I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
HONG C NGC NHNG VN Lí LUN V THC TIN
V PHM TI CHA T THEO LUT HèNH S
VIT NAM
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2010
Hµ néi - 2010
1
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng Danh mục các sơ đồ
phạm kết thúc
35
1.3.
Các quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới
về phạm tội chưa đạt
37
1.3.1.
Bộ luật hình sự Liên bang Nga
37
1.3.2.
Bộ luật hình sự Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa
39
1.3.3.
Bộ luật hình sự Cộng hòa Pháp
40 2
1.3.4.
Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức
43
Chương 2: Các quy định của pháp luật hình sự việt nam về phạm tội
chƣa đạt
47
2.1.
Các quy định của pháp luật hình sự từ thời kỳ phong kiến đến
trước ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về phạm
tội chưa đạt
47
Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt
Nam về phạm tội chưa đạt
80
3.1.1.
Những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn
84
3.1.2.
Vướng mắc trong quy định của Bộ luật hình sự
103
3.2.
Việc hoàn thiện các quy định của bộ luật hình sự Việt Nam
năm 1999 hiện hành về phạm tội chưa đạt
109
3.2.1.
Sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật
hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành về phạm tội chưa đạt
109
3.2.2.
Nội dung sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999 hiện hành về phạm tội chưa đạt
111 3
Kết luận
118
Danh mục Tài liệu tham khảo
121
Tên bảng
Trang
3.1
Tổng số vụ án đã xét xử trên toàn quốc và tổng số vụ án
đã xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội các năm
2005-2009
80
3.2
Tổng số bị cáo đã xét xử trên toàn quốc và tổng số bị cáo
đã xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội các năm
2005-2009
81
3.3
Tỷ lệ bản án có phạm tội chưa đạt trong tổng số các bản
án hình sự sơ thẩm và các quyết định giám đốc thẩm hình
sự của Tòa án nhân dân
81
3.4
Tội danh, số vụ, số bị cáo và tỷ lệ số vụ án trên các bản
án hình sự sơ thẩm và các quyết định giám đốc thẩm hình
sự của Tòa án nhân dân
82
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các giai đoạn phạm tội là những bước trong quá trình thực hiện tội
phạm do cố ý. Các giai đoạn phạm tội khác nhau chính là ở những yếu tố
khách quan của hành vi phạm tội - tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành
vi, thời điểm chấm dứt của những hành vi đó, cũng như mức độ thực hiện ý
định phạm tội của chủ thể.
Tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, xuất hiện cùng với
sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, cũng như khi xã hội phân chia thành giai
cấp đối kháng [13, tr. 287]. Cho nên, để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống
trị, Nhà nước đã quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào là tội
phạm và áp dụng trách nhiệm hình sự (và hình phạt) đối với những người đã
thực hiện các hành vi đó. Do đó, tội phạm lại mang bản chất là một hiện
tượng pháp lý. Là hiện tượng tiêu cực mang thuộc tính xã hội - pháp lý, "tội
phạm luôn chứa đựng trong nó đặc tính chống đối lại Nhà nước, chống đối lại
xã hội, đi ngược lại lợi ích chung của cộng đồng, trật tự xã hội, xâm phạm đến
quyền, tự do và các lợi ích hợp pháp của con người" [78, tr. 7].
Tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự là do có tính chất nguy
hiểm đáng kể cho xã hội. Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm không
những là một đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản, mà còn là thuộc tính khách quan,
tất yếu và thể hiện bản chất xã hội - pháp lý của từng hành vi phạm tội cụ thể.
Ngoài ra, tội phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội, bởi vì tội phạm gây ra
không những trừng trị những hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi thực
hiện hoàn thành một tội phạm mà cả điều chỉnh xử lý các hành vi phạm tội
chưa đạt - hành vi chưa hoàn thành. Việc phát hiện, trừng trị những hành vi
phạm tội chưa hoàn thành không chỉ để ngăn chặn tội phạm, mà còn nhằm
hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại cho xã hội do hành vi phạm tội có
thể gây ra cho xã hội, cho Nhà nước và cho công dân. Điều này còn thể hiện
đường lối xử lý trong chính sách hình sự - không để cho tội phạm gây ra nguy
hiểm cho xã hội thì tốt hơn để cho tội phạm xảy ra mới tìm cách khắc phục, 8
phòng chống, đồng thời điều này cũng đã được cụ thể hóa trong Điều 1 về
nhiệm vụ của Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, trong diễn biến thực hiện tội phạm, việc xác định những
hành vi nào đã đến mức gây ra hoặc đe dọa gây ra nguy hiểm cho xã hội là tội
phạm, quyết định hình phạt đối với những người thực hiện hành vi ấy giúp
cho cơ quan điều tra, truy tố, xét xử nhằm xử lý đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô
tội không phải bao giờ cũng đơn giản và dễ dàng. Mặt khác, để quyết định
một hình phạt được chính xác và công bằng thường gặp một số khó khăn nhất
định hay còn có nhiều sai sót, đặc biệt khi đánh giá tính chất, mức độ nguy
hiểm cho xã hội và thời điểm dừng lại của hành vi phạm tội trong thực tế
khách quan với ý nghĩ, mong muốn chủ quan của người phạm tội.
