Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam - Pdf 26

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Đầu tư là một lĩnh vực quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà mục tiêu phát triển kinh
tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt được đặt lên hàng đầu, cùng với sự
cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia, vấn đề là làm sao để thu hút đầu tư, đặc
biệt là FDI và phát huy mọi tiềm lực trong và ngoài nước là vấn đề sống còn.
Nhận thức rõ vai trò của FDI, tất cả các nước trên thế giới đều nghiên cứu để đề
ra một chế độ pháp lý về FDI cho phù hợp. Nhà nước với vai trò thiết kế và
quản lý mọi mặt của đời sống xã hội đã sử dụng pháp luật - một công cụ rất hữu
hiệu để thống nhất và định hướng cho hoạt động FDI. Một môi trường đầu tư
hấp dẫn ngoài các yếu tố kinh tế còn có các yếu tố chính trị, pháp luật phải ổn
định và đồng bộ. Vì thế, pháp luật đóng một vai trò rất quan trọng trong các hoạt
động FDI, là công cụ thiết yếu và tiên quyết cho hoạt động này diễn ra có hiệu
quả.
Việt Nam sau thời kỳ cải cách và mở cửa, cùng những đổi mới căn bản
trong nhận thức và đường lối chính sách ĐTNN và nhất là FDI đã đạt được
nhiều thành tích. Luật Đầu tư năm 2005 ra đời đúng lúc với những quy định về
FDI hấp dẫn cùng một thị trường đầu tư giàu tiềm năng đã đẩy nhanh tốc độ
phát triển đất nước. Đồng thời với đường lối đối ngoại của Nhà nước ta là đa
phương hóa, đa dạng hóa trong các quan hệ, hội nhập với cộng đồng quốc tế trên
cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền, ý chí tự lực tự cường, nhờ một phần ngoại
lực để hỗ trợ cho nội lực phát huy. Vì thế, ngoài việc phải có các biện pháp bảo
đảm FDI, nhà nước cũng phải dành cho FDI những ưu đãi, khuyến khích nhằm
tận dụng mọi nguồn lực bên ngoài, góp phần phát triển kinh tế xã hội, vì sự
nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh…
Tuy vậy trên thực tế, nguồn FDI ở nước ta hiện nay vẫn chưa đáp ứng
được nhu cầu xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế cũng như chưa tương xứng
với tiềm lực về thu hút FDI của Việt Nam. Phải chăng những biện pháp bảo đảm
và khuyến khích FDI của nhà nước ta vẫn chưa thực sự hấp dẫn, chưa lôi kéo
1

trong thời gian tới.
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Khóa luận còn nêu lên một số vấn đề đặt ra, chỉ ra mối liên hệ và tác động
qua lại của các biện pháp bảo đảm và khuyến khích FDI với thực trạng FDI ở
Việt Nam, từ đó đưa ra ý kiến đề xuất là những việc cần thiết phải làm trong
thời gian tới nhằm đẩy mạnh việc thu hút FDI, đưa đất nước phát triển.
Trên cơ sở đó, ngoài phần Mục lục, Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài
liệu tham khảo, nội dung chính của Khóa luận gồm có 3 chương
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về các biện pháp bảo đảm và
khuyến khích FDI
Chương II: Thực trạng của pháp luật Việt Nam về các biện pháp bảo đảm
và khuyến khích FDI.
Chương III: Tình hình đầu tư FDI tại Việt Nam trong những năm gần đây,
phương hướng giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút FDI tại Việt Nam trong thời
gian tới.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM VÀ
KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1. Khái niệm đầu tư nước ngoài, các biện pháp bảo đảm và khuyến khích
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
1.1. Khái niệm đầu tư
Đầu tư là một trong những yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia. Thông qua hoạt động đầu tư, quốc gia có thể huy động được rất
nhiều nguồn lực trong và ngoài nước về vốn, về công nghệ, kỹ thuật… để đẩy
mạnh tốc độ phát triển đất nước.
Như vậy, có thể hiểu đầu tư chính là việc bỏ vốn dưới mọi hình thức vào
sản xuất kinh doanh trên cơ sở tính toán lợi ích kinh tế - xã hội.

