ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
MéT Sè VÊN §Ò Lý LUËN Vµ THùC TIÔN
VÒ TéI MUA B¸N NG¦êI TRONG LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành:
Mã số: 60 38 01 04 TS. BNH
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
1
:
8
1.1.
8
1.1.1. Khái niệm tội mua bán người 8
1.1.2. Ý nghĩa của việc quy định tội mua bán người trong luật hình sự
Việt Nam 10
1.2. 13
1.2.1. Khách thể của tội mua bán người 13
1.2.2. Mặt khách quan của tội mua bán người 14
1.2.3. Chủ thể của tội mua bán người 15
1.2.4. Mặt chủ quan của tội mua bán người 17
1.2.5. Về hình phạt của tội mua bán người: 20
1.3.
24
1.3.1. Pháp luật hình sự Trung Quốc 24
1.3.2. Pháp luật hình sự Thái Lan 27
1.3.3. Pháp luật hình sự Philippin 29
31
: 32
2.1. 32
2.1.1. Tình hình xét xử tội mua bán người ở Việt Nam 32
2.1.2. Thực tiễn xét xử tội mua bán người trên địa bàn Hà Nội 43
2.2. 52
Nxb
tr
TS
TM, SK, DD, NP
TANDTC
Bộ luật hình sự
Công an thành phố
Mua bán người, trẻ em
Nhà xuất bản
Trang
Tiến sĩ
Tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm
Toà án nhân dân tối cao
TNHS
Trách nhiệm hình sự
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1:
Tội mua bán người theo số vụ và số bị cáo trong 5 năm
danh dự của con người và so với các tội phạm nói
chung trên địa bàn thành phố Hà Nội trong 5 năm (các
năm 2009 - 2013)
47
Bảng 2.9:
So sánh số vụ mua bán người trên địa bàn Hà Nội với
số vụ mua bán người, trẻ em trên toàn quốc trong 5
năm (các năm 2009-2013)
48
Bảng 2.10:
So sánh số vụ và số bị cáo phạm tội mua bán người với
số vụ và số bị cáo phạm tội mua bán trẻ em trên địa
bàn Thành phố Hà Nội trong 5 năm (các năm 2009 -
năm 2013
48
Bảng 2.11:
Tình hình tội phạm mua bán người trên địa bàn thành
phố Hà Nội theo hình thức phạm tội trong 5 năm) các
năm 2009 - 2013)
49
Bảng 2.12:
Chế tài hình sự áp dụng đối với người phạm tội mua
bán người trên địa bàn thành phố Hà Nội trong 5 năm
(các năm 2009 - 2013)
50
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
vấn nạn, mang tính thời sự nóng bỏng và gây bức xúc trong toàn xã hội,
không chỉ ở Việt Nam mà trên phạm vi toàn thế giới với diễn biến ngày càng
phức tạp; tính chất và thủ đoạn hoạt động ngày càng nghiêm trọng, tinh vi,
xảo quyệt; nhiều trường hợp có tổ chức chặt chẽ và có tính xuyên quốc gia.
Đáng chú ý đã xuất hiện một số đường dây đưa người sang Trung Quốc bán
nội tạng cho các bệnh viện tư, dẫn đến nạn nhân bị tử vong.
Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong công tác phòng, chống
mua bán người, đặc biệt là mua bán phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên, bên cạnh
những thành tựu đã đạt được vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập.Điều
này thể hiện ở chỗ:
Về lý luận, đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành
nhằm bảo vệ quyền con người nói chung, quyền của phụ nữ và trẻ em nói
riêng như: Hiến pháp; Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật hình sự; Bộ luật Tố
tụng hình sự; Luật Bình đẳng giới; Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012…
góp phần quan trọng vào việc phòng ngừa, ngăn chặn, trừng trị tội phạm mua
bán người. Chính phủ cũng đã ban hành một số văn bản liên quan đến các lĩnh
vực mà bọn tội phạm có thể lợi dụng để lừa gạt phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài
bán. Chúng ta đã tăng cường phối hợp với các nước, các tổ chức quốc tế,
2
nhất là hợp tác với các nước láng giềng, các nước trong khu vực như: Trung
Quốc, Campuchia, Lào, Thái Lan và các tổ chức Cơ quan Phòng, chống ma
tuý và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC), Dự án Liên minh các tổ chức
Liên hợp quốc về phòng, chống buôn bán người (UNIAP), Tổ chức Di cư
quốc tế (IOM),… để triển khai nhiều hoạt động liên quan đến phòng, chống
buôn bán người. Tuy nhiên, các điều luật quy định về tội này trong Bộ luật
hình sự năm 1999 còn tồn tại một số bất cập, thiếu sót, còn chưa phù hợp với
các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Bên cạnh đó, vẫn còn một số kẽ
hở, thiếu sót trong một số lĩnh vực pháp luật như lĩnh vực kết hôn với người
nước ngoài, cho nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài, sử dụng lao động, xuất
Do tội mua bán người có diễn biến phức tạp và có tính chất”xuyên
quốc gia” nên ở trong và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa
học ở những mức độ khác nhau, những khía cạnh, phương diện khác nhau về
tội mua bán người như:
Phát hiện, điều tra các tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới
của lực lượng cảnh sát nhân dân (Luận án tiến sĩ luật học (2006) của Trần
Minh Hưởng bảo vệ tại Học viện Cảnh sát nhân dân). Đấu tranh phòng
chống mua bán phụ nữ ở Việt Nam (Luận văn tiến sĩ luật học (2008) của
Nguyễn Văn Hương bảo vệ tại trường Đại học Luật Hà Nội). Đấu tranh
phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam - Thực trạng,
nguyên nhân và giải pháp (Luận văn Thạc sĩ luật học (2006) của Nguyễn
Quyết Thắng bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Tội mua bán phụ nữ -
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Luận văn cử nhân luật (2007) của Trần
Thị Lý bảo vệ tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đấu tranh phòng,
chống tội mua bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới tại tỉnh An Giang (Luận
văn thạc sĩ Luật học (2007) của Nguyễn Minh Diễm Quỳnh (bảo vệ tại
4
Trường Đại học Luật TP.HCM)… Các bài viết: Cần từng bước hoàn thiện
pháp luật về công tác phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em của
tác giả Lương Thanh Hải (Tạp chí Tòa án nhân dân số 7/2006); Luật Phòng,
chống mua bán người - Cơ sở pháp lý đấu tranh chống tội phạm mua bán
người trong thời gian tới của GS.TS Nguyễn Ngọc Anh (Tạp chí CAND số
chuyên đề tháng 8 năm 2011); Một số giải pháp phòng ngừa tội phạm mua
bán phụ nữ và trẻ em của tác giả Đặng Thu Hiền (Tạp chí Kiểm sát số
21/2006); Nội dung cơ bản của Luật Phòng, chống mua bán người của tác
giả Ngô Đức Thắng (Tạp chí Công an Nhân dân số 8/2011)…
Trong các công trình kể trên một số tác giả đã nghiên cứu về thực
trạng, tìm ra nguyên nhân và đưa ra các giải pháp phòng ngừa tội mua bán
phụ nữ, trẻ em trên toàn quốc hoặc ở một số địa phương nhất định, một số tác
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn xét xử tội mua bán người, đồng thời
phân tích làm rõ một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản;
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định Bộ luật hình sự Việt Nam về
tội mua bán người và nâng cao hiệu quả áp dụng.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội mua bán
người trong luật hình sự Việt Nam, kết hợp việc phân tích thực tiễn xét xử tội
mua bán người trong phạm vi cả nước và trên địa bàn thành phố Hà Nội, các
nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp trên
phương diện lập pháp hình sự và phương diện thực tiễn, nâng cao hiệu quả áp
dụng quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội mua bán người.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn tình hình tội mua bán
người từ năm 2009 - 2013 trong phạm vi cả nước, có phân tích, đánh giá so
sánh với địa bàn thành phố Hà Nội.
6
4.
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà
nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể
hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng X, XI và các Nghị quyết số 8-
NQ/TW ngày 2/1/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các
phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp
phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn
dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thông kê, điều tra xã hội học để
tổng hợp các tri thực khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được
nghiên cứu trong luận văn.
8
Chương 1
1.1.
