Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội mua bán người trong luật hình sự việt nam luận văn ths luật - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

CAO VIỆT CƢỞNG

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

(Trên cơ sở các số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2013

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

CAO VIỆT CƢỜNG

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

(Trên cơ sở các số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)

Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số

1.1.

Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố trong
giai đoạn điều tra các vụ án hình sự

7

1.1.1. Khái niệm quyền công tố

7

1.1.2. Thực hành quyền công tố

14

Khái niệm, đối tượng, phạm vi kiểm sát tuân theo pháp luật
trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự

19

1.2.1. Khái niệm kiểm sát tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều
tra các vụ án hình sự

19

1.2.2. Đối tượng, phạm vi kiểm sát tuân theo pháp luật trong giai
đoạn điều tra các vụ án hình sự

21


theo pháp luật trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự
1.5.

Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân
theo pháp luật trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự

55

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG

57

TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG NHỮNG
NĂM GẦN ĐÂY (2007 - 2011)

2.1.

Những kết quả đạt được trong công tác thực hành quyền công
tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Hà Nội từ năm 2007- 2011

57

2.1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội

57

2.1.2. Tình hình tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân


NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CÔNG TÁC THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

4

82


3.1.

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự

82

3.2.

Các giải pháp khác

87

3.2.1. Đổi mới công tác cán bộ, tăng cường bồi dưỡng phẩm chất
đạo đức, nâng cao trình độ về chính trị, nghiệp vụ và trách
nhiệm của cán bộ, kiểm sát viên

87

3.2.2. Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo
Viện kiểm sát nhân dân hai cấp


BLHS

: Bộ luật Hình sự

BLTTHS

: Bộ luật Tố tụng hình sự

CQĐT

: Cơ quan điều tra

KSV

: Kiểm sát viên

THQCT

: Thực hành quyền công tố

TNHS

: Trách nhiệm hình sự

TTHS

: Tố tụng hình sự

VKS

vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Hoàn thiện chính
sách, pháp luật về hình sự, dân sự, thủ tục tố tụng tư pháp. Đổi mới
hệ thống tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử, mở rộng thẩm
quyền xét xử đối với các khiếu kiện hành chính; Viện kiểm sát được
tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức Tòa án, bảo đảm các điều
kiện để thực hiện có hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp… [10].
Việc nghiên cứu để hoàn thiện các cơ chế bảo vệ pháp luật, trong đó
có vấn đề THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp là một trong những

7


nhiệm vụ cấp thiết vì nó không chỉ liên quan đến tổ chức và hoạt động của
VKSND mà còn liên quan đến tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói
chung, trước hết và đặc biệt là các cơ quan tư pháp.
Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật
của Nhà nước, trong những năm qua ngành Kiểm sát nhân dân đã có nhiều cố
gắng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao và đã đạt được nhiều thành
tích đáng khích lệ trong hoạt động THQCT và kiểm sát các hoạt động tư
pháp, góp phần quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân.
Tuy nhiên, so với yêu cầu cải cách tư pháp, công tác THQCT và kiểm
sát hoạt động tư pháp của VKSND vẫn còn những tồn tại, thiếu sót. Trong đó,
công tác THQCT và kiểm sát tuân theo pháp luật ở giai đoạn điều tra còn yếu
kém, một số kiểm sát viên (KSV) được phân công nhiệm vụ THQCT ở giai
đoạn điều tra chưa nắm vững các quy định của pháp luật, chưa bám sát được
tiến độ điều tra, có khi còn ỷ lại cho điều tra viên, năng lực trình độ tổng hợp,
phân tích, đánh giá chứng cứ còn hạn chế, thiếu toàn diện dẫn đến nhiều vụ