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế quốc dân trên cơ sở khai
thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nước, chúng ta cần phải đẩy
mạnh hơn nữa hoạt động thu hút đầu tư. Hoạt động FDI đã trở thành một bộ
phận quan trọng trong toàn bộ chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước ta.
Trong những năm qua, FDI ngày càng được thừa nhận là kênh đầu tư
quan trọng và chủ yếu nhất trong đầu tư nước ngoài, là giải pháp quan trọng góp
phần thúc đẩy sự phát triển nội sinh của nền kinh tế nước nhà. Cho đến nay, có
nhiều cách hiểu khác nhau về FDI.
Theo Luật giúp nước ngoài 1961 của Hoa Kỳ thì: “Đầu tư là mọi hình
thức đầu tư trên lãnh thổ của một bên do các công dân hoặc công ty bên kia sở
hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp”.
Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund - IMF), FDI là
“hoạt động đầu tư nhằm đạt lợi ích lâu dài của nhà đầu tư tại một DN ở một
nước khác với nước của nhà đầu tư, trong đó nhà đầu tư phải có vai trò, có ý
nghĩa quyết định trong quản lý DN” [22, tr.156].
Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for Economic
Cooperation and Development - OECD), FDI được hiểu theo nghĩa rộng hơn:
“FDI là các hoạt động kinh tế của các cá nhân và pháp nhân kể cả việc cho vay dài
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hạn hoặc sử dụng nguồn lợi nhuận tại nước sở tại nhằm tạo dựng các quan hệ kinh
tế lâu dài và mang lại khả năng gây ảnh hưởng thực sự về quản lý” [22, tr.157].
Khái niệm FDI đã trở thành một khái niệm phổ biến trong các đạo luật
của các quốc gia như: Luật khuyến khích đầu tư Thái Lan, Luật đầu tư
Indonexia, Luật đầu tư Việt Nam… Tuy nhiên, tuỳ theo mỗi cách hiểu và từng
góc độ tiếp cận mà có các quy định khác nhau về FDI.
Trên cơ sở nắm bắt được những bản chất cơ bản của FDI, Luật Đầu tư
năm 2005 của Việt Nam quy định tại khoản 2 Điều 3: “Đầu tư trực tiếp là hình
thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”.
Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể định nghĩa khát quát về FDI

lẽ không một nhà đầu tư nào muốn đầu tư vào một đất nước không có các quy
định về bảo đảm đầu tư hoặc có các quy định song còn thiếu chặt chẽ và không
đủ độ tin cậy, không bảo đảm an toàn khi khả năng rủi ro xảy ra. Bảo đảm đầu
tư là tiền đề để các biện pháp khuyến khích đầu tư có tính khả thi trên thực tế
trong việc tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, thông thoáng, song chúng có mục
tiêu thống nhất là thu hút hiệu quả nguồn vốn FDI, đồng thời là cơ sở pháp lý
hết sức quan trọng thúc đẩy khả năng thu hút nguồn vốn FDI và làm tăng sức
cạnh tranh của môi trường đầu tư.
2. Tầm quan trọng của các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư
trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu sắc và toàn diện,
hoạt động FDI ngày càng trở nên có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Việc nhận thức rõ vị trí, vai trò của FDI đối với nền kinh tế trong bối cảnh hội
nhập là yêu cầu hết sức cần thiết. Hơn nữa, môi trường đầu tư ở Việt Nam tuy
đã có nhiều cải thiện, nhưng trên thực tế hiện nay vẫn còn một số điểm bất cập
như: Thủ tục hành chính rườm rà, pháp luật lỏng lẻo, nguồn nhân lực thừa và rẻ
nhưng trình độ còn thấp.... Trong đó, yêu cầu thiết yếu hàng đầu là phải tạo ra
được một môi trường pháp lý hoàn hảo, ngoài việc quy định những biện pháp
bảo đảm và khuyến khích đầu tư hấp dẫn thì pháp luật cần phải thật ổn định,
đồng bộ và chặt chẽ vì các biện pháp bảo đảm và khuyến khích FDI có vai trò to
lớn trong việc:
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Thúc đẩy nền sản xuất hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế đất
nước;
- Bổ sung nguồn vốn quan trọng cho tăng trưởng kinh tế;
- Nguồn vốn FDI góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển lực lượng sản xuất;
- Góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập và
mức sống của người lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực;