1.1.1. Khái niệm tội mua bán người
Tội mua bán người là một trong những loại tội phạm nguy hiểm cho xã
hội do đó nó mang tính chất chung của tội phạm, được quy định trong Điều 8
của Bộ luật hình sự năm 1999 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định
trong bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền,
thống nhất toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị,
chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã
hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng,
vật chất khác để trao đổi người (từ đủ 16 tuổi trở lên) như một loại
hàng hóa; cụ thể là một trong các hành vi sau đây:
1. Bán người cho người khác, không phụ thuộc vào mục đích
của người mua.
2. Mua người để bán lại cho người khác, không phân biệt bán
lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào;
3. Dùng người như là tài sản để trao đổi, thanh toán;
4. Mua người để bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì các
mục đích trái pháp luật khác;
5. Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người
thực hiện một trong các hành vi mua bán người được hướng dẫn tại
10
các khoản 1,2,3 và 4 Điều này đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội mua bán người [3, Điều 1].
Từ những phân tích trên đây, có thể thấy rằng, hiện nay trong pháp luật
Việt Nam chưa có khái niệm đầy đủ về tội mua bán người. Tuy chưa có một
định nghĩa chuẩn từ các nhà lập pháp nhưng xuất phát từ những phân tích về
mặt lý luận trên đây và qua thực tiễn xét xử, có thể đưa ra định nghĩa khoa
học của khái niệm tội mua bán người như sau:
Tội mua bán người là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng
lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một
cách cố ý, gây tổn hại hoặc đe dọa đến quyền bất khả xâm phạm, tự do thân
thể, nhân phẩm của con người.
1.1.2. Ý nghĩa của việc quy định tội mua bán người trong luật hình
sự Việt Nam
Về chính trị - xã hội, đó là sự cụ thể hóa chính sách hình sự trong
giai đoạn xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.Tại
Điều 1, Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã
nêu lên nhiệm vụ của Bộ luật hình sự Việt Nam là:
tội phạm này.
Về mặt lý luận, đóng góp thêm một tội phạm vào kho tàng các tội
phạm trong luật hình sự Việt Nam. Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 (sửa
đổi, bổ sung năm 2009) đã quy định Tội mua bán người tại Điều 119
Chương XII Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự
của con người. Tội mua bán người có tiền thân là tội mua bán phụ nữ được
quy định tại Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 và đã được đổi tên thành tội
mua bán người trong lần sửa đổi, bổ sung năm 2009. Trong Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1985, đã có những quy định về hành vi mua bán phụ nữ tại
12
Điều 115 Chương II Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm,
danh dự của con người.
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều
chính sách và văn bản pháp luật phòng ngừa, ngăn chặn, trừng trị tội phạm
này. Đồng thời cũng đã có các chế tài cụ thể đối với những hành vi liên quan
đến hoạt động mua bán người. Chúng ta đã xây dựng được một khung pháp
luật nhằm bảo vệ quyền con người nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý các
hành vi mua bán người. Nhiều văn bản pháp luật của chúng ta hàm chứa các
quy định về vấn đề này như Luật phòng, chống mua bán người năm 2011;
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Luật Bình đẳng giới năm 2006; Luật
lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2005); Luật xử lý vi phạm hành
chính năm 2012… và hành loạt văn bản có liên quan dưới góc độ phòng ngừa,
ngăn chặn, trừng trị tội mua bán người.
Về thực tiễn, tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý các hành vi mua bán
người. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Bộ luật hình sự có vai trò đặc biệt
quan trọng trong việc phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, giữ gìn trật tự an
toàn xã hội; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 1999 quy định về tội phạm và hình phạt đối với người phạm
tội. Chỉ người nào phạm một tội đã được quy định trong Bộ luật hình sự mới
TNHS vì sự đánh giá về mặt pháp lý hình sự các dấu hiệu thuộc khách thể
của tội phạm là nhằm xác định xem hành vi phạm tội được thực hiện đã xâm
hại đến quan hệ xã hội nào được bảo vệ bằng pháp luật hình sự và vai trò
của các dấu hiệu đó trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi
đã được thực hiện trong thực tế. “Quan hệ xã hội là khách thể bị xâm phạm
ở đây chính là quyền bất khả xâm phạm, tự do thân thể, nhân phẩm của con
người” [13, tr.214].