Khoa học kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC); đề tài khoa
học cấp Bộ: "Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp", Viện Khoa học kiểm sát - VKSNDTC; đề
tài khoa học cấp Bộ: "Vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08NQ/TW của Bộ Chính trị", Viện Khoa học kiểm sát - VKSNDT; đề tài:"Chức
năng của Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự", của Phạm Đức Minh, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; đề tài: "Nguyên tắc thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự", của
Vũ Đức Hạnh, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà
Nội. Cùng với đó, còn có nhiều bài viết về chủ đề này được đăng tải trên các
tạp chí chuyên ngành luật. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một

9


cách đầy đủ về chức năng THQCT và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của
VKSND trên địa bàn thành phố Hà Nội gắn với yêu cầu cải cách tư pháp,
đồng thời nghiên cứu thực tiễn công tác THQCT trong giai đoạn điều tra các
vụ án hình sự để thấy được những bất cập, vướng mắc còn chưa được tháo gỡ.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về quyền công tố, THQCT
và kiểm sát tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của
VKSND, từ đó làm căn cứ đánh giá thực trạng công tác THQCT và kiểm sát
tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của VKSND hai
cấp thành phố Hà Nội từ năm 2007 đến năm 2011 và đưa ra những giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng công tác THQCT và kiểm sát điều tra các vụ án
hình sự của VKSND thành phố Hà Nội trong thời gian tới, góp phần cùng với
các cơ quan tư pháp của thành phố bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của

đích nghiên cứu đã đặt ra.
6. Những đóng góp khoa học của đề tài
Đề tài đã nghiên cứu một cách cơ bản những qui định của pháp luật về
chức năng THQCT và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của VKSND, đồng
thời nghiên cứu những tồn tại trong thực tiễn áp dụng Bộ luật TTHS 2003 và
các văn bản hướng dẫn thi hành mà nay pháp luật hiện hành vẫn chưa thể tháo
gỡ, những vướng mắc trong việc thực hiện các qui định của Bộ luật Tố tụng
hình sự (BLTTHS) năm 2003 đối với những vấn đề liên quan đến việc thực
hiện chức năng công tố trong hoạt động điều tra của VKS từ đó đưa ra những
kiến giải khoa học về việc tổ chức thực hiện và bổ sung, ban hành mới các
văn bản pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả THQCT và kiểm sát điều tra các
vụ án hình sự, góp phần hoàn thiện hơn nữa tổ chức và hoạt động của VKS
theo yêu cầu cải cách tư pháp.

11


6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về công tác thực hành quyền công tố
và kiểm sát tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân.
Chương 2: Thực trạng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn thành phố
Hà Nội trong những năm gần đây (2007 - 2011).
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án
hình sự của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội.


một loại cơ quan đặc biệt để thực hiện quyền tư pháp nhưng "chống" lại

13


quyền xét xử nhằm bảo vệ các đạo luật, bảo vệ Chính phủ và các thể nhân bị
Tòa án xét xử, đó là quyền công tố.
- Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng, quyền công tố là quyền đại diện
cho Nhà nước, đại diện công quyền để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp
luật thống trị ra cơ quan xét xử, do đó quyền công tố không thể xuất hiện
cùng với Nhà nước mà chỉ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Tòa án với tư
cách là cơ quan xét xử chuyên nghiệp và độc lập [25].
- Nhóm quan điểm thứ tư cho rằng, quyền công tố là một khái niệm
pháp lý, gắn liền với bản chất của Nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời
của Nhà nước và pháp luật. Quyền công tố tồn tại trong tất cả các kiểu Nhà
nước, từ Nhà nước chủ nô đến các Nhà nước đại diện [42].
Qua nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới cho thấy các cơ
quan chuyên trách thực hiện quyền công tố xuất hiện khá muộn, gắn liền với
cuộc đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế, phi dân chủ, thực hiện sự phân
chia quyền lực trong bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, việc ra đời của các cơ quan
chuyên trách thực hiện quyền công tố không đồng nhất với quyền công tố.
Quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, nó luôn gắn liền
với bản chất của Nhà nước và là một một bộ phận không thể tách rời của công
quyền và xuất hiện cùng với Nhà nước. Nhà nước xuất hiện và tồn tại khi xuất
hiện và tồn tại giai cấp (xuất hiện và tồn tại những đối kháng mang tính giai
cấp). Để quản lý xã hội, Nhà nước phải ban hành pháp luật để điều chỉnh các
quan hệ xã hội, giữ cho các quan hệ xã hội được thực hiện theo ý chí của giai
cấp thống trị nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Trong bất kỳ một xã
hội nào, cũng tồn tại những mâu thuẫn mang tính giai cấp và có những hành
vi đấu tranh giai cấp dưới các hình thức khác nhau, biểu hiện cụ thể là những