Thời gian vừa qua, dưới góc độ khoa học luật hình sự xung quanh
những vấn đề lý luận về phạm tội chưa đạt vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau,
việc phân định ranh giới giữa chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tội phạm
hoàn thành và tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội còn có nhiều quan điểm
khác nhau, có một số trường hợp do phân biệt không chính xác sẽ dẫn tới
nhiều trường hợp xử oan, sai hoặc không đúng pháp luật. Bên cạnh đó, dưới
góc độ thực tiễn áp dụng, có nhiều trường hợp đánh giá chưa đúng khi thực tế
nhau biên soạn như: 1) Chương XII - Các giai đoạn phạm tội của TS. Nguyễn
Ngọc Chí, trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung). Tập thể
tác giả do TSKH. Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001
(tái bản năm 2003, 2007); 2) Chương IX - Các giai đoạn phạm tội của GS.TS.
Nguyễn Ngọc Hòa, trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập I, Tập
thể tác giả do PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, 2007; 3) Chương XII - Các giai đoạn phạm tội của GS.TS. Võ Khánh
Vinh, trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập thể tác giả do
PGS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005;
4) Chương VII - Các giai đoạn cố ý thực hiện tội phạm, trong sách: Giáo
trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà
Nội, 1995; 5) Lâm Minh Hạnh. Chương III - Các giai đoạn phạm tội, trong 10
sách: Những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm trong luật hình sự Việt Nam,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1986; v.v
Một số nhà khoa học - luật gia hình sự Việt Nam cũng đã dành không ít
công sức cho việc nghiên cứu về đề tài này, đáng chú ý là các công trình nghiên
cứu của GS.TSKH. Lê Văn Cảm: 1) Mục V - Chế định về các giai đoạn thực
hiện tội phạm, Chương thứ tư, trong Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật
hình sự (Phần chung), (Sách chuyên khảo Sau đại học), Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2005; 2) Chế định các giai đoạn thực hiện tội phạm và mô hình lý luận
của nó trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 2/2002;
v.v
Ngoài ra, còn có một số bài đăng trên tạp chí khoa học pháp lý như:
1) Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về giai đoạn thực hiện tội
phạm, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 5/1999, của PGS.TS. Trần Văn Độ; 2)
Một số vấn đề về giai đoạn thực hiện tội phạm, Tạp chí Luật học, số 6/1995;
3) Về trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa
tội do cố ý mà ít có nghiên cứu chuyên sâu và riêng rẽ về từng trường hợp cụ
thể của vấn đề phạm tội chưa đạt, nên việc hiểu trong lý luận và vận dụng
trong thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn và vướng mắc. Do đó, phạm vi nghiên
cứu của luận văn sẽ xem xét và giải quyết một số vấn đề cơ bản xung quanh
chế định phạm tội chưa đạt như sau:
1) Khái niệm và cơ sở phân chia các giai đoạn phạm tội do cố ý;
2) Khái niệm, các đặc điểm và phân loại phạm tội chưa đạt;
3) Các căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt;
4) Nghiên cứu so sánh các quy định về phạm tội chưa đạt trong pháp
luật hình sự một số nước trên thế giới;
5) Các quy định về phạm tội chưa đạt trong pháp luật hình sự Việt Nam;
6) Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về
phạm tội chưa đạt; 12
7) Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
về phạm tội chưa đạt.
4. Đối tƣợng và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của nó - Những
vấn đề lý luận và thực tiễn về phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam.
