Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm soát xét xử vụ án hình sự của Viện kiếm sát nhân dân - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THÙY LINH
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Đỗ Thị Phượng

HÀ NỘI - 2012 MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục

20
1.2.2.
Cơ sở thực tiễn
24
1.3.
Quá trình hình thành và phát triển những quy định của pháp
luật về kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát
nhân dân
27
1.3.1.
Giai đoạn từ năm 1960 đến trước khi có Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 1988
27
1.3.2.
Giai đoạn từ năm 1988 đến trước khi có Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2003
31

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ
KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
34 2.1.
Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát xét xử
vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
34
2.1.1.
Kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát

Viện kiểm sát nhân dân
48
2.2.1.
Kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát
nhân dân
48
2.2.2.
Kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát
nhân dân
60
2.2.3.
Nguyên nhân của những vướng mắc trong hoạt động kiểm
sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
64

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH
SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
70
3.1.
Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật tố tụng hình sự
70
3.2.
Các giải pháp khác
80
3.2.1.
Giải pháp về tổ chức
80
3.2.2.
Giải pháp về cán bộ

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, quá trình hội nhập kinh tế - quốc
tế được mở rộng, do đó chức năng của các cơ quan trong bộ máy nhà nước
được thay đổi cho phù hợp. Ngày 25/12/2001, Quốc hội thông qua Nghị quyết
số 51/2001/QH sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, theo
đó tại Điều 2 ghi nhận: "…quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công,
phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp" [26].
Trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Viện
kiểm sát nhân dân cũng như các cơ quan tư pháp khác giữ vai trò quan trọng
trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, duy trì trật tự pháp luật, bảo đảm
sự ổn định của xã hội. Để thực hiện vai trò cũng như trách nhiệm quan trọng
đó, pháp luật đã quy định cho Viện kiểm sát có các chức năng cụ thể. Theo đó
"Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp
luật, thực hành quyền công tố" (Điều 137 Hiến pháp 1992 và Điều 1 Luật Tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân 2002) và theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW
về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định: "Trước mắt, Viện kiểm
sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố

án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân đã được một số nhà khoa học, cán bộ
thực tiễn thực hiện và được công bố trong các công trình khoa học và bài viết
như sau:
- Nguyễn Thu Huệ (2004), Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố
tụng hình sự. Những vấn đề lý luận và thực tiễn - Luận văn thạc sĩ Luật học.
- Nguyễn Hữu Khoa (2010), Chức năng của Viện kiểm sát trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự - Luận văn thạc sĩ Luật học.
- Tôn Thiện Phương (2002), Vai trò của Viện kiểm sát trong xét xử vụ
án hình sự - Luận văn thạc sĩ Luật học. 3
- Trần Xuân Quang (2009), Chức năng của Viện kiểm sát trong giai
đoạn xét xử phúc thẩm hình sự. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Luận văn
thạc sĩ Luật học.
- Nguyễn Văn Oanh (1998), Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự - Luận văn thạc sĩ Luật học.
Ngoài ra, còn một số các bài viết trên các tạp chí khác nhau như:
- Phạm Văn An, Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử
hình sự tại phiên tòa theo yêu cầu cải cách tư pháp - Tạp chí Kiểm sát, số 7
(tháng 4/2011).
- Phạm Văn An, Một số kinh nghiệm trong công tác thực hành quyền
công tố, kiểm sát xét xử hình sự tại phiên tòa theo yêu cầu cải cách tư pháp -
Tạp chí Kiểm sát, số 10 (tháng 5/2011).
- Trịnh Duy Tám (2006), Bàn về vai trò của Kiểm sát viên tại phiên
tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Tạp chí Nghề luật, số 4/2006.
- Nguyễn Huy Tiến, Một số vấn đề liên quan đến trách nhiệm, quyền
hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự - Tạp chí
Kiểm sát, số 17 (tháng 9/2009).
Các công trình nêu trên chỉ nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về

- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung vào nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
về chức năng kiểm sát xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hình sự của Viện
kiểm sát nhân dân. Nghiên cứu thực trạng thực hiện kiểm sát xét xử sơ thẩm,
phúc thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân để từ đó xây dựng các
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ
án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân.
- Phạm vi nghiên cứu:
Kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân là một vấn
đề rất rộng liên quan đến chức năng kiểm sát xét xử của Viện kiểm sát nhân
dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cả giám đốc thẩm, tái thẩm. 5
Tuy nhiên, giám đốc thẩm và tái thẩm không được thừa nhận là một cấp xét
xử, mà chỉ được coi là thủ tục đặc biệt có nhiệm vụ xem xét lại tính đúng đắn
của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Do vậy, phạm vi luận văn
được giới hạn trong chức năng kiểm sát xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hình
sự của Viện kiểm sát nhân dân.
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm sát xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân. Trên cơ sở pháp luật hiện hành,
luận văn đánh giá đúng thực trạng về thực hiện chức năng kiểm sát xét xử sơ
thẩm, phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân từ năm 2007 đến năm 2011.
Nghiên cứu xây dựng giải pháp thực hiện chức năng kiểm sát xét xử sơ thẩm,
phúc thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân nhằm nâng cao chất lượng
kiểm sát xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê
Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước&pháp luật, được trình bày trên cơ

pháp lý.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về kiểm sát xét xử vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát xét xử
vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân và thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động
kiểm sát xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân. 7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1. KHÁI NIỆM, ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI KIỂM SÁT XÉT XỬ VỤ ÁN
HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1.1. Khái niệm
Theo Từ điển Tiếng Việt: "Kiểm sát là kiểm tra việc chấp hành pháp
luật Nhà nước" [18, tr. 523]. Theo Từ điển Luật học:
Kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm tra, giám sát, xem xét,
theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố,
xét xử, thi hành án, giam giữ cải tạo của các cơ quan tiến hành tố
tụng và giải quyết các hành vi phạm pháp, kiện tụng trong nhân
dân nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và
thống nhất [40, tr. 441].
Cả hai định nghĩa này mặc dù đã nêu được nội dung cũng như phạm
vi của hoạt động kiểm sát nhưng lại chưa bao quát được chủ thể của hoạt

tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự" và "kiểm sát các hoạt động tư pháp
trong tố tụng hình sự" có khác nhau hay không, nếu có thì khác nhau ở điểm
nào và mối quan hệ giữa hai khái niệm này là như thế nào.
Tố tụng hình sự là trình tự tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy
định của pháp luật. Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan
tiến hành tố tụng (Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án), người tiến hành
tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư
ký phiên tòa), người tham gia tố tụng (bị can, bị cáo, người bị hại, người bào
chữa ), của cá nhân, cơ quan nhà nước khác và tổ chức xã hội góp phần vào
việc giải quyết vụ án theo quy định của Luật tố tụng hình sự. "Kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự" là kiểm sát tất cả các hoạt động của
các chủ thể nêu trên. 9
Về khái niệm "hoạt động tư pháp", hiện có nhiều ý kiến khác nhau,
loại ý kiến thứ nhất cho rằng, "hoạt động tư pháp là hình thức thực hiện
những thẩm quyền tương ứng do luật định của hệ thống Tòa án mà thông qua
đó các chức năng của nhánh quyền lực thứ ba trong Nhà nước pháp quyền
biến thành hiện thực" [41, tr. 11]. Loại ý kiến thứ hai khẳng định: Hoạt động
tư pháp là hoạt động xét xử của Tòa án, hoạt động của các cơ quan khác của
Nhà nước và các tổ chức khác được Nhà nước cho phép thành lập, trực tiếp
liên quan hoặc phục vụ cho việc xét xử của Tòa án. Tòa án sử dụng công khai
các kết quả hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa, giám định tư pháp, áp dụng
các thủ tục tư pháp theo luật định để nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết
cuối cùng. Hoạt động tư pháp cần được hiểu là "hoạt động của các cơ quan
điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan thi hành án, và các cơ quan, tổ chức liên quan
hoặc bổ trợ cho công tác xét xử của Tòa án" [41, tr. 14].
Như vậy, cả hai loại ý kiến trên hoặc khẳng định chủ thể của hoạt
động tư pháp chỉ là Tòa án, hoặc mở rộng phạm vi chủ thể của hoạt động này

chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm, chấp hành pháp luật -
thực hiện nghĩa vụ một cách tích cực. Như vậy, khái niệm kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong tố tụng hình sự rộng hơn khái niệm kiểm sát hoạt động tư
pháp trong tố tụng hình sự, phạm vi kiểm sát các hoạt động tuân theo pháp
luật trong tố tụng hình sự bao trùm phạm vi kiểm sát các hoạt động tư pháp
trong tố tụng hình sự.
Kiểm sát là một dạng giám sát đặc thù chỉ gắn với duy nhất một loại
chủ thể kiểm sát - Viện kiểm sát với quyền năng kiểm sát và phương thức
kiểm sát riêng biệt. Quyền của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong tố tụng hình sự được thể hiện cụ thể qua các quyền của Viện trưởng,
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên căn cứ vào các quy định tại
Điều 23, 36, 37, 113, 339 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Điều 4, 14, 18,
24, 27 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
Đối với Viện kiểm sát, chỉ có Viện kiểm sát mới có thể tiến hành các
hoạt động kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
một cách trực tiếp, cụ thể, liên tục do có đủ cơ sở, điều kiện cần thiết (vị trí 11
pháp lý đặc biệt với chức năng, quyền lực, bộ máy, cơ sở vật chất…). Viện
kiểm sát có quyền và nghĩa vụ áp dụng các biện pháp cần thiết để tác động trực
tiếp tới các đối tượng bị kiểm sát nhằm đảm bảo cho hoạt động giải quyết vụ
án được theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết vụ án và tương
ứng với các quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng hình sự là nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể bị
kiểm sát trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát.
Bên cạnh việc sử dụng các quyền năng kiểm sát, Viện kiểm sát sử
dụng một phương thức kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
riêng. Nó thể hiện ở việc kiểm tra, giám sát một cách liên tục, cụ thể, trực tiếp

chỉnh và thống nhất.
Trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân thực
hiện và áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo tính
thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm những bản án, quyết định
của Tòa án nhân dân có đủ căn cứ và hợp pháp, loại trừ mọi vi phạm pháp
luật trong hoạt động xét xử vụ án hình sự. Hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân không chỉ là thực hành quyền công tố, bảo vệ quyết định truy tố, bảo vệ
quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân, bảo vệ kháng cáo hợp
pháp của những người có quyền kháng cáo, buộc tội bị cáo, kết luận về tính
có căn cứ, tính hợp pháp của bản án, quyết định của Tòa án nhân dân, mà còn
đồng thời thực hiện hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá
trình xét xử vụ án hình sự. Kiểm sát xét xử hình sự là hoạt động kế tiếp hoạt
động kiểm sát điều tra, là quá trình kiểm tra lại kết quả hoạt động điều tra,
hoạt động kiểm sát điều tra, bảo vệ quan điểm truy tố khách quan đúng đắn
của Viện kiểm sát nhân dân.
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố trong
hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là hai hình thức hoạt động có quan hệ
gắn bó, chặt chẽ, không tách rời nhau nhằm thực hiện chức năng của Viện
kiểm sát nhân dân trong xét xử vụ án hình sự góp phần cùng Tòa án nhân dân 13
xử lý, giải quyết vụ án hình sự, bảo đảm cho hoạt động xét xử đúng pháp luật
(pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và những văn bản pháp luật
khác có liên quan đến quá trình giải quyết vụ án hình sự).
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật được thực hiện trong tất cả các giai
đoạn xét xử vụ án hình sự từ giai đoạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử cho tới
khi vụ án được xét xử xong, Tòa án nhân dân đưa ra một bản án, quyết định
có căn cứ, hợp pháp bảo đảm được đưa ra thi hành. Hoạt động kiểm sát xét xử
vụ án hình sự còn được thực hiện trong tất cả các thủ tục xét xử vụ án hình sự,

các quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát có nội dung là kiểm tra, giám sát
hoạt động tuân theo pháp luật của tất cả các chủ thể tham gia hoạt động tố
tụng hình sự theo các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm nhằm bảo đảm cho việc xét
xử của Tòa án đúng pháp luật, nghiêm minh và kịp thời.
Theo quy định tại Điều 20 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Tòa án
thực hiện chế độ hai cấp xét xử: xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Việc
thực hiện chế độ hai cấp xét xử đã được thừa nhận là một trong những nguyên
tắc cơ bản của tố tụng hình sự. Do vậy, quá trình kiểm sát xét xử của Viện
kiểm sát cũng được thực hiện theo hai cấp này đó là kiểm sát xét xử sơ thẩm
và kiểm sát xét xử phúc thẩm. Do đặc thù của xét xử sơ thẩm là cấp xét xử
đầu tiên trong khi đó xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử
lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối
với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, đây cũng là
cấp xét xử nhằm mục đích kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của bản án,
quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị; kiểm tra, sửa chữa những sai
phạm của Tòa án cấp sơ thẩm để đưa ra một bản án đúng đắn, không bỏ lọt tội
phạm, không làm oan người vô tội nên kiểm sát xét xử sơ thẩm và kiểm sát
xét xử phúc thẩm có đối tượng, phạm vi khác nhau.
1.1.2. Đối tƣợng
Trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, Tòa án nhân dân, Hội đồng xét
xử là các chủ thể tiến hành tố tụng, ngoài ra còn có những người tham gia tố 15
tụng như bị cáo, người bị hại, người làm chứng, người giám định, nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án. Tất cả những chủ thể này đều được pháp luật tố tụng quy định quyền và
nghĩa vụ cụ thể. Mọi hoạt động của các chủ thể này đều căn cứ vào các quy
định của pháp luật để thực hiện.
Trong các giai đoạn xét xử, từ khi chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử cho đến