khích FDI là những quy định không thể thiếu được trong hệ thống pháp luật của
mỗi quốc gia. Bởi nếu không có quy định này thì sẽ làm cho hoạt động ĐTNN,
đặc biệt là các hoạt động FDI không thể tồn tại được. Do đó mà pháp luật về
ĐTNN của mỗi nước đều cần phải tiếp tục có sự điều chỉnh nhằm hoàn thiện
hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh thu hút FDI đối với các quốc gia khác.
3. Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
trong khuôn khổ các điều ước quốc tế điển hình mà Việt Nam đã ký kết
hoặc tham gia
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, hơn hai mươi năm đổi
mới là hơn hai mươi năm của những kỳ tích về phát triển kinh tế. Công cuộc đổi
mới của nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể. Đó là tốc độ tăng trưởng
kinh tế luôn ở mức cao trong nhiều năm liên tục, nâng cao năng lực sản xuất,
đẩy mạnh xuất khẩu, cân bằng cán cân thương mại, không ngừng cải thiện đời
sống nhân dân…
Đầu tư nước ngoài đã góp phần phá thế bao vây cấm vận, mở rộng quan
hệ kinh tế đối ngoại theo hướng hội nhập hoàn toàn và đầy đủ vào nền kinh tế
thế giới, tạo thuận lợi cho Việt Nam hòa vào dòng chảy của nền kinh tế thế giới.
Bước vào năm 2008, việc thực hiện các cam kết quốc tế đa phương và song
phương, nhất là các cam kết trong khuôn khổ hợp tác ASEAN - AFTA, Hiệp
định thương mại Việt – Hoa Kỳ, các cam kết trong khuôn khổ WTO đã tới thời
điểm khẩn trương. Một năm sau ngày gia nhập WTO, việc thực hiện các cam kết
trong khuôn khổ của tổ chức này cũng được xúc tiến tích cực và đã đi vào giai
đoạn thực chất. Một số cam kết nổi bật sau đây mà Việt Nam đã ký kết hoặc
tham gia có liên quan đến đầu tư cho chúng ta thấy rõ hơn thời cơ và thách thức
đối với nước ta trong việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đầu tư.
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
3.1. Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích FDI trong khuôn khổ các cam
kết của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
Việt Nam đã tham gia trong các chương trình hợp tác kinh tế của ASEAN

về vốn, lao động lành nghề, chuyên gia và công nghệ giữa các nước thành viên.
Những nguyên tắc của khu vực đầu tư ASEAN ghi trong Hiệp định AIA,
gồm: Nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, nguyên tắc có đi có lại, nguyên tắc
đối xử tối huệ quốc và nguyên tắc đối xử quốc gia. Điều 7 của Hiệp định đã ghi:
“Các nước ASEAN cam kết dành ngay lập tức cho các nhà đầu tư ASEAN sự đối
xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho các nhà đầu tư và đầu tư tương
tự của nước mình”. Khoản 2 Điều 7 của Hiệp định cho phép các quốc gia thành
viên đưa ra một danh mục loại trừ tạm thời và một danh mục nhạy cảm đối với
bất kỳ ngành nghề hoặc biện pháp nào có tác động đến đầu tư mà quốc gia đó
không thể mở cửa hoặc đối xử quốc gia.
Hiệp định khung khu vực ASEAN là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc
thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động đầu tư nội bộ và ngoài ASEAN, làm gia tăng dòng
vốn, công nghệ, chuyên gia, công nhân kỹ thuật giữa các nước trong Hiệp hội.
Với việc triển khai hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN, nhất định luồng
đầu tư vào ASEAN sẽ được tăng cường, môi trường đầu tư sẽ trở nên thông
thoáng hơn, hấp dẫn hơn, đồng thời cũng đòi hỏi sự nỗ lực của mỗi quốc gia
trong cải cách để có thể thực hiện đầy đủ và đúng đắn Hiệp định. Đây là nhiệm
vụ quan trọng đối với Việt Nam trong việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp
luật về đầu tư trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
trong Hiệp định thương mại Việt nam – Hoa Kỳ 2000
Hiệp định giữa nước CHXHCN. Việt Nam với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
về quan hệ thương mại (gọi tắt là Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ,
viết tắt theo tiếng Anh là: BTA) là hiệp định có mức độ cam kết cao nhất mà
Việt Nam đã ký kết trên trường quốc tế bởi vì nó được đàm phán và ký kết trên
cơ sở các nguyên tắc cơ bản của WTO và những đòi hỏi khắt khe nhất của một
cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới. Phát triển quan hệ đầu tư là một trong
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
những nội dung quan trọng của Hiệp định này, được thể hiện trong toàn bộ