- Quan điểm thứ nhất đồng nhất khái niệm quyền công tố với khái
niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS. Có thể thấy rõ quan điểm
này xuất phát từ chức năng của VKS để xem xét quyền công tố. Quan điểm
này cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là

15


THQCT. Theo quan điểm này, công tố không phải là một chức năng độc lập
của VKS mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm
sát việc tuân theo pháp luật [26].
Theo chúng tôi, quan điểm trên là chưa chính xác, đã đánh đồng quyền
công tố với quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS, phủ nhận tính
độc lập của hai quyền năng trên mặc dù chúng có nội dung và phạm vi tác
động khác nhau.
- Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền công tố là quyền Nhà nước giao
cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa.
Quan điểm này nhấn mạnh vai trò duy nhất của VKS trong việc thực hiện
quyền công tố chỉ ở một lĩnh vực TTHS và ở một giai đoạn duy nhất của tố
tụng hình sự là giai đoạn xét xử sơ thẩm [39].
Theo chúng tôi, quan điểm này đã thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm
vi của quyền công tố, không phản ánh được đầy đủ bản chất của quyền này.
Bản chất của công tố là buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành
vi phạm tội. Hoạt động buộc tội không chỉ trong việc truy tố người phạm tội
ra trước Tòa án mà được thực hiện xuyên suốt trong quá trình điều tra.
- Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền công tố là quyền đại diện cho
Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để
bảo vệ lợi ích Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật [41]. Người theo quan điểm
này cho rằng, quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được
thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, TTHS, cùng với sự phát triển của xã

quan điểm này là các luật gia theo truyền thống pháp luật của Pháp. Quyền
công tố luôn gắn liền với hoạt động buộc tội nhân danh, do vậy quyền công tố
chỉ được thực hiện trong một lĩnh vực duy nhất, đó là lĩnh vực TTHS. Chủ thể
tham gia vào hoạt động THQCT chỉ bao gồm CQĐT (Điều tra viên) và Viện
Công tố (Công tố viên). Quyền công tố được sử dụng để bảo vệ không chỉ các
lợi ích công mà cả lợi ích của cá nhân khi bị hành vi phạm tội xâm hại.
- Quan điểm thứ sáu cho rằng, quyền công tố là sự cáo buộc của Nhà
nước đối với các cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm

17


hành chính, vi phạm luật dân sự, luật kinh tế và luật hình sự. Và quyền công
tố là quyền của Nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó [14]. Theo quan điểm này,
quyền công tố chỉ thuộc về Nhà nước, Nhà nước không thể không thực hiện
quyền công tố khi chính Nhà nước là người ban hành pháp luật, người có
nhiệm vụ bảo vệ pháp luật và đồng thời, Nhà nước là chủ thể tham gia vào
nhiều loại quan hệ pháp luật khác nhau.
- Quan điểm thứ bảy cho rằng, quyền công tố là quyền của Nhà nước
đưa các việc làm phạm pháp liên quan đến lợi ích chung ra Tòa án để xét xử,
vì Nhà nước nhân danh xã hội duy trì trật tự chung bằng pháp luật. Sự can
thiệp của Nhà nước vào các việc phạm pháp nói trên là do nhu cầu duy trì mọi
xung đột xã hội gắn với trật tự công cộng mà trách nhiệm của Nhà nước phải
đứng ra điều hòa - đó là bản chất của quyền lực công. Quyền lực công được
Nhà nước giao cho cơ quan nào phụ thuộc vào từng kiểu Nhà nước. Theo
quan điểm này, quyền công tố là quyền lực công, quyền đó thuộc về Nhà
nước được bắt nguồn từ nhu cầu phải duy trì trật tự xã hội bằng pháp luật để
bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và những lợi ích chung có liên quan mà
bất kỳ Nhà nước nào cũng đều cần phải can thiệp duy trì vì đó là môi trường
tồn tại của Nhà nước, là trách nhiệm xã hội của Nhà nước vì Nhà nước nhân