Trên cơ sở này, mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu những
vấn đề lý luận về phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam, so sánh hành
vi phạm tội chưa đạt với các hành vi khác trong quá trình thực hiện tội phạm,
cũng như so sánh vấn đề này với một số nước trên thế giới. Ngoài ra, luận văn
còn phân tích và đánh giá những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và tồn tại
trong các quy định của pháp luật hình sự về phạm tội chưa đạt để từ đó, đưa
ra giải pháp hoàn thiện sửa đổi, bổ sung chế định này trong Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999 hiện hành.
5. Các phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình
sự trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục,
cải tạo người phạm tội hiện nay ở nước ta.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về phạm tội chưa đạt trong luật hình sự.
Chương 2: Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phạm tội
chưa đạt.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và việc hoàn thiện các quy định của Bộ
luật hình sự Việt Nam năm 1999 về phạm tội chưa đạt. 14
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHẠM TỘI CHƢA ĐẠT
TRONG LUẬT HÌNH SỰ
1.1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI PHẠM TỘI CHƢA ĐẠT
1.1.1. Khái niệm và cơ sở phân chia các giai đoạn phạm tội do cố ý
Tội phạm diễn ra ở các giai đoạn khác nhau thì mức độ nguy hiểm cho
xã hội cũng khác nhau, việc thực hiện tội phạm do cố ý trong nhiều trường
hợp nó là một quá trình thỏa mãn dần các dấu hiệu cơ bản của cấu thành tội
phạm cụ thể. Bởi vì, để thực hiện một tội phạm trong nhiều trường hợp người
phạm tội phải tiến hành từng bước, dần từng bước một, chẳng hạn như: chuẩn
bị công cụ, phương tiện phạm tội, chuẩn bị thực hiện hành vi liền kề và dần
thực hiện hành vi phạm tội; v.v
Trước đây và hiện nay, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm là
một trong những công việc quan trọng của Nhà nước, của các cơ quan chuyên
trách bảo vệ pháp luật và toàn thể xã hội. Bên cạnh việc xử lý hành vi phạm
nội dung của hành vi người phạm tội thực hiện, cũng như mức độ kết thúc
hành vi phạm tội (Ê.F.Pobegailô); v.v [13, tr. 440-441]. Hay trong luật hình
sự Cộng hòa Pháp gọi là "các giai đoạn thực hiện các tội phạm do cố ý" [14,
tr. 60]; v.v
Còn trong khoa học luật hình sự Việt Nam, về tên gọi có sự khác nhau
nhưng về bản chất pháp lý là giống nhau mặc dù cách thể hiện nội dung có sự
khác nhau, mà dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét.
GS.TSKH. Lê Văn Cảm (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội) định
nghĩa: "Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước phát triển theo một trình
tự nhất định mà tội phạm trải qua, được thể hiện bằng việc thực hiện các dấu
hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm tương ứng và bằng mức độ
khác nhau của việc thực hiện sự cố ý phạm tội của chủ thể" [10, tr. 114]. Theo
đó, đây là quan điểm tương đối chính xác về mặt khoa học và đầy đủ về mặt
nội dung khi phản ánh sự thống nhất giữa phương diện khách quan và chủ 16
quan trong tội phạm, dựa trên cơ sở khoa học - các quy định của pháp luật
cũng như cơ sở thực tiễn - các giai đoạn thực hiện tội phạm chỉ tồn tại trong
lỗi cố ý trực tiếp. Tuy nhiên, nhận thức về nội dung của định nghĩa này có
nhiều quan điểm khác nhau mà dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét.
GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (Trường Đại học Luật Hà Nội) cho rằng:
"Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độ thực hiện tội phạm cố ý, bao
gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành" [29, tr. 119].
Như vậy, theo quan điểm này thì chỉ những tội phạm cố ý khi thực hiện thì
hành vi phạm tội mới trải qua các giai đoạn - chuẩn bị phạm tội, phạm tội
chưa đạt và tội phạm hoàn thành và nhấn mạnh sự khác nhau giữa các giai
đoạn là mức độ thực hiện tội phạm cố ý.
Tác giả Trần Văn Đượm (Học viện Cảnh sát nhân dân) khẳng định
luôn là các giai đoạn cố ý thực hiện tội phạm và định nghĩa đây là "các bước
hiểm cho xã hội, cũng không thấy trước được hậu quả có thể xảy ra và họ
cũng không mong muốn cho hậu quả đó xảy ra.
