Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định án tích trong luật hình sự việt nam - Pdf 61

đại học quốc gia hà nội

khoa luật

phùng đăng trờng

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về chế định án tích trong luật hình sự việt
nam

luận văn thạc sĩ luật học

Hà nội - 2014

đại học quốc gia hà nội

1


khoa luật

phùng đăng trờng

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về chế định án tích trong luật hình sự việt
nam
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số

: 60 38 40


Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ

1
7

ĐỊNH ÁN TÍCH

1.1.

Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về án tích trong luật hình

7

1.1.1.
1.1.2.
1.1.3.
1.2.
1.2.1.
1.2.2.
1.2.3.
1.3.
1.3.1.
1.3.2.


26

VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1.

Chế định án tích theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam

26

2.2.

năm 1999
Thực tiễn áp dụng chế định án tích

41

4


2.2.1. Tình hình áp dụng chế định án tích
2.2.2. Một số vướng mắc, tồn tại khi áp dụng chế định án tích
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ

41
44
52

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ÁP DỤNG CHẾ
ĐỊNH ÁN TÍCH

giữa các cơ quan hữu quan trong việc áp dụng pháp luật
về án tích
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC BẢNG

5

69
72


Số hiệu

Tên bảng

Trang

Số vụ án và bị cáo đưa ra xét xử trong cả nước từ năm

42

bảng
2.1

2009 đến năm 2013

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


7


chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc cũng như bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần giữ gìn,
duy trì trật tự an toàn xã hội. Mặc dù, đã được kế thừa và tiếp thu những tinh thần
và sự tiến bộ của BLHS năm 1985 nhưng kể từ năm 1999 đến nay, BLHS năm
1999 đã bộc lộ những bất cập không chỉ trong thực tiễn áp dụng các quy định của
pháp luật hình sự mà cả trên phương diện nhận thức và lý luận.
Trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện
nay, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ về mặt lý luận và đưa ra các kiến giải lập pháp
là vô cùng cần thiết và quan trọng không chỉ trong lĩnh vực pháp luật hình sự nói
riêng mà đối với cả hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung.
Án tích là một trong những chế định rất quan trọng trong phần chung của
BLHS. Việc nghiên cứu và làm sáng tỏ về mặt nhận thức và lý luận là một đòi hỏi
cấp bách, không chỉ góp phần làm cho nhận thức một cách đúng đắn và khoa học
về chế định án tích mà còn giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng chính
xác các quy định của pháp luật hình sự. Bảo đảm các quyền con người, quyền và lợi
ích chính đáng của công dân.
Từ trước đến nay, về mặt lý luận, vẫn chưa có một công trình nào nghiên
cứu một cách tổng thể, toàn diện và có hệ thống vấn đề liên quan đến chế định án
tích. Ngoài ra, việc hiểu vấn đề liên quan đến án tích cũng còn có nhiều quan điểm
khác nhau và chưa thống nhất. Như vậy, đòi hỏi phải có một công trình nghiên cứu
một cách toàn diện và sâu sắc, điều đó đặt ra yêu cầu hết sức cần thiết trong điều
kiện hiện nay.
Trước yêu cầu đó, việc nghiên cứu một cách nghiêm túc và toàn diện về mặt
lý luận vấn đề liên quan đến chế định án tích để đưa ra các lý giải khoa học và mô
hình lý luận vấn đề này đồng thời cũng đưa ra các kiến giải lập pháp góp phần hoàn
thiện pháp luật hình sự mà cụ thể là BLHS Việt Nam để giải quyết các vấn đề còn
bất cập và vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy phạm này của các cơ quan