hội bị luật hình sự cấm [2].
Nếu như chỉ hiểu theo nghĩa hẹp, thì nội dung của quyền công tố chỉ
được thể hiện trong phạm vi (giới hạn) từ sau khi kết thúc việc điều tra tội
phạm và vụ án hình sự được chuyển sang VKS để truy tố người đã thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm trước Tòa án (1) và, chấm
dứt sau khi Tòa án xét xử xong với việc tuyên một bản án (quyết định) có
hiệu lực pháp luật đối với người đó (2), tức là trong hai giai đoạn của hoạt
động TPHS - truy tố bị can (1) và buộc tội bị cáo của VKS tại phiên tòa xét
xử của Tòa án (2). Hai giai đoạn này tương ứng với việc thực hiện hai chức
năng của VKS nhân danh Nhà nước - chức năng truy tố (1) và chức năng
buộc tội (2).
Còn nếu như hiểu theo nghĩa rộng, thì nội dung của quyền công tố
được thể hiện trong phạm vi (giới hạn) từ khi bắt đầu việc điều tra tội phạm
(1) vụ án hình sự được chuyển sang VKS để truy tố người đã thực hiện hành

19


vi nguy hiểm cho xã hội bị luật Hình sự cấm trước Tòa án (2) và, chấm dứt
khi Tòa án xét xử xong với việc tuyên một bản án (quyết định) có hiệu lực
pháp luật đối với người đó (3), tức là trong ba giai đoạn của hoạt động tư pháp
hình sự - điều tra tội phạm (1), truy tố bị can (2) và buộc tội bị cáo của VKS
tại phiên tòa xét xử của Tòa án (3). Ba giai đoạn này tương ứng với việc thực
hiện ba chức năng của VKS nhân danh Nhà nước - chức năng kiểm sát tính
hợp pháp của việc điều tra (1), chức năng truy tố (2) và chức năng buộc tội (3).
Trên đây là một số quan điểm về quyền công tố. Chúng tôi đồng nhất
với cách phân tích, lập luận thể hiện quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ có
thể được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật TTHS, nó luôn gắn
liền với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại hình
thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm). Bản chất của hoạt động

để phát hiện tội phạm, truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó
trước phiên tòa, nên "thực hành quyền công tố chính là thực hiện các hành vi
tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để truy cứu trách
nhiệm hình sự người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và
bảo vệ sự buộc tội đó" [11].
Chúng tôi nhận thấy quan điểm như trên về THQCT là hợp lý. Tuy
nhiên, xuất phát từ những quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố
đã được pháp luật quy định, việc sử dụng những quyền năng này để thực hiện
việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội chính là THQCT. Do vậy, chúng
tôi đồng tình với quan điểm: "Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng
hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều
tra, truy tố và xét xử" [38].
Với ý nghĩa là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý nhằm mục
đích truy cứu TNHS người phạm tội, đối tượng của hoạt động THQCT là cái mà
hoạt động THQCT tác động vào. Trên cơ sở xác định đối tượng của quyền công
tố là tội phạm và người phạm tội thì có thể xác định đối tượng của hoạt động
THQCT cũng là tội phạm và người phạm tội. VKSND THQCT trong giai đoạn