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO - một tổ chức kinh tế
quốc tế có quy mô toàn cầu, điều chỉnh hơn 90% các hoạt động thương mại thế
giới. Trở thành thành viên của tổ chức này giúp Việt Nam đánh dấu một bước
ngoặt lịch sử, lịch sử của sự hội nhập thực sự, toàn diện và đầy đủ vào nền kinh
tế thế giới, tránh được những bất bình đẳng trong quan hệ thương mại, đầu tư
quốc tế và có cơ hội tạo lập được thị trường xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ rộng
lớn, tranh thủ được vốn và công nghệ cao, trình độ quản lý tiên tiến nhằm thực
hiện mục tiêu phát triển kinh tế nhanh chóng và bền vững… Tổ chức này có một
số yêu cầu có liên quan đến FDI là:
1. Các nước muốn gia nhập WTO phải đảm bảo trong tương lai mức thuế
nhập khẩu không cao hơn mức thuế đã cam kết;
2. Chỉ được bảo hộ bằng thuế, không được bảo hộ bằng các biện pháp phi
thuế quan;
3. Phải áp dụng quy chế tối huệ quốc cho tất cả các nước;
4. Bảo đảm thiết lập môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng cho các DN,
không phân biệt hàng trong nước sản xuất với hàng nhập khẩu…
Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Bộ Chính trị Ban chấp
hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 07/NQ-TW, ngày 27 tháng
11 năm 2001 về hội nhập kinh tế quốc tế, khẳng định một nhiệm vụ quan trọng
của nước ta trong giai đoạn hiện nay là: “Đổi mới mọi mặt hoạt động kinh tế ở
trong nước... ” và tăng cường hợp tác quốc tế.
Trong xu thế chung của khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới thì
Việt Nam đang ở trong thế yếu so với nhiều nước. Muốn tránh “tụt hậu” ngày
càng xa thì phải có bước đi thích hợp để vươn lên, phải “đi tắt, đón đầu”, giành
thế chủ động trong hợp tác kinh tế quốc tế, hợp tác đầu tư, tránh bị động, phụ
thuộc một chiều. Chính sách, cơ chế về ĐTNN phải vừa thu hút mạnh mẽ các
nguồn vốn nước ngoài vừa phải bảo hộ đúng mức sản xuất trong nước. Phải sử
dụng ĐTNN như là một đòn bẩy kích thích nội lực, bảo đảm sự phát triển lâu
bền của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong mọi hoàn cảnh, cần quán triệt chủ trương