9


thành niên phạm tội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Khoa Luật – Đại học quốc
gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003.
Bên cạnh đó còn có các bài viết sau đây: Hồ Sĩ Sơn, “Án tích theo luật hình
sự Viêt Nam 1999”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2001; Phạm Hồng Hải,
“Xóa án”, trong sách: Mô hình lý luận về BLHS Việt Nam. NXB Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1993;…
Từ một số nội dung đề cập ở trên cho thấy các công trình và bài viết
nghiên cứu liên quan đến chế định án tích đã đưa ra những quan điểm và phần
nào đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản mà lý luận và thực tiễn áp dụng các
quy phạm pháp luật hình sự đặt ra. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các công trình này
đã cho thấy, chế định án tích với tư cách là một trong những chế định quan trọng
và cơ bản trong pháp luật hình sự nhưng chế định này hiện nay vẫn còn nhiều
thiếu sót và bất cập.
Xuất phát từ những đòi hỏi cấp bách của khoa học luật hình sự, về lý luận
cũng như thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự. Việc nghiên cứu đề
tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định án tích trong luật hình sự Việt
Nam” là một đòi hỏi khách quan và cần thiết trong giai đoạn xây dựng nhà nước
pháp quyền và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một cách đồng bộ, toàn diện để làm
sáng tỏ về mặt lý luận và khoa học những nội dung cơ bản của chế định án tích
trong pháp luật hình sự Việt Nam, đồng thời chỉ ra những bất cập để đưa ra các
kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự. Nâng cao hiệu
quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân.



Đề tài luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đề tài luận văn còn được
thực hiện trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về cải
cách tư pháp để thể hiện. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể
và đặc thù như: phương pháp phân tích, tổng hợp, logic và so sánh.
5. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Nghiên cứu về chế định án tích có ý nghĩa và vai trò to lớn về mặt lý luận
và thực tiễn đối với việc hoàn thiện pháp luật hình sự, vì đây là công trình đầu
tiên ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu toàn diện, có hệ thống vấn
đề án tích. Luận văn có những điểm mới cơ bản là:
- Tập trung vào nghiên cứu một cách đồng bộ, thống nhất về mặt lý luận
nội dung cơ bản của chế định án tích theo luật hình sự Việt Nam.
- Nghiên cứu chỉ ra những đặc điểm cơ bản và chủ yếu của quá trình hình
thành và phát triển chế định án tích trong luật hình sự Việt Nam.
- Nghiên cứu làm sáng tỏ và chỉ ra những bất cập, hạn chế đối với các quy
định về chế định án tích trong việc áp dụng các quy phạm này vào thực tiễn.
- Đề xuất mô hình kiến giải lập pháp cụ thể về chế định án tích góp phần
vào việc hoàn thiện hơn nữa BLHS trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp
quyền Việt Nam XHCN hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về chế định án tích

12


Chương 2: Chế định án tích theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 và

án cũng như các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền áp dụng đối với người
phạm tội. Theo pháp luật thời kỳ này thì người đang có án tích mà phạm tội mới
cũng có thể bị xem xét việc tái phạm.

14


1.1.2. Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1999
Ngày 27 tháng 6 năm 1985, BLHS đầu tiên của nước ta được Quốc hội
Khóa VII kỳ họp thứ 9 thông qua. Đây là một sự kiện quan trọng đánh dấu một
bước tiến lớn đối với luật hình sự nước ta. Chế định án tích đã chính thức được
ghi nhận trong một văn bản pháp lý có giá trị cao này. Tại Chương 6 quy định về
việc quyết định hình phạt, miễn, giảm hình phạt. Chế định án tích được gọi với
cái tên là xóa án và được quy định từ Điều 52 đến Điều 56, ngoài ra còn một
trường hợp đặc biệt là xóa án trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội
(Điều 67).
Án tích ngoài việc chính thức được ghi nhận trong BLHS Việt Nam năm
1985, các văn bản dưới luật cụ thể là các Thông tư đã kịp thời được ban hành để
hướng dẫn các quy định liên quan đến án tích trong BLHS. Ngày 01 tháng 8 năm
1986, TAND tối cao đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao,
Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) ban hành Thông tư liên ngành số
02/TTLN quy định về việc xóa án, hướng dẫn cụ thể về thẩm quyền xóa án, điều
kiện cụ thể để được xóa án, thủ tục xóa án,… Theo đó, người bị kết án muốn xin
xóa án thì phải nộp đơn xin xóa án cho Tòa án cấp sơ thẩm đồng thời là chung
thẩm tội phạm cũ của mình, kèm theo các giấy tờ chứng minh về việc chấp hành
xong bản án và không phạm tội mới khi còn mang án tích. Trong trường hợp xóa
án theo quyết định của Tòa án hoặc trong trường hợp đặc biệt thì cần phải có
thêm giấy tờ xác nhận về thái độ chấp hành pháp luật của chính quyền địa
phương nơi người bị kết án thường trú. Thông tư liên ngành này sau đó gần ba
năm đã được sửa đổi, bổ sung bằng Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 15