+ Việc tuân theo các quy định trật tự phiên tòa.
+ Việc tuân theo pháp luật trong các bản án, quyết định của Tòa án.
Trong khi đối tượng của hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự là
sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử sơ thẩm
được quy định tại Điều 185 Bộ luật Tố tụng hình sự: "Hội đồng xét xử sơ
thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm. Trong trường hợp vụ án có tính
chất nghiêm trọng, phức tạp, thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai Thẩm phán
và ba Hội thẩm" [28] và những người tham gia tố tụng xét xử: bị cáo (Điều 50
Bộ luật Tố tụng hình sự), người bào chữa (Điều 56 Bộ luật Tố tụng hình sự),
người bị hại (Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự), nguyên đơn dân sự (Điều 52
Bộ luật Tố tụng hình sự), bị đơn dân sự (Điều 53 Bộ luật Tố tụng hình sự),
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc những người đại diện
hợp pháp của họ (Điều 54 Bộ luật Tố tụng hình sự), người làm chứng (Điều
55 Bộ luật Tố tụng hình sự), người giám định (Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình
sự) còn đối tượng của kiểm sát xét xử phúc thẩm chính là sự tuân theo pháp
luật của Tòa án cấp phúc thẩm và những người tham gia tố tụng quy định tại
Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khi tiến hành các hoạt động kiểm sát, Viện
kiểm sát không chỉ dựa trên các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự mà còn
trên các căn cứ pháp lý khác là Hiến pháp, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân, Bộ luật Hình sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan để kiểm tra,
giám sát sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể là đối tượng của hoạt động
kiểm sát cũng như để đảm bảo tính hợp pháp, tính có căn cứ của chính hoạt
động kiểm sát của Viện kiểm sát. Tất cả những chủ thể này, khi tham gia vào
quá trình giải quyết vụ án hình sự đều phải tuân thủ và thực hiện những quyền 17
và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật
hình sự và sự tuân thủ pháp luật của họ là đối tượng của hoạt động kiểm sát
xét xử hình sự sơ thẩm, phúc thẩm.

xét xử đã có bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, không bị kháng
cáo hoặc kháng nghị; kiểm sát viên thực hiện kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự
hoàn thành những công việc cần thiết theo quy định của pháp luật và Quy chế
kiểm sát xét xử các vụ án hình sự.
Sau khi kết thúc hoạt động kiểm sát điều tra, nếu Viện kiểm sát ra
quyết định truy tố thì "Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định truy
tố bằng bản cáo trạng, Viện kiểm sát nhân dân phải gửi hồ sơ vụ án và bản
cáo trạng đến Tòa án" (khoản 3 Điều 166 Bộ luật Tố tụng hình sự). Khi hồ sơ
vụ án, quyết định truy tố được Tòa án nhân dân nhận, vào sổ thụ lý vụ án là
thời điểm bắt đầu của hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án, đồng thời cũng là thời
điểm mở đầu phạm vi kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự. Trường hợp Viện
kiểm sát nhân dân ra quyết định truy tố, song chưa gửi Tòa án nhân dân hoặc
nếu gửi tới Tòa án nhưng Tòa án không nhận, chưa vào sổ thụ lý thì chưa
thuộc phạm vi hoạt động xét xử cũng như kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự.
Thời điểm kết thúc phạm vi kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự khi bản
án, quyết định của Tòa án sơ thẩm đã tuyên có hiệu lực pháp luật, không có
kháng cáo, kháng nghị và Kiểm sát viên hoàn tất những công việc của mình
theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền
xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự của Tòa án các cấp và Điều 171, 172 Bộ
luật Tố tụng hình sự quy định thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ, thẩm quyền
xét xử những tội phạm xảy ra trên máy bay, tàu thủy…thì tương ứng với các
cấp Tòa án xét xử những vụ án hình sự đó có Viện kiểm sát nhân dân cùng
cấp thực hiện hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự.
Khi có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, Tòa án cấp trên trực tiếp
của Tòa án đã xét xử sơ thẩm sẽ tiến hành các hoạt động tố tụng để mở phiên 19
tòa phúc thẩm xét xử lại vụ án về nội dung cũng như xét lại tính hợp pháp,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status