Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phạm tội nhiều lần theo luật hình sự việt nam luận văn ths luật - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ BẢO TÂM

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN VỀ PHẠM TỘI NHIỀU LẦN
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2012

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ BẢO TÂM

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN VỀ PHẠM TỘI NHIỀU LẦN
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số

: 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



MỞ ĐẦU

Chương 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ "PHẠM TỘI NHIỀU

8

LẦN" TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1.

Một số vấn đề về chế định đa tội phạm

8

1.2.

Khái niệm và đặc điểm cơ bản của tình tiết phạm tội nhiều lần

10

1.2.1. Khái niệm của tình tiết phạm tội nhiều lần

10

1.2.2. Đặc điểm cơ bản của tình tiết phạm tội nhiều lần

12


Chương 2:

27

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM VỀ "PHẠM TỘI NHIỀU LẦN VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG

2.1.

Những quy định của pháp luật hình sự việt nam về phạm tội
nhiều lần từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến trước
khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999

4

27


2.1.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 cho đến trước
khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985

27

2.1.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 cho đến
trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999

29



3.1.

Sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy định của pháp luật
hình sự Việt Nam về phạm tội nhiều lần

57

3.2.

Nội dung hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt
Nam về phạm tội nhiều lần

72

KẾT LUẬN

80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

82

5


Danh môc c¸c b¶ng

Số hiệu


nhũng và tội phạm liên quan đến tình dục) được hiểu là đã có tất cả
từ hai lần phạm tội đó trở lên (hai lần phạm tội tham ô trở lên, hai
lần phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản
xã hội chủ nghĩa trở lên...) mà mỗi lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu
thành quy định tại khoản 1 điều luật tương ứng, đồng thời trong các
lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và
cũng chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự [22].
Về mặt lý luận, dưới góc độ khoa học luật hình sự các nhà nghiên cứu
đã đưa ra khái niệm này như sau: Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở
lên mà những tội ấy được quy định tại cùng một điều (hoặc tại cùng một
khoản của điều) tương ứng trong Phần riêng Bộ luật Hình sự, đồng thời với
những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm
tội vẫn chưa bị xét xử. Đối với những trường hợp phạm từ hai tội trở lên mà

7


những tội ấy được quy định tại các điều khác nhau của Bộ luật này, chỉ khi nào
do các điều tương ứng trong phần các tội phạm Bộ luật này quy định riêng
mới bị coi hoặc có thể bị coi là phạm tội nhiều lần. Hay có thể được hiểu là:
Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên như hai lần
trộm cắp, hai lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ba lần chứa mại dâm,
bốn lần tham ô... và mỗi lần thực hiện hành vi đã cấu thành một tội
phạm độc lập nhưng tất cả các tội phạm đó đều bị xét xử trong cùng
một bản án...; Phạm tội nhiều lần là người phạm tội có nhiều lần
thực hiện hành vi phạm tội, nhưng hành vi đó chỉ cấu thành một tội,
xâm phạm đến cùng một khách thể trực tiếp và chưa đưa ra truy tố,
xét xử... [26].
Qua khái niệm trên, chúng ta có thể thấy tình tiết phạm tội nhiều lần
bao gồm năm nội dung sau: (1) Phạm tội nhiều lần là người phạm tội đã thực

là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết này đã được đề cập đến
trong Bộ luật Hình sự năm 1985 và tiếp tục được kế thừa trong Bộ luật Hình
sự 1999. Vấn đề này cũng được đề cập trong một số giáo trình, sách tham
khảo do các tác giả khác nhau biên soạn như: 1) Giáo trình Luật hình sự Việt
Nam (Phần chung). Tập thể tác giả do TSKH.PGS. Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2003 (tái bản); 2) Giáo trình Luật hình sự Việt
Nam, Tập I, Tập thể tác giả do GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội, 2007; 3) Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập thể tác
giả do GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
2005; 4) Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung, Trường Đại học
Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 1995; 5) Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự (Phần
chung), Tác giả Đinh Văn Quế, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000; 6) Chế
định nhiều tội phạm - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tác giả TS. Lê Văn
Đệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 v.v...
Một số nhà khoa học - luật gia hình sự Việt Nam đã dành không ít
công sức cho việc nghiên cứu về đề tài này, đáng chú ý là các công trình
nghiên cứu của TSKH.PGS. Lê Cảm: 1) Chế định đa tội phạm trong Sách
chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự

