TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
(Niên Khóa 2006 - 2010)
TÊN ĐỀ TÀI
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THI HÀNH ÁN
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN CHÍ HIẾU
BỘ MÔN TƯ PHÁP
LÝ THỊ NHIÊN
MSSV: 5062271
Lớp: Tư pháp 1- K32
Cần Thơ, tháng 10- 2009
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU........................................................................................................ 1
CHƯƠNG I:VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỘI BỨC TỬ TRONG LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM
1.1 Một số khái niệm về tội giết người trong luật hình sự Việt Nam hiện hành. .... 4
1.1.1 Khái niệm theo từ điển Tiếng việt ............................................................. 4
2.2 Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với
một số tội khác...................................................................................................... . .27
2.2.1 Với tội giết người .............................................................................. .27
2.2.2 Với trường hợp phạm tội bị kích đông về tinh thần do hành vi trái
pháp luật của nạn nhân hoặc của người khác .......................................................... 30
2.2.3 Với trường hợp giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng..... ................................................................................................... 30
2.2.4 Với trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác dẫn đến chết người ......................................................................... 33
2.2.5 Với trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ................................. 34
2.3 Trách nhiệm hình sự đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh .............................................................................................................. 36
2.3.1 Tình tiết định tội.................................................................................. 36
2.3.2 Hình phạt ............................................................................................ 43
2.3.2.1 Nguyên tắc xử lí ........................................................................ 43
2.3.2.2 Khung cơ bản ............................................................................ 44
2.3.2.3 Tình tiết giảm nhẹ định tội........................................................ 46
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH
3.1. Thực tiễn về hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
3.1.1 Thực tiễn trên cả nước....................................................................... 53
3.1.2. Thực tiễn ở Cần Thơ........................................................................... 59
3.2. Những bất cập và các giải pháp phòng chống tội giết người trong trạng thái
tinh thần bị kích động mạnh............................................................................ 60
3.2.1 Những bất cập ..................................................................................... 60
3.2.1.1 Trong việc xác định tội danh ...................................................... 61
3.2.1.1.1 Về vấn đề xác định trạng thái tinh thần của người phạm
tội............................................................................................... 61
3.2.1.1.2 Về vấn đề lỗi của người bị hại liên quan đến việc xác
pháp chế tài pháp luật nói chung. Có thể nói đây là một hình phạt đặc biệt
không chỉ ở tính chất mà còn ở cả trình tự, thủ tục thi hành. Cũng chính vì vậy,
từ lâu hình phạt tử hình, việc thi hành hình phạt tử hình là một vấn đề được đưa
ra tranh luận không chỉ giới hạn trong các nhà hoạt động chính trị, các nhà luật
học mà còn là đề tài hấp dẫn lôi cuốn nhiều đối tượng khác tham gia. Tuy nhiên
do điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, …ở mỗi nước, đều có ảnh hưởng nhất
định đối với việc quy định hình phạt tử hình và những vấn đề khác như cách
thức áp dụng, trình tự thủ tục thi hành hình phạt tử hình…,thậm chí còn ảnh
hưởng tới cả quan điểm, dư luận xã hội về việc bỏ hay giữ lại hình phạt này. Ở
nước ta thực tiễn tổng kết về hoạt động thi hành hình phạt tử hình trong thời
gian qua cho thấy, mặc dù pháp luật có những thay đổi theo hướng hạn chế các
hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự nhưng mỗi năm vẫn có nhiều người bị
Tòa án tuyên phạt tử hình và bị đưa ra thi hành. Mặc dù, các cơ quan bảo vệ
pháp luật đã rất nổ lực và thực hiện nhiều biện pháp nhằm hạn chế cơ sở, điều
kiện phạm tội nhưng tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp. Việc áp dụng và
thi hành hình phạt tử hình trong những năm qua nhìn chung có tác dụng trừng
trị, răn đe, phòng ngừa, góp phần bảo vệ an ninh Quốc gia, trật tự an toàn xã
hội.