phù hợp với tình hình mới.
Chế định án tích ngoài việc quy định trong BLHS năm 1999 được sửa đổi,
bổ sung năm 2009. Hiện nay, chế định còn được quy định trong các luật và thông tư
hướng dẫn các điều của BLHS, như Luật Lý lịch tư pháp năm 2010, Nghị quyết số
01/2000/NQ - HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao ngày 04 tháng 8

16


năm 2000 về hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của BLHS
năm 1999,… Mặc dù, chế định án tích so với các giai đoạn trước đã có những ưu
điểm, tiến bộ mới. Song quy định về án tích trong BLHS năm 1999 được sửa đổi,
bổ sung năm 2009 qua quá trình áp dụng trên thực tế vẫn bộc lộ những bất cập ngay
trên cả phương diện lý luận. Và để đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn xây dựng nhà
nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, nhất là trong lĩnh vực tư pháp
hình sự thì việc pháp điển hóa lần thứ ba BLHS Việt Nam năm 1999 là một đòi hỏi
cần thiết và cấp bách theo hướng ghi nhận án tích trong một chương độc lập trong
BLHS mới với tên gọi “án tích”, trong đó có quy định khái niệm án tích, thời điểm
bắt đầu và kết thúc án tích, xóa án tích, các trường hợp đương nhiên được xóa án
tích, cơ quan ra quyết định xóa án tích, thủ tục để được xóa án tích,… Như vậy, mới
đảm bảo yêu cầu về mặt lập pháp và dễ dàng được áp dụng trên thực tế.
1.2. Khái niệm và bản chất pháp lý của chế định án tích
1.2.1. Khái niệm án tích
Trong giai đoạn xây dựng NNPQ và cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay,
việc nghiên cứu chế định án tích trong luật hình sự là một yêu cầu hết sức quan
trọng và cần thiết. Kể từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đến
ngày 27 tháng 6 năm 1985 Quốc hội mới thông qua BLHS đầu tiên, và trong
BLHS này chính thức ghi nhận về mặt lập pháp chế định án tích được quy định ở
các Điều 40, 52, 53, 54, 55, 55 và 67 trong Phần chung của BLHS với tư cách là
một chế định độc lập, mặc dù cách gọi chưa thật sự chính xác trên phương diện

3) PGS.TS Hồ Sĩ Sơn, Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng:
Án tích là vết tích đã từng bị kết án của người phạm tội, xuất
hiện khi người đó đã chấp hành xong hình phạt và được xóa để được