Ngoài ra, Việt Nam cũng là thành viên sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu
(Asia Europe Meeting – ASEM) gồm 10 nước Châu Á và 15 nước Châu Âu (từ
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
tháng 03 năm 1996) với nhiều thoả thuận nhằm hướng tới viễn cảnh ASEM
2020, trong đó có một nội dung quan trọng là tự do hoá thương mại và đầu tư
liên châu lục. Theo dự kiến, rất có thể diễn đàn này sẽ phát triển thành một tổ
chức liên châu lục nhằm hợp tác phát triển hai khu vực giàu tiềm năng này của
thế giới.
Việt Nam là thành viên của tổ chức bảo đảm đầu tư đa biên MIGA
(Multilateral Investment Guarantee Agency - MIGA). MIGA là một tổ chức
thuộc Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB). Tổ chức MIGA là cơ quan bảo
đảm đầu tư của các nhà ĐTNN về rủi ro phi thương mại, rủi ro chiến tranh, quốc
hữu hoá… do các nước tiếp nhận đầu tư gây ra bằng việc bán sở hữu, thu phí đối
với nhà đầu tư. Tổ chức MIGA giúp các thành viên trong việc hình thành và
hoàn thiện chính sách, pháp luật về đầu tư, đồng thời giới thiệu tiềm năng của
các quốc gia thành viên. Tổ chức này cũng thực hiện các chương trình trợ giúp
kĩ thuật, tư vấn đào tạo tại chỗ về đầu tư. Nhờ việc tham gia tổ chức MIGA, Việt
Nam có thêm khả năng thực hiện các dự án tại vùng đang có tranh chấp về lãnh
hải. Bởi vậy, các nhà đầu tư được MIGA chấp nhận bảo hiểm sẽ yên tâm đầu tư
vào vùng đang tranh chấp như xung quanh quần đảo Trường Sa … Việt Nam
cũng là thành viên của các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham
gia như: Công ước Paris năm 1883 về quyền sở hữu công nghiệp, Thoả ước
Madrid 1881 về nhãn hiệu hàng hoá …
Rõ ràng, những điểm mốc quan trọng về mở cửa của kinh tế và tự do hoá
thương mại, đầu tư đối với nước ta đã và đang mở ra trước mắt với các cam kết
về sửa đổi hệ thống pháp luật nhằm thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam -
Hoa Kỳ 2000, và với các cam kết thực hiện đầy đủ AFTA vào năm 2006, hoàn
thành lộ trình cắt giảm thuế quan CEPT, 2010, 2013, 2020 với cam kết thực hiện
Hiệp định về khu vực đầu tư ASEAN và những cam kết khác đối với nhiều mặt,

trong một số Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Chính phủ
Việt Nam và nước ngoài
Mặc dù không thể hiện trực tiếp nội dung hội nhập kinh tế quốc tế nhưng
hệ thống các Hiệp định khuyến khích và Bảo hộ đầu tư được ký kết giữa Chính
phủ Việt Nam và Chính phủ các nước là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ
thống pháp luật về FDI tại Việt Nam. Nhằm khuyến khích hơn đầu tư nước
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ngoài vào Việt Nam cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập đầu
tư, tận dụng được các ưu thế về đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã tích cực đàm
phán, ký kết các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương với
nhiều nước trên thế giới, đặc biệt kể từ sau khi Nhà nước ban hành Luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam lần đầu tiên năm 1987 và mạnh mẽ hơn từ năm 1995
và những năm gần đây. Cho đến nay, Việt Nam đã ký kết trên dưới 50 Hiệp định
khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương với các quốc gia và vùng lãnh thổ.
Việc ký kết các Hiệp định này không những khai thông quan hệ hợp tác đầu tư
với các nước ký kết mà còn khẳng định sự phát triển của quan hệ hợp tác kinh tế
giữa Việt Nam và các nước lên một tầm cao mới, cũng như tạo tiền đề cho
những quan hệ hợp tác kinh tế khác trong các khuôn khổ hợp tác đa phương
ngày một phát triển thuận lợi. Các Hiệp định song phương về khuyến khích và
bảo hộ đầu tư mà ta đã ký kết thường có các nội dung, cam kết chủ yếu như sau:
(1) Định nghĩa: Các khái niệm về đầu tư, công dân, công ty của nước ký
kết;
(2) Chế độ đối xử: Phần này tập trung chủ yếu thể hiện cam kết của hai
bên sẽ đối xử với đầu tư của công dân hoặc công ty của bên ký kết kia theo
nguyên tắc đối xử tối huệ quốc hay đối xử quốc gia. Trong số các Hiệp định đã
ký kết, Việt Nam chỉ cam kết dành MFN cho đầu tư của công dân, công ty của
nước đối tác - một nguyên tắc đã được quy định từ trước khi ban hành Luật Đầu
tư năm 2005 (Điều 20 Luật đầu tư nước ngoài). Mặt khác, phù hợp với thông lệ
quốc tế, Việt Nam bảo lưu các ưu đãi dành cho nhà đầu tư của nước thứ ba trong