Tuy nhiên, so với pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới, hình phạt
tử hình ở Việt Nam vẫn còn mở rộng nhiều đối với nhiều tội phạm. Cơ chế tổ
chức, trình tự, thủ tục, thi hành hình phạt tử hình đã từng bước được hoàn thiện
nhưng vẫn còn những vướng mắc, bất cập, cần khẩn trương khắc phục như:
Vấn đề tạm hoãn thi hành hình phạt tử hình, tình trạng các bản án tử hình chậm
được thi hành có trường hợp kéo dài tới hàng tháng thậm chí đến nhiều năm
liền nhưng vẫn chưa thi hành, hình thức thi hành hình phạt tử hình đang có
nhiều tranh luận, gây khó khăn rất nhiều. Hình thức thi hành hình phạt tử hình
bằng xử bắn đã có nhiều tiến bộ nhưng cũng gây không ít sự đau đớn đối với
người bị kết án và cũng tạo ra một số ảnh hưởng tiêu cực về mặt tâm lý cho
các cán bộ trực tiếp thi hành hình phạt tử hình…Cũng chính vì những vấn đề
bất cập nói trên tạo cho tác giả muốn nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn vấn đề lý
tụng hình sự Việt Nam. Bên cạnh đó đề tài còn hướng đến những quy định của
pháp luật hiện hành về lý luận và thực tiễn thi hành án hình phạt tử hình trong
pháp luật Việt Nam cùng với việc mong muốn sớm ban hành Bộ luật thi hành
án hình sự để thuận lợi hơn trong việc thi hành án hình phạt tử hình ở nước ta
hiện nay.
5.Cơ cấu đề tài
Ngoài những phần mở đầu và kết bài, luận văn còn có những phần quan trọng
và chủ yếu sau đây:
Chương I: Lý luận về việc thi hành hình phạt tử hình trong tố tụng hình sự
Việt Nam.
Chương II: Thi hành hình phạt tử hình theo quy định của pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam hiện hành.
Chương III: Thực tiễn và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả về việc thi
hành hình phạt tử hình trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay.
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
2
SVTH: Lý Thị Nhiên
Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam
Đây là lần đầu tiên em thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học độc lập,
mặt khác do trình độ kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu
sót nhất định rất mong quý thầy cô, các bạn sinh viên đóng góp cho ý kiến để
kiến thức của em được hoàn thiện hơn. Chân thành cảm ơn!
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
mà chỉ đưa ra một số dấu hiệu của nó trong một số quy phạm nhất định .
Tại Điều 35 Bộ luật hình sự 1999 quy định “Tử hình là hình phạt đặt biệt
chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặt biệt nghiêm trọng”
Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội,
đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm
tội hoặc khi bị xét xử
Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con
dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển sang tù
chung thân.
Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử
hình chuyển sang tù chung thân”
1.1.2. Đặc điểm hình phạt tử hình
Để hiểu sâu sắc về hình phạt tử hình, ta cần nghiên cứu các đặc điểm của
hình phạt tử hình sau:
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
4
SVTH: Lý Thị Nhiên
Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam
Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất
Trong hệ thống hình phạt, tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất, bởi vì
hình phạt đó tước đoạt quyền sống của người phạm tội. Hình phạt tử hình chỉ
có tác dụng trừng trị và phòng ngừa, mà không có tác dụng giáo dục, cải tạo
đối với người bị thi hành hình phạt tử hình. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa
là loại hình phạt này mâu thuẩn với nguyên tắc nhân đạo của pháp luật xã hội
chủ nghĩa. Ở đây cần thấy rằng, tính nhân đạo được thể hiện tập trung ở khía
5
SVTH: Lý Thị Nhiên
Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam
93), Tội hiếp dâm (khoản 3 Điều 111), Tội hiếp dâm trẻ em (khoản 3 Điều
112), Tội cướp tài sản (khoản 4 Điều 133), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
(khoản 4 Điều 139), Tội buôn lậu ( khoản 4 Điều 153); Tội sản xuất, buôn bán
hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (khoản
4, Điều 157); Tội làm tàng trử, vận chuyện, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,
công trái giả (Khoản 3, Điều 180); Tội sản xuất trái phép chất ma túy (khoản 4,
Điều 193); Tội tàng trử, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt ma túy
(khoản 4, Điều 194); Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (khoản 3, Điều 221); Tội
phá hủy công trình, phương tiện quan trọng của an ninh quốc gia (khoản 2,
Điều 231); Tội tham ô tài sản (khoản 4, Điều 278); Tội nhận hối lộ (khoản 4,
Điều 289); Tội chống mệnh lệnh (khoản 4, Điều 316); Tội đầu hàng địch
(khoản 3, Điều 322); Tội hủy hoại vũ khí quân dụng , phương tiện kỹ thuật
quân sự (khoản 4, Điều 334); Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược
(Điều 341); Tội chống loài người (Điều 342); Tội phạm chiến tranh (Điều 343).
Thế nhưng hiện nay thì hình phạt tử hình ở nước ta được xóa bỏ ở một số
tội danh theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 1999 như
sau: Tội hiếp dâm (Điều 111); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139); Tội
buôn lậu (Điều 153); Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân
phiếu giả, công trái giả (Điều 180); Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
(Điều 197); Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (Điều 221); Tội hủy hoại vũ khí
quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 334).
Tử hình là hình phạt chỉ do Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng
như một công cụ cần thiết, có hiệu quả để trừng trị và phòng ngừa việc phạm
tội. Do đó hình phạt tử hình có nội dung trừng trị và phòng ngừa, đoạt quyền
sống của người phạm tội. Việc người phạm tội và những người khác có nhận
thức được hay không nội dung đó của hình phạt tử hình cũng không làm thay
đổi nội dung của hình phạt tử hình, bởi đó là thuộc tính tất yếu, nội tại, khách
quan của hình phạt tử hình. Tuy nhiên hình phạt tử hình có nội dung trừng trị
không có nghĩa là nó đồng nghĩa với mục đích trừng trị. Ở đây, thuộc tính
trừng trị của hình phạt tử hình hoàn toàn khác với mục đích trừng trị của hình
phạt tử hình.
Nội dung phòng ngừa của hình phạt tử hình thể hiện rõ ở chổ: Do hình phạt
này tước đoạt tính mạng của người phạm tội, cho nên, người phạm tội không
còn tồn tại và điều đó có nghĩa là phòng ngừa được việc phạm tội của người đó.
Hơn nữa, hình phạt tử hình được áp dụng đối với những đối tượng thực hiện
hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng, trong các vụ án dư luận đặc
biệt quan tâm, do đó, tính xã hội và tính thông tin của hình phạt tử hình rất cao.
Đặc điểm này của hình phạt tử hình không chỉ có ý nghĩa về việc giáo dục và
răn đe đối với những đối tượng hình sự, những đối tượng xem thường pháp
luật, mà còn có ý nghĩa tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật và tính phòng
ngừa vi phạm pháp luật rất sâu sắc và hiệu quả rộng cộng đồng.
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm hình phạt tử hình như sau:
“ Hình phạt tử hình là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong hệ
thống hình phạt được Bộ luật hình sự quy định do Tòa án nhân danh Nhà nước
áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng và được thể hiện ở việc tước đoạt quyền sống của người phạm tội”.
1.1.3. Bản chất của hình phạt tử hình
Mỗi hình thái kinh tế -xã hội đều có một hệ thống hình phạt tương ứng. Bản
chất, nội dung và vai trò của hình phạt, của hệ thống hình phạt nói chung, của
hình phạt tử hình nói riêng đều do các điều kiện kinh tế chính trị, văn hóa, xã
hội hệ tư tưởng, đạo đức lối sống của hình thái kinh tế -xã hội đó quyết định.