21


này nhằm tập trung xác định có hay không có hành vi phạm tội đã xảy ra; ai là
người thực hiện hành vi phạm tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội; hệ thống chứng cứ để chứng minh tội phạm và toàn bộ các tình
tiết có liên quan đến việc phạm tội, đến việc làm rõ tội phạm và người phạm tội.
Để khẳng định chính xác phạm vi THQCT chúng ta phải xem xét đến
phạm vi của quyền công tố. Như đã trình bày ở trên, phạm vi quyền công tố
bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Mục đích là mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh

xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm và người
phạm tội, không làm oan người vô tội.
Phạm vi THQCT ở giai đoạn điều tra của VKS được thực hiện từ khi
khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi VKS quyết định truy tố bị can ra trước
Tòa án để xét xử hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật
TTHS. Quan điểm khác cho rằng, phạm vi THQCT ở giai đoạn điều tra bắt
đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi VKS quyết định truy tố bị can ra
trước Tòa án để xét xử hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp
luật TTHS. Quan điểm này lại quá mở rộng phạm vi THQCT ở giai đoạn điều
tra bao trùm cả nội dung của quyền công tố, bởi lẽ: Công tố là hoạt động buộc
tội nên nó phải được bắt đầu khi có tội phạm xảy ra trong thực tế khách quan
và được bắt đầu bằng các hoạt động thu thập tài liệu, chứng cứ để phát hiện
tội phạm và người phạm tội. Nói đến quyền công tố là nói đến sự buộc tội,
còn nói đến THQCT là tổng hợp các quyền năng pháp lý để thực hiện việc
buộc tội ấy. Và quyền năng pháp lý để thực hiện sự buộc tội đó chỉ được phát
động khi vụ án hình sự được khởi tố, đánh dấu việc Nhà nước chính thức
công khai trước toàn xã hội có tội phạm xảy ra và bắt đầu triển khai các hoạt
động thực hành quyền truy cứu TNHS đối với người đã thực hiện tội phạm đó.
Từ sự phân tích trên, THQCT ở giai đoạn điều tra của VKS là việc
VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố
để truy cứu TNHS đối với người phạm tội, được thực hiện từ khi khởi tố vụ
án và kết thúc khi VKS quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử
hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS.

23


Thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra có những đặc điểm
cơ bản sau:
Một là, trong khi hoạt động điều tra có nhiệm vụ chứng minh toàn bộ

xem xét, đánh giá nhằm gỡ tội đối với người phạm tội nhưng thực hiện quyền
buộc tội vẫn là chủ yếu.
1.2. KHÁI NIỆM, ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI KIỂM SÁT TUÂN THEO
PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.2.1. Khái niệm kiểm sát tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều
tra các vụ án hình sự
Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học thuộc Viện ngôn
ngữ - Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia xuất bản năm 2000, thì
"kiểm sát" có nghĩa là kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà nước.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2002 do Hội đồng
Quốc gia chỉ đạo biên soạn, thì "kiểm sát" là hoạt động của VKSND nhằm
kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước.
Với cách giải thích khái niệm "kiểm sát" của các cuốn từ điển nêu
trên, chúng tôi cho rằng, kiểm sát gồm hai loại hình hoạt động cơ bản: giám
sát và kiểm tra. Hoạt động giám sát là hoạt động theo dõi các hoạt động của
các đối tượng bị giám sát và khi cần thiết thì sử dụng các biện pháp tác động
phù hợp để yêu cầu người, cơ quan bị giám sát có hành vi vi phạm pháp luật
sửa chữa vi phạm đó. Hoạt động kiểm tra là hoạt động xem xét, đánh giá hoạt
động của người, cơ quan bị kiểm tra.
Theo pháp luật TTHS Việt Nam, TTHS là trình tự (quá trình) tiến
hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật. TTHS bao gồm
toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (CQĐT, VKS, Tòa án),
người tiến hành tố tụng (Điều tra viên, KSV, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
và Thư ký Tòa án), người tham gia tố tụng (bị can, bị cáo, người bào chữa…)
của cá nhân, cơ quan nhà nước khác và tổ chức xã hội góp phần vào việc giải
quyết vụ án theo quy định của luật TTHS [44].

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status