18


coi như là chưa bị kết án nếu người này đáp ứng được những điều kiện
do BLHS quy định hoặc tồn tại khi người bị kết án đã chấp hành xong
hình phạt nhưng chưa đáp ứng được những điều kiện đó và vẫn bị coi
là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm theo BLHS năm 1999 (Điều 49)
hoặc phải chịu TNHS về hành vi phạm tội mà theo BLHS vết tích đã
từng bị kết án đối với hành vi ấy là yếu tố cấu thành tội phạm [40,
tr.65].
4) Th.S Nguyễn Xuân Nghiệp có quan điểm rằng:
Án tích là hậu quả pháp lý của việc phạm tội mà người bị kết
án phải gánh chịu hình phạt theo bản án kết tội đã có hiệu lực pháp
luật, gánh chịu trong thời hạn nhất định kể từ khi bản án đó có hiệu lực
pháp luật cho đến khi hậu quả pháp lý đó được xóa bỏ theo quy định
của pháp luật [24, tr.12].
5) Th.S Nguyễn Thị Lan, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội coi “án
tích” là một dấu án, cho thấy người có án tích đã từng bị kết án vì đã phạm tội và
xóa án tích là việc pháp luật hình sự cho phép xóa đi dấu tích về quá khứ tội lỗi
của một người đã từng bị kết án sau khi người đó đã thỏa mãn đầy đủ những điều
kiện được quy định trong BLHS [20, tr.12-13].
Trong khoa học luật hình sự Liên Xô cũ và Liên bang Nga hiện nay,
chế định án tích cũng có một số các quan điểm sau đây:
1) GS.TSKH luật Zelđôv X.L cho rằng:
Án tích gồm ba bộ phận hợp thành: i) Khoảng thời gian từ khi

hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm thì không thể bị truy cứu TNHS và
không thể bị Tòa án kết tội, từ đó sẽ không phát sinh án tích.
Thực tế áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, để quy kết hành vi nào
đó là tội phạm và buộc người thực hiện hành vi phải chịu TNHS, người áp dụng

20


pháp luật phải trên cơ sở đối chiếu hành vi đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu
thành tội phạm được quy định trong BLHS, chứ không thể áp đặt theo ý thức chủ
quan. Nếu trong quá trình áp dụng pháp luật, người áp dụng pháp luật xác định
được hành vi của một người thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được
BLHS quy định thì mới có thể kết luận hành vi đó là tội phạm và được thể hiện
bằng bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị kết án phải
chịu TNHS về hành vi vi phạm pháp luật của mình đồng thời người đó phải
mang án tích trong một thời gian theo quy định của pháp luật hình sự.
Cùng với bản án kết tội của Tòa án và hình phạt mà Tòa án quyết định
đối với người phạm tội, án tích đối với người bị kết án cũng là một trong những
hình thức thể hiện nội dung của TNHS. TNHS và các dạng trách nhiệm pháp lý
khác có thể có những điểm gần giống nhau về hình thức thể hiện. Ví dụ, TNHS và
trách nhiệm hành chính đều có hình thức xử lý là cảnh cáo và phạt tiền, nhưng
cảnh cáo và phạt tiền trong luật hình sự khác với cảnh cáo và phạt tiền của hình
thức xử phạt vi phạm hành chính ở chỗ, người bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền trong
luật hình sự luôn gắn liền với hậu quả pháp lý là người đó bị coi là có án tích.
Án tích gắn liền với bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Một người bị coi là còn án tích nghĩa là bản án kết tội đối với người đó vẫn còn
hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp người bị kết án chưa được xóa án tích lại
phạm tội mới thì dấu hiệu án tích có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến
việc giải quyết TNHS của người đó. Người chưa được xóa án tích lại phạm tội
mới có thể bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (Điều 49 BLHS) và với

xác định là tái phạm (khoản 1 Điều 49 BLHS) hay người đã bị kết án về tội rất
nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; đã tái phạm và chưa được xóa
án tích mà lại phạm tội do cố ý thì được xác định là tái phạm nguy hiểm (khoản
2 Điều 49 BLHS). Như vậy, sự bất lợi đó là việc người đang mang án tích có thể
bị áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS được quy định tại Điều 48 BLHS trong
quá trình định khung hình phạt và quyết định hình phạt.