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
Trong các xã hội bóc lột trước đây, hình phạt tử hình được các giai cấp
thống trị sử dụng như một trong những công cụ chính, cơ bản để đấu tranh với
tội phạm nhằm trong xã hội chiếm hữu nô lệ, trong xã hội phong kiến và được
thi hành dưới những hình thức rất tàn khốc. Ở xã hội phong kiến Việt Nam,
Nhà nước phong kiến đã quy định và áp dụng hệ thống ngũ hình: Đánh bằng
roi, băng gậy, tù khổ sai, đày và giết chết. Trong đó hình phạt tử hình được thi
hành bằng những hình thức rất dã man như: Thắt cổ, chém đầu, chém Bêu đầu,
thiêu trên lửa, bỏ vạc đầu, chặt chân tay, xẻo thịt làm cho chết dần …
Trong xã hội Tư bản, ở thời kỳ đầu Nhà nước Tư sản sử dụng hình phạt tử
hình được sử dụng hình phạt tử hình khá phổ biến để đấu tranh với tội phạm
nhằm bảo vệ chế độ Tư bản chủ nghĩa, bảo vệ các nguyên tắc xử sự trong xã
hội có lợi cho giai cấp tư sản. Khuynh hướng của việc sử dụng hình phạt tử
hình trong thời kỳ đầu của Nhà nước Tư sản là trong những giai đoạn căng
thẳng của cuộc đấu tranh giai cấp, do đó, hình phạt tử hình được mở rộng lĩnh
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
8
SVTH: Lý Thị Nhiên
Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam
vực và phạm vi áp dụng trong sự kết hợp với các biện pháp đàn áp hành chính,
quân sự đối với những lực lượng đối lập.
Khác với các nhà nước bóc lột, Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của
dân, do dân, vì dân nên về bản chất và hình thức đấu tranh với tội phạm được
tiến hành bằng nhiều cách và nhiều biện pháp khác nhau như: Kinh tế văn hóa,
xã hội, tổ chức, giáo dục, pháp luật, đồng thời lôi cuốn rộng rãi mọi người vào
việc bảo vệ trật tự pháp luật. Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội quan
9
SVTH: Lý Thị Nhiên
Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam
Hiện nay, trong khoa học pháp lý nước ta có nhiều quan điểm khác nhau về
khái niệm, bản chất của thi hành án hình sự. Có quan điểm cho rằng thi hành án
hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự. Có thể cho rằng thi hành
án hình sự là một hoạt động hành chính-tư pháp, có những nét đặc thù riêng
khác với hoạt động tố tụng hình, nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với tố tụng hình
sự. Việc xác định thi hành án hình sự là giai đoạn của tố tụng hình sự hay là
hoạt động hành chính-tư pháp có nghĩa là làm sáng tỏ bản chất của thi hành án
hình sự.