9


(Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; 2) Chế định đa (nhiều)
tội phạm và mô hình lý luận của nó trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Dân
chủ và pháp luật, số 6/2001; 3) Lê Cảm, Trịnh Quốc Toản, Định tội danh: lý
luận hướng dẫn mẫu và 350 bài thực hành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
2004; 4) Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự, Tập IV,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002.
Ngoài ra, còn có một số bài đăng trên tạp chí khoa học pháp lý như: 1)
Bàn về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội nhiều lần" quy định

lần cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm tội nhiều lần là một vấn đề tương đối hẹp và phức tạp. Nghiên
cứu về vấn đề này đã có nhiều nghiên cứu chung mà ít có nghiên cứu chuyên
sâu. Do đó, phạm vi nghiên cứu của luận văn sẽ xem xét và giải quyết một số
vấn đề cơ bản xung quanh vấn đề phạm tội nhiều lần như: 1) Khái niệm và
đặc điểm của phạm tội nhiều lần; 2) Phân biệt phạm tội nhiều lần và một số
tình tiết khác thuộc chế định đa tội phạm như phạm nhiều tội, phạm tội liên
tục, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm, tái phạm nguy hiểm; 3)
Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về "Phạm tội nhiều lần".
Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung cơ bản của phạm tội nhiều lần, luận
văn đi sâu nghiên cứu tình tiết này trên phương diện lập pháp và việc áp dụng
chế định này trong thực tiễn xét xử để từ đó đưa ra các kiến nghị.
4. Đối tƣợng và mục đích nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu đúng như tên gọi của nó là vấn đề
phạm tội nhiều lần trong luật hình sự Việt Nam.
Trên cơ sở này, mục đính nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu
những vấn đề lý luận về phạm tội nhiều lần theo luật hình sự Việt Nam. Đồng
thời luận văn còn phân tích và đánh giá những vướng mắc trong thực tiễn áp
dụng những quy định của pháp luật hình sự về phạm tội nhiều lần để từ đó,
đưa ra những kiến nghị để việc áp dụng được thống nhất, tránh tình trạng hiểu
sai về tình tiết này.

11


5. Các phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Để hoàn thành khóa luận, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, nghiên cứu bản án điển
hình... để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề đã được

Bên cạnh đó, cơ sở thực tiễn của luận văn là thực tiễn áp dụng các quy
định về phạm tội nhiều lần theo luật hình sự Việt Nam và qua nghiên cứu các
bản án của Tòa án nhân dân các cấp, những vụ án hình sự do cơ quan công an
điều tra, khởi tố để rút ra những nhận xét, đánh giá.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả
đã làm rõ khái niệm, đặc điểm của vấn đề phạm tội nhiều lần, bản chất pháp
lý của nó. Đồng thời trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng để đưa ra các
kiến nghị phù hợp.
Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận cần
thiết cho các nhà khoa học - luật gia, cán bộ thực tiễn và các sinh viên, học viên
cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành tư pháp hình sự, cũng như phục vụ
cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong
việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo
người phạm tội hiện nay ở nước ta.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về "Phạm tội nhiều lần" trong pháp
luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về "Phạm
tội nhiều lần" và thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Những phương hướng cơ bản của việc tiếp tục hoàn thiện
các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về "Phạm tội nhiều lần".

13


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ "PHẠM TỘI NHIỀU LẦN"

