜI BẰNG NHỮNG QUY PHẠM VỀ TỘI PHẠM TRONG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.2.1. Khái niệm bảo vệ các quyền con ngƣời bằng những quy
phạm về tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu vấn đề bảo vệ các quyền con người, cùng với
việc nghiên cứu các quy phạm pháp luật quốc tế về bảo vệ các quyền con
người, cũng như tinh thần bảo vệ các quyền con người của pháp luật Việt
Nam, tác giả có thể đưa ra khái niệm "bảo vệ các quyền con người bằng các
quy phạm về tội phạm" như sau:
Bảo vệ các quyền con người bằng những quy phạm về tội phạm là
ngăn ngừa sự xâm phạm trái pháp luật các quyền con người bởi những hành
vi bị luật hình sự coi là tội phạm, bằng các hoạt động từ khâu: xây dựng, quy
định những quy phạm về tội phạm trong luật hình sự thực định của quốc gia,
cho tới khâu thực thi pháp luật từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

18
1.2.2. Ý nghĩa của bảo vệ các quyền con người bằng những quy
phạm về tội phạm của pháp luật hình sự Việt Nam
Việc nghiên cứu về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật nói
chung, bằng pháp luật hình sự - trong đó có các quy phạm về tội phạm nói
riêng mang nhiều ý nghĩa vô cùng quan trọng, về nhiều phương diện như sau:

nền pháp lý tiến bộ của thế giới đương đại, việc nghiên cứu vấn đề bảo vệ các
quyền con người bằng các quy phạm về tội phạm luôn là nhiệm vụ có ý nghĩa
to lớn. Đặc biệt, trong khi chúng ta đang cải cách tư pháp, nghiên cứu các quy
phạm về tội phạm để làm rõ sự thể hiện những nội dung bảo vệ các quyền con
người như thế nào? Cũng như tìm ra những quy phạm còn chưa hợp lý, hoặc
không còn phù hợp với các quan hệ xã hội hiện tại mà nó không còn đáp ứng
(hoặc chưa đáp ứng) trong việc bảo vệ các quyền con người và không ngừng
tăng cường bảo vệ các quyền con người. Từ đó, đưa ra các kiến giải lập pháp
góp phần vào mục tiêu chung của công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng đất
nước. Cho nên, việc đưa ra nghiên cứu đề tài này là một nhiệm vụ chính đáng.
Hiến pháp và pháp luật là tối thượng, vì thế quyền con người, cũng
như nội dung bảo vệ các quyền con người phải được ghi nhận trong Hiến
pháp và pháp luật, có nghĩa rằng: bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật -
trong đó có pháp luật hình sự, được thể hiện ở phương diện lập pháp. Tuy
nhiên, cho đến lần pháp điển hóa lần thứ hai Bộ luật hình sự năm 1999, vẫn
tồn tại một số điểm cần phải hoàn thiện, cũng như phải sửa đổi, bổ sung, vì
bộc lộ những hạn chế nhất định ngay từ khi xây dựng, cũng như những điểm
không còn phụ thuộc trong quá trình áp dụng do sự thay đổi của các yếu tố
kinh tế - xã hội khác, mà trong đó có các quy phạm về tội phạm quy định tại
phần chung của Bộ luật hình sự Việt Nam.
- Ý nghĩa về phương diện thực tiễn
Thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự nói chung và các quy phạm về tội
phạm nói riêng đã và đang đặt ra những đòi hỏi cần thiết trong việc hoàn thiện,

20
mà trước mắt là khắc phục những hạn chế ở những quy phạm hiện hành, trong
đó có các quy phạm về tội phạm liên quan đến bảo vệ các quyền con người.
Một trong những đặc điểm của Nhà nước pháp quyền là tính minh
bạch của pháp luật, bởi lẽ, để bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và pháp
luật, thì đòi hỏi và nhất thiết đòi hỏi phải minh bạch, tính tối cao và tính minh

máy trấn áp xã hội - đó là Nhà nước. Cơ chế này được vận hành bởi ba nhánh
quyền lực đó là lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chừng nào cơ chế ấy được
thực hiện một cách đúng vai trò, chức năng thì chừng ấy quyền con người mới
được bảo đảm, và không ai có thể bị kết tội oan, hoặc kết tội một cách khách
quan như luật pháp trong một số kiểu nhà nước khác hay thấy.
- Đặc điểm thứ hai, bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm
về tội phạm là một nhiệm vụ không chỉ mang ý nghĩa trong phạm vi quốc gia,
mà còn có ý nghĩa quốc tế. Vì, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chúng ta phải
chuẩn bị và sẵn sàng mọi điều kiện để đủ sức, cũng như thích ứng với những
đòi hỏi của bối cảnh, trong đó có pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự trên
nguyên tắc luật pháp quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có các
quy phạm về tội phạm.
- Đặc điểm thứ ba, bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm về
tội phạm góp phần vào việc thực thi pháp luật hình sự - thuộc lĩnh vực điều
chỉnh, bảo đảm các quyền con người được thực hiện một cách nghiêm minh
và thống nhất.
- Đặc điểm thứ tư, bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm về
tội phạm là một bộ phận chủ yếu của việc bảo vệ các quyền con người bằng
pháp luật hình sự. Từ đó, bảo đảm người dân luôn được yên tâm về những
quyền quý báu của mình, đặt niềm tin vào bộ máy công quyền - nơi mà quyền
con người họ dễ bị xâm phạm, thậm chí là bị chà đạp bởi một bộ phận thoái
hóa trong bộ máy này.
- Đặc điểm cuối cùng, bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm
về tội phạm phải được ghi nhận cụ thể trong luật, phải bảo đảm tính minh
bạch, rõ ràng, chặt chẽ, khoa học và bảo đảm tính logic.