Thi hành án hình sự là hoạt động mang tính hành chính-tư pháp, có tính độc
lập tương đối. Tính hành chính của hoạt động thi hành án hình sự thể hiện ở
các đặc thù khác biệt với hoạt động tố tụng hình sự như sau: Nếu như trong tố
tụng hình sự, tất cả hoạt động tố tụng được tiến hành đều nhằm bảo đảm cho
Tòa án đưa ra phán quyết đúng đắn, thì thi hành án hình sự được tiến hành là
nhằm thực thi các nội dung đã được Tòa án phán quyết; các quan hệ phát sinh
giữa các chủ thể trong thi hành án hình sự, về cơ bản mang tính chất hành
chính. Tính tư pháp của hoạt động thi hành án hình sự được thể hiện ở chổ hoạt
động thi hành án hình sự được tiến hành để thực hiện các phán quyết của Tòa
án; là hoạt động có liên quan chặt chẽ với giai đoạn tố tụng diễn ra trước đó;
một số quan hệ nảy sinh trong thi hành án hình sự mang tính chất tư pháp, do
pháp luật tố tụng hình sự điều chỉnh. Từ việc phân tích trên cho thấy thi hành
án hình sự là hoạt động có tính hành chính –tư pháp. Điều này phản ảnh rõ rệt
mối quan hệ giữa quyền hành pháp với quyền tư pháp trong hoạt động thi hành
Tư tưởng nhân đạo được thể hiện rõ nét trong các quy định của pháp
luật thời kỳ phong kiến. Thời Nhà Lý vào thế kỷ XI Vua thường thực hiện đại
xá vào những dịp Hoàng Hậu sinh con trai1.Đối với phụ nữ phạm tội, Luật
cũng quy định hình phạt nhẹ hơn so với nam giới. Phụ nữ có thai hoặc đang
nuôi con nhỏ (dưới 100 ngày) thì được hoãn hành hình
Pháp luật thời phong kiến quy định không được thi hành án tử hình vào
dịp lễ tết ..
Nhằm hạn chế những sai sót có thể xảy ra trong việc thi hành án tử hình,
nâng cao vai trò trách nhiệm của những người thi hành án tử hình. Điều 662
của Quốc triều hình luật quy định: Tội nhân chưa hết hy vọng để gỡ tội mà giết
tội nhân thì những người liên quan vào việc giết đều phải khép vào tội giết
người.
Hạn chế:
Mặc dù các Triều đại Lê, Nguyễn đã có quan theo dõi việc thi hành một số loại
án nhất định như đồ, lưu, tử nhưng thủ tục thi hành án cũng chưa được quy
định rõ ràng nên việc thi hành án trên thực tế phụ thuộc rất nhiều vào các quan
lại xét xử. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho việc thi hành án
trên thực tế nhiều khi tùy tiện thiếu khách quan.
Các hình phạt của Nhà nước phong kiến do các quan lại xét xử phần lớn
được thi hành ngay. Nhiều trường hợp sau khi tuyên án chỉ bằng miệng là bản
án được thi hành ngay tức thì. Việc thi hành cùng một loại hình phạt có nhiều
hình thức khác nhau, không thống nhất. Chẳng hạn việc thi hành hình phạt tử
hình có nhiều hình thức khác nhau như hỏa thiêu, bỏ vạc đầu, lăng chì, voi
dày... Hình thức thi hành án không chỉ khác nhau ở mỗi giai đọan lịch sử mà
ngay trong cùng một triều đại cũng có sự khác nhau2. Pháp luật quy định nhiều
hình phạt dã man, tàn khốc nên khi thi hành gây ra cho phạm nhân sự đau đớn
về thể chất và tinh thần.
1
2
nhất là dùng dao găm; có trường hợp dùng thuốc độc hoặc dùng mìn, lựu đạn,
cung tên...Cán bộ thi hành án tử hình cũng rất khác nhau; không giao cho một
lực lượng nào chuyên trách, mà tùy tình huống cụ thể để quyết định người thi
hành và biện pháp thích hợp.
Việc thi hành hình phạt tử hình được quy định trong các văn bản pháp luật
sau đây:
Sắc lệnh số 150/SL ngày 12/4/1953 của Chủ tịch nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa thành lập Tòa án nhân dân đặc biệt ở những nơi phát động quần
chúng thi hành chính sách ruộng đất:
Điều 4. Thành phần;Tòa án nhân dân đặc biệt huyện hoặc liên huyện
gồm một Chánh án và 6 đến 10 thẩm phán. Một nữa số thẩm phán do Nông hội
hoặc Hội nghị đại biểu nông dân ở huyện hoặc liên huyện cử ra. Khi xét xử thì
lấy thêm đại biểu nông dân ở xã đó, nhưng số đại biểu lấy vào không được quá
1/3 tổng số thẩm phán.