Như vậy, theo định nghĩa nói trên thì GS.TSKH Lê Văn Cảm đã nêu
rõ các dạng của chế định nhiều (đa) tội phạm. Theo đó, nhiều tội phạm không
chỉ là trường hợp một người phạm từ hai tội trở lên và người phạm tội vẫn
chưa bị xét xử (phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội) mà còn bao gồm cả
trường hợp phạm từ hai tội trở lên và có thể đã bị đưa ra xét xử (tái phạm,
phạm tội có tính chất chuyên nghiệp). Nếu so sánh đặc điểm của bốn dạng tội
phạm nói trên thì có thể thấy chúng có một đặc điểm chung là người phạm tội
phạm từ hai tội trở lên và vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy
nhiên ở mỗi dạng lại nổi bật lên một điểm khác biệt để phân biệt giữa các
dạng tội phạm khác nhau.
Ở dạng phạm tội nhiều lần đặc điểm nổi bật là: phạm từ hai tội trở lên
và những tội ấy được quy định tại cùng một điều và người phạm tội vẫn chưa
bị xét xử.
Ở dạng phạm nhiều tội thì người phạm tội cũng phạm từ hai tội trở
lên, những tội ấy được quy định tại các điều khác nhau và người phạm tội
cũng chưa bị đưa ra xét xử về tội nào trong số những tội ấy.
Ở dạng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp thì người phạm tội phạm
tội nhiều lần, có tính chất liên tục, có hệ thống và tạo nên nguồn thu nhập,
nguồn sống chủ yếu của người phạm tội, người phạm tội có thể bị đưa ra xét
xử ở các lần khác nhau.
Ở dạng tái phạm đặc điểm khác biệt của nó là ở chỗ người phạm tội
trước đó đã bị kết án về bất kỳ tội phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội
do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
Có thể nói khi nghiên cứu về chế định nhiều (đa) tội phạm ta có thể
thấy được tính phức tạp cũng như tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội và những thiệt hại do hành vi này gây ra thường là
nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Phạm tội nhiều lần chính là một trong
các dạng tội phạm có tính chất như vậy.

15

chất ma túy trở lên, hai lần tàng trữ trái phép chất ma túy trở lên…) mà mỗi

16


lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành quy định tại khoản 1 Điều luật tương
ứng; đồng thời trong số các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách
nhiệm hình sự. Trong trường hợp này người phạm tội đó chưa có lần nào bị
truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này người phạm tội phải chịu
trách nhiệm hình sự về tổng số lượng chất ma túy của các lần cộng lại, nếu
Điều luật có quy định về số lượng chất ma túy được định khung hình phạt.
Người nào tổ chức, cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng chất ma túy
từ hai lần trở lên dù chỉ đối với một người cũng được coi là phạm tội nhiều lần.
Đối với tội phạm hiếp dâm, cưỡng dâm: Tại điểm c khoản 1 Phần III:
Tình tiết "phạm tội nhiều lần" quy định tại khoản 3 Điều 112a, khoản 3
Điều 113a, khoản 2 Điều 114, khoản 2 Điều 201, khoản 2 Điều 137 được hiểu
là đã có tất cả từ hai lần phạm tội trở lên (hai lần hiếp dâm trở lên, hai lần
cưỡng dâm trở lên…) và mỗi lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành quy
định tại khoản 1 Điều luật tương ứng, đồng thời trong các lần phạm tội đó
chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cũng được coi là phạm tội nhiều lần người nào hiếp dâm, cưỡng dâm
giao cấu… từ hai lần trở lên đối với một người.
Về mặt lý luận: Dưới góc độ khoa học luật hình sự chúng ta thấy có
hai quan điểm về khái niệm phạm tội nhiều lần. Một là:
Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên mà những
tội ấy được quy định tại cùng một điều (hoặc tại cùng một khoản
của điều) tương ứng trong Phần riêng Bộ luật Hình sự, đồng thời
với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và
người phạm tội vẫn chưa bị xét xử [7].
Hai là:

Đây là một đặc điểm đặc trưng của tình tiết phạm tội nhiều lần và dùng
để phân biệt với tình tiết phạm nhiều tội. Người phạm tội thực hiện từ hai lần
hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, mỗi lần thực hiện hành vi
phải có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập và tội phạm
đó do cùng một điều hoặc một khoản tương ứng quy định tại Bộ luật Hình sự.