22


Việc mang án tích hay chưa được xóa án tích là dấu hiệu quan trọng để
xem xét hành vi phạm tội của một người có phải là tái phạm hay tái phạm nguy
hiểm hay không và do đó có áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS đối với người
đó hay không. Ví dụ: khoản 1 Điều 93 (Tội giết người) quy định: Người nào giết
người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến
hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình: p) Tái phạm nguy hiểm; điểm đ khoản
2 Điều 112 (Tội hiếp dâm trẻ em); điểm g khoản 2 Điều 113 (Tội cưỡng dâm),…
Từ phương diện nghiên cứu và thực tế xét xử cho thấy, nếu người đang mang án
tích và chưa được xóa án tích nếu phạm tội mới thì tùy theo mức độ nguy hiểm do
hành vi phạm tội gây ra sẽ là căn cứ để xác định việc tái phạm hay tái phạm nguy
hiểm, đó là các tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại Điều 48 BLHS.
Thứ hai: Trong lý lịch tư pháp của người mang án tích và các giấy tờ
chứng thực về nhân thân người đó sẽ ghi “có tiền án”, như vậy rõ ràng án tích như
một “vết nhơ” trong lý lịch của người mang án tích, điều đó có thể dẫn đến việc
kỳ thị của xã hội, cũng như sẽ gây khó khăn cho người mang án tích khi người đó
tham gia vào các giao dịch thương mại, kinh kế hay các hoạt động xã hội,...
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, ở một số lĩnh vực, pháp luật cũng
hạn chế quyền của người đang còn mang án tích. Ví dụ: Tại Điều 17 khoản 4
Luật Luật sư năm 2006 quy định về điều kiện được cấp Chứng chỉ hành nghề
luật sư thì người “đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm do vô ý

là một “tội phạm” đã thực hiện hành vi nguy hiểm và gây ra những hậu quả
nguy hại cho xã hội được Nhà nước và pháp luật bảo vệ.
Tuy nhiên, án tích phản ánh đặc điểm xấu về nhân thân của người bị kết
án và bị áp dụng hình phạt chỉ được hiểu khi người đó đang còn án tích, khi đã
xóa án tích hoặc trong trường hợp đương nhiên được xóa án tích thì việc phạm
tội của họ trước đây không được coi là nhân thân xấu để căn cứ quyết định hình
phạt trong tố tụng hay trong các quan hệ xã hội khác.

24


1.2.3. Bản chất pháp lý của án tích
Từ sự phân tích các đặc điểm cơ bản trên đây của án tích cũng như trên
phương diện lý luận khoa học luật hình sự và thực tiễn áp dụng các quy phạm
pháp luật hình sự về án tích, chúng ta có thể khẳng định bản chất pháp lý của án
tích như sau:
Án tích là một chế định quan trọng trong pháp luật hình sự, việc xóa bo
đi án tích thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta được
quy định trong BLHS, người bị kết án sẽ chấm dứt hoàn toàn TNHS khi người đó
đáp ứng được đầy đủ những điều kiện và yêu cầu của pháp luật hình sự để Tòa
án ra quyết định xóa án tích hay trong trường hợp đương nhiên được xóa án
tích.
1.3. Án tích theo pháp luật hình sự một số nước trên thế giới
1.3.1. Án tích theo quy định của Bộ luật hình sự Liên bang Nga
Bộ luật hình sự Liên bang Nga được Đuma Quốc gia tức Hạ Nghị viện
Nga thông qua ngày 24 tháng 5 năm 1996 và được Hội đồng Liên bang Nga tức
Thượng Nghị viện Nga phê chuẩn ngày 05 tháng 6 năm 1996 là một công cụ hữu
hiệu, sắc bén bảo vệ các quyền và tự do của con người và công dân Nga, chế độ
sở hữu, trật tự an toàn xã hội nước Nga,… Cũng giống như BLHS Việt Nam,
BLHS Liên bang Nga bao gồm hai phần, Phần Chung và Phần riêng (Phần các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status