Điều 5. Cách làm việc: Khi làm việc, Tòa án nhân dân đặc biệt dựa vào
quần chúng nhân dân địa phương mà điều tra, thu thập chứng cứ xác thực và
phải xét xử nhanh chóng.
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
12
SVTH: Lý Thị Nhiên
Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam
Điều 11. Quyền hạn.Tòa án nhân dân đặc biệt có quyền tuyên án: Xử tử
hình
Nghị Định số 264-TT ngày 11/5/1953 của Thủ tướng Chính phủ quy
Nghị định, Thông Tư.... Nói chung các quy định này đề cập chưa đầy đủ, toàn
diện, đặc biệt là thiếu thủ tục cụ thể về thi hành hình phạt tử hình.
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
13
SVTH: Lý Thị Nhiên
Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam
1.2.2.3. Thi hành hình phạt tử hình theo quy định của pháp luật tố tụng
hình sự hiện hành ở Việt Nam
Thi hành án tử hình hiện nay được Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm
2003 quy định rất chặt chẽ. Đặc biệt là được thể hiện rõ ràng nhất qua Điều 258
và Điều 259 của Bộ luật này. Bên cạnh đó vấn đề thi hành án tử hình còn
được quy định trong Dự thảo Bộ luật thi hành án hình sự và một số văn bản
khác có liên quan như: Nghị quyết số 02/2007 /NQ-HĐTP ngày 02/10/2007
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn thi hành một số
quy định trong phần thứ năm “thi hành bản án và quyết định của Tòa án” của
Bộ luật tố tụng hình sự,
Càng về sau thì pháp luật nước ta lại càng hoàn thiện hơn nữa về vấn đề thi
hành án tử hình. Điều đặc biệt hiện nay là Dự thảo Bộ luật thi hành án hình sự
cũng quy định rất chi tiết về vấn đề này và việc thi hành hình phạt tử hình cũng
đang rất cần có một khung pháp lý riêng để được áp dụng một cách độc lập.
1.2.3. Đặc điểm của hoạt động thi hành án hình sự -hình phạt tử hình
Thi hành án là một loại hoạt động có những đặc điểm cơ bản sau:
Một là, thi hành án hình sự là một dạng hoạt động của Nhà nước, thực hiện
quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, bảo
đức xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Bên cạnh đó còn nhằm răn đe, giáo
dục những người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh và phòng chống tội phạm.
Bốn là, thi hành hình sự được tiến hành theo trình tự do pháp luật quy định
chặt chẽ cụ thể. Toàn bộ quá trình thi hành các loại bản án hình sự, các quyết
định và các quan hệ liên quan đến việc thi hành án được quy định rõ ràng.
Năm là, Căn cứ và nội dung của thi hành án hình sự chính là các nội dung
cụ thể trong các phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Đây là đặc
điểm thể hiện rõ nét nhất tính tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước của thi
hành án hình sự.
Sáu là, thi hành hình sự mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các
chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án. Các cơ
quan, tổ chức người có thẩm quyền, công dân trong phạm vi trách nhiệm của
mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án hình sự đạt
hiệu quả cao hơn.
Bảy là, theo quy định của pháp luật, dựa trên nguyên tắc cá thể hóa trách
nhiệm hình sự, thì chủ thể phải chấp hành án hình sự là cá nhân người bị kết
án. Những người này cho dù đã chấp hành xong hình phạt phải chịu hậu quả
pháp lý trong thời gian nhất định do luật định.
Tám là, đối với thi hành hình phạt tử hình. Đây là hình phạt nghiêm khắc
nhất vì nó tước đi quyền sống của người phạm tội. Bởi vậy pháp luật đã quy
định riêng cho thi hành hình phạt tử hình các nguyên tắc, trình tự, thủ tục, chặt
chẽ. Việc thi hành hình phạt tử hình chỉ là quá trình mà Hội đồng thi hành hình
phạt tử hình thực thi nhiệm vụ theo thủ tục trình tự nhất định.