18


Đặc điểm thứ tư: Tội phạm này vẫn phải còn thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự và người phạm tội phải bị đưa ra xét xử cùng một lần.
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 23 Bộ
luật Hình sự năm 1999. Nếu hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì
người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa. Do đó, hành vi
nói trên không bị tính là một lần phạm tội.
Đặc điểm "người phạm tội phải bị đưa ra xét xử cùng một lần" có
nghĩa là các hành vi phạm tội trước đó chưa bị đưa ra xét xử lần nào. Đây là
một đặc điểm để phân biệt giữa tình tiết phạm tội nhiều lần và tình tiết tái
phạm, tái phạm nguy hiểm.
Như vậy, đây là bốn đặc điểm cần và đủ để có thể đánh giá thế nào là
phạm tội nhiều lần. Nếu thiếu một trong bốn đặc điểm hay còn gọi là dấu hiệu
nói trên thì khó có thể coi đó là tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần. Để
phân tích rõ hơn bốn đặc điểm nêu trên của tình tiết phạm tội nhiều lần, chúng
ta cùng nghiên cứu một ví dụ thực tế như sau:
Ngày 28/09/2010 Nguyễn Văn Thêm (chưa có tiền án, tiền sự) sang
nhà cháu Trần Thị H sinh ngày 04/08/1996, trú quán: Thôn Cựu, xã Vân Từ,
Phú Xuyên, Hà Nội (gọi Thêm là ông trẻ ở gần nhà), Nguyễn Văn Thêm có
hành vi sờ ngực, bộ phận sinh dục của cháu Trần Thị H sau đó định giao cấu với
cháu H thì bị anh Trần Thế Hưng (bố cháu H) trên gác chạy xuống cầm đòn
gánh đuổi đánh và hô hoán mọi người đến bắt quả tang Nguyễn Văn Thêm.

tích, màng trinh không bị rách. Sức khỏe của cháu H hiện bình thường.
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xử Nguyễn Văn Thêm phạm tội
"Hiếp dâm trẻ em". Áp dụng khoản 4 Điều 112, điểm g khoản 1 Điều 48
(phạm tội nhiều lần) của Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Nguyễn Văn
Thêm 15 năm tù.
Phân tích vụ án nói trên ta thấy được rõ bốn đặc điểm của tình tiết
phạm tội nhiều lần là:
- Nguyễn Văn Thêm đã thực hiện từ hai lần trở lên hành vi nguy hiểm
cho xã hội bị luật hình sự cấm đó là hành vi xâm hại đến quyền tự do và bất

20


khả xâm phạm về tình dục trẻ em (cháu H chưa đủ 13 tuổi), xâm phạm đến
quá trình phát triển bình thường, sức khỏe và tinh thần của trẻ em.
- Hành vi nói trên của Thêm được thực hiện nhiều lần và mỗi lần đều
có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập bao gồm 04 yếu tố
là khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan). Thêm đã xâm hại
đến quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là quyền tự do và bất khả xâm
phạm về tình dục trẻ em, sức khỏe và tinh thần của trẻ em (khách thể). Nguyễn
Văn Thêm đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình
sự (chủ thể). Hành vi của Thêm đã gây ra hậu quả là ảnh hưởng đến sự phát
triển bình thường của cháu H cả về sức khỏe lẫn tinh thần (mặt khách quan).
Thêm thực hiện hành vi hoàn toàn với lỗi cố ý trực tiếp. Tức là Thêm nhận
thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của
hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra (mặt chủ quan).
- Những lần phạm tội nói trên của Nguyễn Văn Thêm do Điều 112 Bộ
luật Hình sự (Tội hiếp dâm trẻ em) quy định.
- Và Nguyễn Văn Thêm chưa bị đưa ra xét xử lần nào.
Tóm lại, nghiên cứu về những đặc điểm nói trên là để giúp chúng ta

Từ hai khái niệm nói trên, có thể thấy đặc điểm duy nhất để phân biệt
hai tình tiết này là: số lần phạm tội từ hai lần trở lên nhưng ở tình tiết phạm
tội nhiều lần thì những tội ấy được quy định tại cùng một điều (hoặc một
khoản của điều) tương ứng trong Phần riêng Bộ luật Hình sự, còn ở tình tiết
phạm nhiều tội thì những tội ấy được quy định tại các điều khác nhau (hoặc
tại các khoản khác nhau của cùng một điều nếu các đối tượng của tội phạm
khác nhau) trong Phần riêng của Bộ luật Hình sự.
Ví dụ: Khoảng 11 giờ ngày 27/10/2010, Nguyễn Quang Huy (không
có tiền án, tiền sự) đi xe máy Nouvo màu đen, không đeo biển kiểm soát trên
đường Thái Hà - Huỳnh Thúc Kháng tìm người có tài sản để cướp giật. Khoảng
12 giờ, Huy phát hiện chị Trần Thu Hoài, sinh năm 1970, trú tại Phòng 401
nhà 24T1 Trung Hòa, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội ngồi sau xe
máy ôm theo một túi xách để trước bụng. Huy liền bám theo để giật túi xách
của chị Hoài. Khi chị Hoài đi đến ngã tư Huỳnh Thúc Kháng với đường
Nguyên Hồng thì Huy áp sát bên phải xe của chị Hoài, dùng tay trái giật lấy