Tuy nhiên, một vấn đề khác lại đặt ra ở đây là tội cố ý có bao gồm cả
cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp hay không. Mặc dù vậy, về cơ bản, "đa số các
nhà khoa học pháp lý hình sự đều cho rằng quá trình phạm tội chỉ có ở hình
thức lỗi cố ý trực tiếp" [16, tr. 223]. Còn đối với những tội cố ý gián tiếp hay
vô ý chỉ có thể có trường hợp có tội và không có tội mà thôi. Tất nhiên, cũng
có quan điểm cho rằng "đối với những tội có cấu thành hình thức thực hiện
bằng không hành động, mặc dù có lỗi cố ý trực tiếp cũng không có hành vi
chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt". Ví dụ: Tội không tố giác tội phạm
(Điều 314 Bộ luật hình sự), tội cố ý không cứu giúp người đang ở trong tình
trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 107 Bộ luật hình sự) [71, tr. 113]. Đặc
biệt, cũng có quan điểm lại cho rằng: các giai đoạn phạm tội có cả ở hình
thức lỗi cố ý gián tiếp. Theo đó, "cũng như trường hợp phạm tội với lỗi cố ý
trực tiếp, người phạm tội có lỗi cố ý gián tiếp cũng có ý thức lựa chọn một
xử sự phạm tội. Những gì nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra ở trường hợp phạm
tội cố ý gián tiếp là những điều tuy chủ thể không nhằm tới nhưng họ chấp
nhận việc nó xảy ra. Khi điều đó chưa xảy ra, chúng ta vẫn có thể và cần phải 18
đặt vấn đề trách nhiệm hình sự đối với họ, vì việc không xảy ra là do nguyên
nhân khách quan, còn chủ quan người phạm tội vẫn sẵn sàng chấp nhận việc
nó xảy ra. Về mặt thực tiễn, hiện nay chúng ta đã gặp những vụ việc đòi hỏi
cần xét xử về hình sự và việc xét xử này chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở
thừa nhận nguyên tắc: các giai đoạn thực hiện tội phạm và trách nhiệm hình
sự đối với các giai đoạn phạm tội được đặt ra cho cả trường hợp phạm tội cố ý
gián tiếp" [28, tr. 68-69]. Chúng tôi nhận thấy, ý kiến này cũng chứa đựng
điểm hợp lý, tuy nhiên, thực tiễn xét xử ở Việt Nam chỉ thừa nhận có giai
đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đối với loại tội cố ý trực tiếp,
các giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt mà chỉ có tội phạm
hoàn thành. Ví dụ: Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 79
Bộ luật hình sự). Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, tội phạm có cấu thành hình
thức có thể có giai đoạn phạm tội chưa đạt, vì các tác giả này cho rằng phạm
tội chưa đạt có thể xảy ra trong trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi
đi liền trước hành vi khách quan. Ví dụ: Tội cướp tài sản (Điều 133), tội bắt
cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134), tội hiếp dâm (Điều 111), tội xâm
phạm an ninh lãnh thổ (Điều 81 Bộ luật hình sự). Với quan điểm này, chúng
tôi không đồng tình bởi vì riêng đối với tội hiếp dâm có giai đoạn phạm tội
chưa đạt. Dấu hiệu hành vi khách quan của tội này bao gồm: Một là, hành vi
dùng vũ lực (hoặc dùng thủ đoạn khác) để thực hiện, hai là, hành vi giao cấu trái
với ý muốn của người phụ nữ. Nếu người phạm tội đã cố ý dùng vũ lực rồi mặc
dù chưa thực hiện được hành vi giao cấu thì sẽ cấu thành tội hiếp dâm ở giai
đoạn phạm tội chưa đạt. Bởi vì, ở tội này có cấu thành có cấu thành vật chất
chứ không phải có cấu thành hình thức. Còn đối với tội cướp tài sản và tội bắt
cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi
dùng vũ lực đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực hay hành vi bắt cóc con tin và
hành vi đe dọa nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc bất kỳ một hành vi nào được mô
tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm thì tội phạm đã hoàn thành.
Như vậy, chúng tôi không đồng ý với quan điểm trên vì nó không phù hợp với
bản chất của giai đoạn phạm tội chưa đạt. 20
Cũng như mọi trường hợp phạm tội nói chung, các trường hợp chuẩn
bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đều được thực hiện bằng hành vi phạm tội.