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
15
SVTH: Lý Thị Nhiên
của người đó.
Trong giai đoạn thi hành hình phạt tử hình, Tòa án giữ vai trò quan trọng
theo Điều 259 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 “ Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm
ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình”.
Như vậy, theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Tòa án có thẩm
quyền quyết định hình phạt tử hình đối với người phạm tội, đồng thời tham gia
Hội đồng thi hành hình phạt tử hình với vai trò là người tổ chức, chỉ đạo và
giám sát quá trình thi hành hình phạt tử hình.
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
16
SVTH: Lý Thị Nhiên
Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam
2.1.2. Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát có chức năng thực hiện quyền công tố và kiểm sát việc thi
hành pháp luật, do đó có vai trò không thể thiếu trong việc tổ chức và thi hành
hình phạt tử hình.
Trong quá trình xét xử vụ án Viện kiểm sát giữ vai trò công tố, có chức
năng buộc tội và đề nghị mức án tử hình đối với bị cáo. Sau khi bản án tử hình
có hiệu lực pháp luật, bản sao được gửi lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, cùng với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm xem xét kĩ lưỡng vụ án để quyết định
có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hay tái thẩm hay không? Bản án tử
hình chỉ được thi hành khi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị và Chủ tịch nước bác đơn xin
Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam
2.2. Về trình tự thủ tục thi hành hình phạt tử hình3
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, sau khi bản án tử hình
có hiệu lực pháp luật, trong tời hạn 7 ngày, người bị kết án có quyền làm đơn
xin Chủ tịch nước ân giảm
Trường hợp người bị kết án làm đơn xin ân giảm tử hình thì Chành án Tòa
án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trình tờ
trình về ý kiến của mình lên Chủ tịch nước về hình phạt tử hình đối với người
bị kết án, sau đó chuyển hồ sơ vụ án cùng đơn xin ân giảm của người bị kết án
lên Văn phòng Chủ tịch nước để trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Ngày
05/9/2003, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước có Quyết định số 60-QĐ/VPPL ban hành quy chế xử lý hồ sơ xin ân giảm hình phạt tử hình ở cơ quan Văn
phòng Chủ tịch nước. Quy chế này quy định về trình tự thủ tục xử lý hồ sơ án
tử hình tại Văn phòng Chủ tịch nước. Theo đó các công đoạn giải quyết đều thể
hiện rõ ràng, bảo đảm hồ sơ được xử lý nhanh hơn, rành mạch hơn. Hồ sơ vụ
án sau khi được chuyển đến Văn phòng Chủ tịch nước, chậm nhất không quá
hai ngày phải hoàn tất thủ tục tiếp nhận và chuyển ngay đến Vụ pháp luật. Vụ
pháp luật có trách nhiệm rà soát ngay hồ sơ bảo đảm các yêu cầu tối thiểu như:
Đơn xin ân giảm tử hình phải là bản chính, đúng quy định pháp luật, có dấu xác
nhận của đơn vị đang giam giữ bị án. Trường hợp gửi bản sao phải có ý kiến và
đóng dấu của người có thẩm quyền; lý lịch của bị án có xác nhận của cơ quan
có thẩm quyền; các bản án đã tuyên đối với đối với bị án; tờ trình và quyết định
không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao…và được
khẩn trương xử lý, nghiên cứu và soạn thảo các văn bản để Chủ nhiệm Văn
phòng Chủ tịch nước ký trình Chủ tịch nước. Trong quá trình xử lý hồ sơ Văn
phòng Chủ tịch nước chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan để thu thập
thêm thông tin về người bị kết án tử hình để trình Chủ tịch nước xem xét, quyết
định.