22


chiếc túi xách của chị Hoài rồi nhanh chóng tẩu thoát. Sau đó, Huy lục túi
xách thấy có 12 triệu đồng, một số giấy tờ mang tên chị Hoài và một điện
thoại di động Nokia 6500 màu đen. Quá trình bắt giữ Huy cơ quan điều tra đã
thu giữ được chiếc máy điện thoại di động tang vật nêu trên và thu giữ trong
người Huy một gói nilon đựng chất bột màu trắng. Huy khai là chất heroin (đã
được cơ quan giám định xác định đó là chất ma túy: hêroin, trọng lượng 0,416g).
Huy khai nhận về nguồn gốc chất ma túy như sau: khoảng 10 giờ ngày
3/11/2010, Huy mua một gói nhỏ heroin từ Trần Anh Tuấn trên phố Lò Đúc Hà Nội với giá 400.000 (bốn trăm nghìn đồng). Huy đã sử dụng một ít hêroin,
số còn lại cất trong người cho đến khi bị bắt giữ. Huy đã mua của Tuấn 04 lần
vào các thời điểm khác nhau với số lượng như trên.
Có thể thấy rằng: Huy đã thực hiện hai lần hành vi nguy hiểm cho xã

hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, nhưng khác với phạm tội nhiều lần một
loạt hành vi nguy hiểm của tội liên tục mới cấu thành nên một tội vì mỗi hành
vi chưa đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập, còn với tình tiết
phạm tội nhiều lần thì hành vi nguy hiểm cho xã hội trong mỗi lần thực hiện
bao giờ cũng có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập. Mặt
khác, xét về hậu quả cũng như thiệt hại cho xã hội do hành vi gây ra thì phạm
tội nhiều lần gây ra thiệt hại lớn hơn rất nhiều so với tội liên tục. Về mức độ
trách nhiệm hình sự, phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự còn phạm tội liên tục chỉ để chỉ tội đó do một loạt hành vi cấu thành
nên nó chỉ là tình tiết định tội mà thôi.
Ví dụ: Chị Nguyễn Thị Lưu sinh 1976 kết hôn với Nguyễn Văn Doanh
sinh 1975, trú tại thôn Đạo Thượng, Tân Hưng, Sóc Sơn, Hà Nội. Cuộc hôn
nhân kéo dài 15 năm, hai người đã có hai mặt con. Thế nhưng chị Lưu thường
xuyên bị chồng đánh đập, hành hạ dã man. Từ cán cuốc, đòn gánh, mũ cối, dây
cu roa... đến tuýp nước, tất cả những vật dụng Doanh vớ được đều trở thành
hung khí hành hạ vợ. Nhiều lần, chị Lưu phải đi cấp cứu tại trạm xá do những
trận đòn của chồng. Người phụ nữ lam lũ sống ở làng quê vẫn cắn răng chịu
đựng cảnh bị chồng hành hạ nhiều năm mà không dám giải thoát cho mình.
Ngày 31/5/2009, chị gái của Doanh bị ốm có nhờ chị Lưu đến gặt lúa
hộ. Chị Lưu đến làm và còn biếu chị gái của Doanh 200 ngàn đồng để bồi

24


dưỡng, thuốc men. Khi về nhà, chị thật thà kể cho chồng nghe thì liền bị
Doanh chửi mắng vì đã đi gặt hộ lại còn cho những 200 nghìn đồng.
Sau khi dùng dây cu roa trói vợ và mặc sức đánh đập tàn nhẫn, được
người hàng xóm can ngăn thì Doanh mới chịu thả vợ ra. Người chồng vũ phu
này bắt vợ phải cùng lên nhà bố mẹ vợ để kể tội. Trước mặt mọi người trong
gia đình nhà vợ, Doanh ra sức thóa mạ vợ mình. Sau đó, hai vợ chồng lại dắt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status