(6) Các quy định về Luật áp dụng và giải quyết tranh chấp: Đối với tranh
chấp giữa các bên ký kết, ta thường thỏa thuận biện pháp sử dụng trọng tài
Adhoc. Đối với tranh chấp giữa Nhà nước với nhà đầu tư thì tùy theo tính chất
của tranh chấp mà lựa chọn hình thức giải quyết phù hợp. Nhà đầu tư có quyền
đưa vụ tranh chấp với cơ quan Nhà nước ra giải quyết tại Tòa hành chính, trọng
tài UNCITRAL, ICSID hoặc bất kỳ cơ chế giải quyết tranh chấp nào đã thỏa
thuận trước đó.
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÁC BIỆN PHÁP
BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1. Thực trạng của pháp luật Việt Nam về các biện pháp bảo đảm đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
1.1. Bảo đảm quyền sở hữu tài sản hợp pháp
Bảo đảm quyền sở hữu về tài sản hợp pháp khác của nhà ĐTNN là đảm
bảo an toàn về tài sản cho nhà đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt
Nam. Đây là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách bảo đảm
đầu tư của Việt Nam, là điều kiện tiền đề để nhà đầu tư tiến hành hoạt động đầu
tư. Đảm bảo này thông thường được quy định ở những điều khoản đầu tiên của
các đạo Luật về ĐTNN cũng như trong các Hiệp định đầu tư song phương hay
các hiệp định đa phương mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Ở Việt Nam,
việc bảo đảm về tài sản cho các nhà đầu tư đã trở thành một nguyên tắc Hiến
định được ghi nhận tại Điều 25 Hiến pháp 1992: "Nhà nước Cộng hoà xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam đảm bảo quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các
quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. DN có vốn đầu tư nước
ngoài không bị quốc hữu hóa". Tiếp đó, khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư năm 2005
cũng khẳng định lại điều này: “Vốn đầu tư và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư
không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính”. Với quy
định này, Nhà nước Việt Nam bảo đảm cho các nhà đầu tư có quyền sở hữu đối

Vn di x cụng bng v tha ỏng i vi nh TNN ti Vit Nam
ó tr thnh mt chớnh sỏch nht quỏn, xuyờn sut trong cỏc o lut, c th:
iu 22 Hin phỏp 1992 quy nh v nguyờn tc bỡnh ng trong kinh doanh:
"Cỏc c s sn xut thuc mi thnh phn kinh t phi thc hin y cỏc
ngha v i vi Nh nc, u bỡnh ng trc phỏp lut, vn v ti sn hp
phỏ c Nh nc bo h ".
C th húa Hin phỏp 1992, Lut u t nm 2005 ú quy nh ti khon
2 iu 4: Nh nc i x bỡnh ng trc phỏp lut i vi cỏc nh u t
thuc mi thnh phn kinh t, gia u t trong nc v TNN; khuyn khớch v
to iu kin thun li cho hot ng u t. Hay c th hn ti iu 10 cng
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
quy định: “Trong quá trình đầu tư tại Việt Nam, nhà đầu tư được áp dụng thống
nhất giá, phí, lệ phí đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước kiểm soát”.
Chính sách này cũng được gián tiếp qua các quy định của Nghị định
108/2006/NĐ-CP. Theo Điều 3 của Nghị định 108, “trong trường hợp Điều ước
quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có
quy định khác với quy định tại Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật
khác thì áp dụng theo quy định của Điều ước quốc tế đó ". Qua đó, ta có thể hiểu:
Bảo đảm đối xử công bằng và thỏa đáng nghĩa là mọi nhà ĐTNN khi tiến hành
hoạt động đầu tư tại Việt Nam đều được đối xử một cách bình đẳng trước pháp luật
Việt Nam. Họ đều được hưởng các quyền lợi và phải gánh chịu các nghĩa vụ pháp
lý mà không có sự phân biệt bởi lý do chính trị, kinh tế, văn hóa… hay bất kỳ một
lý do nào khác (trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham
gia có quy định khác thì sẽ thực hiện theo các cam kết được ghi nhận trong các hiệp
định đó. Đây là một nguyên tắc quốc tế được hầu hết các quốc gia tuân thủ). Các
nhà đầu tư còn có cơ hội ngang nhau trong việc lựa chọn các phương thức, hình
thức đầu tư, lĩnh vực dự án, cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh, được chuyển
lợi nhuận ra nước ngoài… Bên cạnh đó xuất phát từ lý do độc lập chủ quyền, an
ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, phát triển kinh tế bền vững… nên vẫn có những