14
Tội mua bán người xâm phạm đến quyền con người. Trong lịch sử từ
xa xưa đến nay, quyền con người luôn được cha ông ta quan tâm và bảo vệ.
Tiêu biểu là chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Bản tuyên ngôn độc lập năm 1945
Người đã nhấn mạnh: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo
hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền
ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" [21]. Với
Người, quyền con người là quyền vốn có của người dân, do nhân dân đấu
tranh mà giành được. Đây là một vấn đề cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh,
là sự thể hiện cao nhất của chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo, chủ nghĩa yêu nước
chân chính của Người nhằm giải phóng toàn diện con người khỏi bị áp bức,
bóc lột về phương diện dân tộc, giai cấp, xã hội, tạo điều kiện để con người
phát triển tự do, hoàn thiện nhân cách của mình. Điều 71 Hiến pháp năm 1992
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng quy định: “Công dân có
quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng,
sức khỏe, danh dự và nhân phẩm” [24].
Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, tội phạm mua bán người
vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, đòi hỏi Nhà nước ta phải có những giải
pháp toàn diện, đồng bộ và hiệu quả hơn. Bởi vậy, việc bảo vệ quyền con
người không chỉ dừng lại ở những tuyên bố trong các văn bản pháp luật
khác mà còn là những chế tài nghiêm khắc được quy định tại Điều 119 Bộ
luật hình sự Việt Nam.
“Chủ thể của tội phạm là người đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, có năng lực trách
nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định” [7, tr.357].
Đối với tội mua bán người, chủ thể phải có dấu hiệu lỗi cố ý.
Chủ thể của tội phạm là người đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
16
và đã thực hiện một tội phạm. Cơ sở pháp lý để xác định của thể của Tội
mua bán người là các điều 12,13 và Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999.
Trong đó, Điều 12 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tuổi chịu trách
nhiệm hình sự như sau:
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự
về mọi tội phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải
chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [28, Điều 12].
Điều 13 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tình trạng không có
năng lực trách nhiệm hình sự cụ thể như sau:
1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi
mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận
thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải
chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện
pháp bắt buộc chữa bệnh.
2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự,
nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi
bị kết án thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau
khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự [28].
Như vậy, theo quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự năm 1999, chúng ta
có thể hiểu những người có năng lực trách nhiệm hình sự là những người
không mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức
1.2.4. Mặt chủ quan của tội mua bán người
Nếu mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm thì
mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là thái độ tâm lý
18
của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và
với hậu quả do hành vi ấy gây ra cho xã hội.
Mặt chủ quan của tội phạm là đặc điểm tâm lý bên trong
của cách xử sự có tính chất tội phạm xâm hại đến khách thể được
bảo vệ bằng pháp luật hình sự, tức là thái độ tâm lý của chủ thể
được thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý đối với hành vi nguy
hiểm cho xã hội do mình thực hiện và đối với hậu quả của hành
vi đó (lỗi) [7, tr.376].
Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm các nội dung: lỗi, động cơ phạm
tội và mục đích phạm tội. Các nội dung này có ý nghĩa và vị trí không giống
nhau trong các cấu thành tội phạm.
Lỗi là thái độ tâm lý của chủ thể được thể hiện dưới hình thức cố ý
hoặc vô ý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình thực hiện và đối với
hậu quả của hành vi đó. Lỗi là một dấu hiệu chủ quan bắt buộc của tất cả các
cấu thành tội phạm.Người phạm tội thực hiện tội phạm mua bán người với lỗi
cố ý. Đó là việc người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm
cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả xảy
ra. Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm đối với xã
hội nhưng đã mong muốn bằng hành động của mình để đạt được mục đích là
mua bán người.
Động cơ được hiểu là “động lực (các nhu cầu và lợi ích) bên trong thúc
đẩy quyết tâm của người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị
luật hình sự cấm” [7, tr.380]. Động cơ của người phạm tội mua bán người có
thể là vì lợi nhuận, vì những động cơ đê hèn như trả thù cá nhân…
Mục đích phạm tội có thể được hiểu là “kết quả trong tương lai mà