Và các hành vi này chỉ có thể dưới dạng hành động. Ví dụ: Tội phản bội Tổ
quốc (Điều 78 Bộ luật hình sự). Còn loại tội được thực hiện bằng không hành
động chỉ xảy ra trong trường hợp tội phạm hoàn thành chứ không thể xảy ra
trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt được, tuy nhiên loại
sự, còn với công bằng, - có nghĩa bảo đảm sự bình đẳng ngang nhau trong
đánh giá hành vi phạm tội của những người phạm tội, bình đẳng trước pháp
luật đối với tất cả mọi người với nội dung "người nào " có nghĩa không trừ
bất kỳ một ai trong xã hội [79, tr. 1-2]. Về điều này, C. Mác đã viết: " dưới
con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng phạt phải là kết quả tất yếu của hành vi do
chính người đó - do đó phải là hành vi của chính người đó. Giới hạn của y
phải là giới hạn của sự trừng phạt " [42, tr. 169].
Quy định về các giai đoạn phạm tội do cố ý có ý nghĩa rất quan trọng,
nó là căn cứ để định tội danh. Điều này có nghĩa, việc xác định hành vi chuẩn
bị phạm tội nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội chưa đạt đã thực
hiện mà phạm vào một tội gì có trong số những tội phạm được quy định trong
Bộ luật hình sự. Việc xác định hành vi của một người đã phạm tội gì chính là
quá trình xác định hành vi của họ có thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội
phạm trong Bộ luật hình sự. Khi xác định tội danh đó phải căn cứ vào các quy
định về chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và các tội phạm cụ thể được
pháp luật hình sự quy định thì mới định tội và định tội đối với đúng người và
đúng pháp luật.
Tóm lại, các giai đoạn phạm tội là những bước phát triển trong quá
trình thực hiện tội phạm do cố ý, phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội trong từng thời điểm khác nhau - chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.
Như vậy, dưới góc độ khoa học, việc phân chia các giai đoạn phạm tội
trong luật hình sự dựa trên các căn cứ sau: 22
Thứ nhất, dựa trên diễn biến khách quan của quá trình phạm tội mà
cụ thể là dựa vào dấu hiệu hành vi và dấu hiệu hậu quả của tội phạm. Theo
đó, tội phạm hoàn thành là tội phạm đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu khách
quan được quy định trong luật. Trong khi đó, phạm tội chưa đạt là trường hợp
hành vi phạm tội do chủ thể thực hiện trên thực tế là căn cứ để xác định giai
đoạn phạm tội, cũng như phân hóa trách nhiệm hình sự của người phạm tội.
Trong khi đó, mức độ thực hiện ý định phạm tội của chủ thể mặc dù không
quyết định việc phân chia các giai đoạn phạm tội do cố ý, nhưng nó có mối
liên hệ mật thiết với các hành vi phạm tội trên thực tế và có thể không thực
hiện được do những nguyên nhân khách quan (là chủ yếu) hoặc nguyên nhân
chủ quan quyết định - nếu không có gì ngăn cản hoàn toàn thực hiện được,
nếu có gì ngăn cản - không thể thực hiện được.
1.1.2. Khái niệm phạm tội chƣa đạt
Trong quá trình thực hiện tội phạm có những trường hợp người phạm
tội không thực hiện được đầy đủ những hành vi để hoàn thành tội phạm, hoặc
không đạt được kết quả mong muốn, do những nguyên nhân kết quả ngoài ý
muốn của người phạm tội.
Trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985, trong khoa học pháp lý Việt
Nam, để chỉ hành vi phạm tội chưa đạt người ta thường dùng thuật ngữ
"tương hành vi toại" có nghĩa là hành động chưa đạt được ý muốn, hay "vị
toại". Sau đó, vào những năm 60 của thế kỷ XX, trong khoa học luật hình sự
Việt Nam thể hiện ở một số văn bản pháp lý, cũng như nhiều tài liệu, bài báo,
trong tài liệu giảng dạy tại Trường Cán bộ Tòa án (Tòa án nhân dân tối cao)
sử dụng khá phổ biến thuật ngữ "toan" phạm tội để chỉ trường hợp phạm tội
chưa đạt trong luật hình sự [23, tr. 29-31].
Như vậy, trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985, trong luật lệ hình sự
của nước ta cũng đưa ra thuật ngữ "phạm tội chưa đạt" nhưng chưa có văn
bản nào giải thích khái niệm phạm tội chưa đạt. Tuy nhiên, có thể vận dụng
nội dung hướng dẫn về tội giết người chưa đạt để giải thích phạm tội chưa