tranh chấp. Cụ thể khoản 2, 3, 4 Điều 12 quy định:
“Tranh chấp mà một bên là nhà ĐTNN hoặc DN có vốn ĐTNN hoặc tranh
chấp giữa các nhà ĐTNN với nhau được giải quyết thông qua một trong những
cơ quan, tổ chức sau đây:
- Toà án Việt Nam;
- Trọng tài Việt Nam;
- Trọng tài nước ngoài;
- Trọng tài quốc tế;
- Trọng tài do các bên tranh chấp thoả thuận thành lập”.
Ngoài ra, “tranh chấp giữa nhà ĐTNN với cơ quan quản lý nhà nước Việt
Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết
thông qua Trọng tài hoặc Toà án Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
trong hợp đồng được ký giữa đại diện cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ĐTNN hoặc trong Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên”.
Những quy định trên đã tạo nên một cơ chế giải quyết khá hợp lý và thống
nhất trong đầu tư, tạo sự tin tưởng cho các bên đương sự về một cơ chế giải
quyết tranh chấp thỏa đáng của pháp luật Việt Nam khi xảy ra tranh chấp.
1.4. Bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp pháp khác của nhà
đầu tư ra nước ngoài
Bất kỳ một nhà đầu tư nào khi thực hiện đầu tư vào một nền kinh tế khác
đều đặt ra yêu cầu là phải được chuyển vốn, lợi nhuận và các tài sản hợp pháp
khác của mình ra nước ngoài một cách thuận tiện. Đây là nhu cầu tất yếu nhằm
đảm bảo cho việc chu chuyển vốn vì mục đích tái đầu tư hoặc mục đích khác
của nhà đầu tư nước ngoài. Ở Việt Nam, biện pháp bảo đảm này đã xuất hiện từ
Luật ĐTNN 1987, được hoàn thiện ở Luật ĐTNN 1996 và được kế thừa tại Luật
ĐTNN 2000 và được hoàn thiện ở Luật đầu tư năm 2005. Cụ thể, khoản 1 Điều
9 Luật Đầu tư năm 2005 quy định các nhà ĐTNN đầu tư vào Việt Nam được

đó thì nhà đầu tư được hưởng các quyền lợi, ưu đãi theo quy định mới kể từ ngày
pháp luật, chính sách mới đó có hiệu lực.
2. Trường hợp pháp luật, chính sách mới ban hành làm ảnh hưởng bất lợi
đến lợi ích hợp pháp mà nhà đầu tư đã được hưởng trước khi quy định của pháp
luật, chính sách đó có hiệu lực thì nhà đầu tư được bảo đảm hưởng các ưu đãi
như quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư hoặc được giải quyết bằng một, một số
hoặc các biện pháp sau đây:
- Tiếp tục hưởng các quyền lợi, ưu đãi;
- Được trừ thiệt hại vào thu nhập chịu thuế;
- Được điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án;
- Được xem xét bồi thường trong một số trường hợp cần thiết.”
Những quy định mang tính nguyên tắc này đã thực sự tạo ra cho nhà đầu
tư sự tin tưởng, an tâm hơn về quyền lợi của họ được bảo đảm khi có sự thay đổi
của pháp luật, nhất là khi ở Việt Nam, chưa xây dựng được một khung pháp lý
thật sự đồng bộ và ổn định và lâu dài.
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.6. Những biện pháp bảo đảm đầu tư trực tiếp nước ngoài khác
Bên cạnh những biện pháp bảo đảm đầu tư trực tiếp nói trên, pháp luật
Việt Nam cũng có những quy định nhằm bảo đảm quyền sở hữu của nhà ĐTNN
đối với các quyền lợi khác như:
- Nhà nước b¶o hộ quyền sở hữu trí tuệ, trong hoạt động đầu tư; bảo đảm
lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và “ bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về sở
hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan” (Điều7- Luật Đầu
tư năm 2005) và đã được cụ thể hóa hơn trong Luật Chuyển giao công nghệ năm
2006 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Các quy định này đã tạo ra các điều kiện
mở mà ở đó các nhà đầu tư nước ngoài hoàn toàn tin tưởng an tâm đối với mọi
vấn đề có liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) và hoạt động
chuyển giao công nghệ (CGCN) tại Việt Nam. Pháp luật Việt Nam bảo đảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status