Hồ sơ trình Chủ tịch nước xem xét quyết định ngoài những giấy tờ nêu trên
còn có các tài liệu khác như: Tờ trình của Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước
nước có yêu cầu đi địa phương xác minh thêm thì trong thời hạn không quá 30
ngày, Văn phòng phải tổ chức thực hiện và báo cáo kết quả giải quyết trình
Chủ tịch nước xét, quyết định. Thời hạn xem xét và ký các văn bản trình Chủ
tịch nước bác đơn hoặc cho ân giảm xuống tù chung thân hoặc trả về cho
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết theo thẩm quyền tối đa là 5 ngày
đối với mồi hồ sơ vụ án. Thời hạn thư ký trợ lý của Chủ tịch nước nghiên cứu
thẩm định và có ý kiến trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định đối với người
bị kết án tử hình tối đa là 5 ngày với mỗi hồ sơ.
Cùng với quy chế nêu trên, ngày 30/10/2003 Văn phòng Chủ tịch nước và
Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành quy chế 72-QC/LT về phối hợp công tác
giữa hai cơ quan này. Tại muc V của quy chế quy định về việc xét đơn ân
giảm hình phạt tử hình, về trách nhiệm và mối quan hệ phối hợp giữa Văn
phòng Chủ tịch nước và Tòa án nhân dân tối cao trong việc tiếp nhận, xử lý,
giải quyết hồ sơ xin ân giảm hình phạt tử hình. Những trường hợp đơn xin ân
giảm hình phạt tử hình nhưng lại có nội dung kêu oan thì Văn phòng Chủ tịch
nước trả hồ sơ về cho Tòa án nhân dân tối cao giải quyết. Đối với những hồ sơ
chưa đầy đủ hoặc khi Chủ tịch nước có yêu cầu báo cáo bổ sung thì Tòa án
nhân dân tối cao có trách nhiệm xác minh, bổ sung tài liệu trong thời hạn
không quá 30 ngày. Trường hợp cần thiết, Chủ tịch nước yêu cầu Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao báo cáo trực tiếp về từng hồ sơ của người có đơn xin
ân giảm hình phạt tử hình. Bản án chỉ được đưa ra thi hành sau khi Chủ tịch
nước quyết định bác đơn xin ân giảm của người bị kết án. Nếu trường hợp Chủ
tịch nước chấp nhận đơn xin ân giảm của người bị kết án thì hình phạt tử hình
được chuyển thành tù chung thân.
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
19
SVTH: Lý Thị Nhiên
hình sự hiện hành hay không. Theo quy định tại điều 35 Bộ luật hình sự năm
1999 điều kiện để không áp dụng hình phạt tử hình là người bị kết án là phụ nữ
có thai, hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này Chánh
án Tòa án đã xử sơ thẩm không ra quyết định thi hành án và báo cáo Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao để xem xét chuyển hình phạt tử hình xuống thành tù
chung thân cho người bị kết án.
Trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án phải kiểm tra căn cước của
người bị kết án, giao cho người bị kết án đọc quyết định thi hành án, quyết định
không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và của
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
20
SVTH: Lý Thị Nhiên
Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, nếu người bị kết án xin giảm án tử hình thì
phải giao cho họ đọc bản sao quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân
giảm. Nếu trường hợp người bị kết án là phụ nữ thì Hội đồng thi hành án ngoài
việc kiểm tra căn cước, phải kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện để
không thi hành hình phạt tử hình. Trong trường hợp Hội đồng thi hành án phát
hiện người bị kết án có điều kiện để không thi hành hình phạt tử hình thì Hội
đồng thi hành án hoãn thi hành án và báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết định
thi hành án để báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét chuyển hình
phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án. Tất cả các việc trên phải
lập biên bản ghi rõ việc kiểm tra đã giao các quyết định cho người bị kết án,
ghi rõ những lời nói của họ, ghi rõ những thư từ, đồ vật mà người bị kết án gửi
lại cho nhân thân của họ. Trong trường hợp có tình tiết đặc biệt sau đây, Hội