22
1.3. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TƢ
TƢỞNG BẢO VỆ CÁC QUYỀN CON NGƢỜI BẰNG NHỮNG QUY PHẠM VỀ
TỘI PHẠM TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM SAU CÁCH MẠNG

hành Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 về việc trừng trị một số tội phạm,
và lần đầu tiên ghi nhận và cho áp dụng án lệ. Đặc biệt, trong thời kỳ này, tư
tưởng bảo vệ các quyền con người thể hiện trong pháp luật hình sự tiến bộ đáng
kể, khi chỉ xử lý về hành vi phạm tội chứ không xử lý tội phạm mới hình thành
trong tư tưởng. Điều này được thể hiện trong Báo cáo giải thích của Tòa án nhân
dân tối cao về Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 tại
Hội nghị tổng kết công tác năm 1967 của Tòa án nhân dân tối cao.
Ngoài ra, còn một số văn bản khác, như Pháp lệnh trừng trị các tội
xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970, Sắc lệnh số 03/SL của
Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam ngày 15/3/1976; Thông
tư liên ngành số 03/LN ngày 25/12/1982 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ Nội vụ; Bộ Tư pháp quy định về tội trốn đi
nước ngoài và tội được phép ra nước ngoài rồi trốn ở lại nước ngoài
Tại các văn bản này, đã quy định những hành vi nào là hành vi bị coi
là tội phản cách mạng, hoặc những hình vi nào là tội xâm phạm sở hữu; hành
vi nào là hành vi trốn đi nước ngoài hoặc tội được phép ra nước ngoài rồi trốn
ở lại nước ngoài.
Có thể khẳng định, thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến trước
khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành, nhà nước Việt Nam đã ban
hành nhiều văn bản pháp luật hình sự khác nhau, đáp ứng cơ bản những đòi
hỏi cấp bách và cần thiết của xã hội, mặc dù các văn bản đó có những ưu và
khuyết điểm khác nhau.
Để đáp ứng yêu cầu trong đấu tranh, phòng, chống tội phạm thời kỳ
mới, ngày 27/6/1985, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa VII đã thông qua Bộ luật hình sự, (gọi là Bộ luật hình sự năm 1985). Đây

24
là một thành tựu to lớn vượt bậc của nhà nước và nhân dân ta, có ý nghĩa quan
trọng về cả phương diện chính trị - xã hội cũng như phương diện lập pháp, và
là Bộ luật hình sự đầu tiên của chính quyền cách mạng Việt Nam. Từ đây, Bộ

với hành vi không tố giác tội phạm khi những người ruột thịt hoặc thân thích
gần thực hiện đối với nhau khi thực hiện một số loại tội phạm (không phải tất
cả), không chỉ đáp ứng đòi hỏi của xã hội nói chung mà còn thể hiện rõ nét,
cũng như thể hiện sự tiến bộ vô cùng to lớn đối nội dung bảo vệ các quyền
con người bằng các quy phạm về tội phạm.
1.3.3. Những nét cơ bản về bảo vệ các quyền con người bằng
những quy phạm về tội phạm trong pháp luật hình sự của một số nƣớc
trên thế giới
Một trong những thành tựu của pháp luật hình sự tiến bộ trên thế giới
hiện nay là thể hiện những nội dung bảo vệ các quyền con người, trong đó có
sự thể hiện ở các quy phạm về tội phạm. Mặc dù sự thể hiện ở các mức độ
khác nhau trong luật hình sự của các quốc gia trên thế giới. Nhưng, nhân loại
cũng thừa nhận chung đó vừa là thành tựu to lớn, vừa là xu thế tất yếu, mang
tính thời đại chung.
Nghiên cứu những nét cơ bản về nội dung bảo vệ các quyền con người
bằng những quy phạm về tội phạm trong luật hình sự của một số nước để có
những so sánh, đối chiếu để tìm ra những sự thể hiện nội dung đó so với Việt
Nam, từ đó có thêm cơ sở cũng như có ý nghĩa đưa ra những kiến nghị trong
việc hoàn thiện các quy phạm về tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam
theo hướng tăng cường bảo vệ quyền con người.
- Những nét cơ bản về nội dung bảo vệ các quyền con người bằng
những quy phạm về tội phạm trong luật hình sự của Liên bang Nga: Bộ luật
hình sự của Liên bang Nga được Đuma Quốc gia Nga thông qua ngày
24/5/1996, có hiệu lực từ ngày 01/01/1997, đã được sửa đổi, bổ sung năm
2010 và những lần sau. Theo đó:

Trích đoạn SỰ THỂ HIỆN NỘI DUNG BẢO VỆ CÁC QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG NHỮNG QUY PHẠM VỀ TỘI PHẠM QUY ĐỊNH TRONG PHẦN RIấNG Sự thể hiện nội dung bảo vệ cỏc quyền con người bằng những quy phạm về tội phạm quy định tại Chương 12 Bộ luật hỡnh sự Sự thể hiện nội dung bảo vệ cỏc quyền con người bằng những quy phạm về tội phạm quy định tại Chương 13 Bộ luật hỡnh sự THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY PHẠM VỀ TỘI PHẠM TRONG PHÁP Những nhận xột, đỏnh giỏ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status