ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ XUÂN THU
CHẾ ĐỊNH NGƢỜI BÀO CHỮA
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM - LÝ
LUẬN
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI
DƢƠNG
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. ĐỖ THỊ PHƢỢNG
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH NGƢỜI
BÀO CHỮA 7
1.1. NHỮNG NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỊNH NGƢỜI
BÀO CHỮA 7
1.1.1. Khái niệm chế định ngƣời bào chữa 7
1.1.2. Chủ thể bào chữa 10
1.1.3. Đối tƣợng bào chữa 16
1.2. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGƢỜI BÀO CHỮA TRONG TỐ
TỤNG HÌNH SỰ 19
1.2.1. Vị trí của ngƣời bào chữa 19
1.2.2. Vai trò của ngƣời bào chữa 23
1.3. CHẾ ĐỊNH NGƢỜI BÀO CHỮA TRONG MỘT SỐ MÔ HÌNH
TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRÊN THẾ GIỚI 26
1.3.1. Trong mô hình tố tụng tranh tụng 26
1.3.2. Trong mô hình tố tụng xét hỏi 29
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 33
Chương 2: QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHẾ ĐỊNH NGƢỜI BÀO
CHỮA VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH HẢI DƢƠNG 35
2.1. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT
NAM HIỆN HÀNH VỀ CHẾ ĐỊNH NGƢỜI BÀO CHỮA 35
BCVND
: Bào chữa viên nhân dân
BLHS
: Bộ luật hình sự
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT
: Cơ quan điều tra
CQTHTT
: Cơ quan tiến hành tố tụng
HĐXX
: Hội đồng xét xử
LS
: Luật sƣ
NBTG
: Ngƣời bị tạm giữ
TA
: Tòa án
THTT
: Tiến hành tố tụng
TNHS
: Trách nhiệm hình sự
TTHS
: Tố tụng hình sự
VAHS
: Vụ án hình sự
VKS
: Viện Kiểm sát
đến 2013
66
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hiện nay, nƣớc ta đang tiến hành công cuộc cải cách toàn diện về tƣ
pháp hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 và
Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị, trong đó trọng
tâm là mở rộng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử hình sự và mở rộng
hơn nữa quyền của ngƣời bào chữa (NBC), ngƣời bị tạm giữ (NBTG), bị can,
bị cáo. Đây là cơ sở vững chắc để nâng cao hiệu quả bảo đảm tính công bằng
của pháp luật, tính dân chủ, công khai của quá trình giải quyết vụ án hình sự
(VAHS) và bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp, quyền dân chủ cho con
ngƣời, thể hiện nguyên tắc “bảo đảm quyền bào chữa của NBTG, bị can, bị
cáo” đã đƣợc Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) ghi nhận, giúp cho việc giải
quyết vụ án đƣợc chính xác, khách quan, hiệu quả, đúng pháp luật. Đây là
một nguyên tắc không thể thiếu của pháp luật tố tụng hình sự (TTHS), trong
đó chế định NBC là một chế định quan trọng trong việc thực hiện quyền bào
chữa của NBTG, bị can, bị cáo.
Để thực hiện yêu cầu tranh tụng, một trong những biện pháp quan trọng
là phải ghi nhận chế định NBC trong BLTTHS. Trong Hiến pháp, pháp luật
của nƣớc ta nói chung và TTHS nói riêng đã có các qui định thể chế hóa
quyền, nghĩa vụ của NBC. Tuy nhiên, cho đến nay trong lý luận và thực tiễn
Luật sư trong hoạt động tranh tụng” và “Bảo đảm quyền bào chữa của người
bị buộc tội” của PGS.TS.LS. Phạm Hồng Hải; “Vai trò của Luật sư trong tố
tụng hình sự” của TS. Nguyễn Văn Tuân; “Hành nghề Luật sư trong vụ án
hình sự” của TS.LS. Phan Trung Hoài; “Về chế định người bào chữa” của TS.
Đinh Văn Quế; “Mô hình TTHS Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”
của TS. Dƣơng Thanh Biểu; “Vấn đề tranh tụng trong hoạt động TTHS và
việc thể chế hóa trong quá trình hoàn thiện BLTTHS Việt Nam” của TS. Lê
Hữu Thể; “Mô hình TTHS Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của
PGS. TS Nguyễn Thái Phúc,…
3
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu chủ yếu đƣa ra các nguyên tắc bảo đảm
quyền bào chữa của bị can, bị cáo, về vai trò của một chủ thể bào chữa đó là
LS mà ít có các công trình khoa học nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện,
thống nhất và hệ thống về khái niệm chế định NBC, chủ thể, đối tƣợng bào
chữa, đặc biệt là chƣa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về chế định
Trợ giúp viên pháp lý với tƣ cách là một chủ thể bào chữa mặc dù chế định
này đã đƣợc qui định trong Luật Trợ giúp pháp lý từ năm 2006.
Nhƣ vậy, tình hình nghiên cứu trên đây cho phép một lần nữa khẳng
định việc nghiên cứu đề tài “Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng
hình sự Việt Nam - Lý luận và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hải
Dương” là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực
tiễn. Đây là một trong những vấn đề có nội dung phong phú và phức tạp cần
tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn nữa trong khoa học
TTHS cũng nhƣ thực tiễn áp dụng ở nƣớc ta hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của của Luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu các qui định của pháp luật TTHS và các văn bản pháp
3.4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của Luận văn là các quan điểm khoa học và
những qui định của pháp luật TTHS Việt Nam và các văn bản pháp luật
khác có liên quan đến chế định NBC, những tƣ liệu thực tiễn của các
CQTHTT, Đoàn LS, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nƣớc trên địa bàn tỉnh
Hải Dƣơng. Bên cạnh đó, những văn bản pháp luật của một số nƣớc trên
thế giới có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu cũng đƣợc đề cập
nhằm làm sáng tỏ chế định NBC.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của Luận văn: là quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về
chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, tƣ tƣởng của Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về cải cách tƣ pháp đƣợc thể hiện
5
trong Nghị quyết số 08[21] và Nghị quyết số 49[22], Hiến pháp năm 2013.
Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng, kế thừa các thành tựu khoa học của chuyên
ngành pháp lý, luận điểm nghiên cứu của các nhà luật học, các công trình
nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết chuyên ngành pháp lý đƣợc đăng
trên các sách, báo, tạp chí, các trang báo điện tử về chế định NBC trong TTHS.
Cơ sở thực tiễn của Luận văn: dựa trên cơ sở nghiên cứu các qui định
của pháp luật TTHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan, các tƣ liệu
thực tiễn của các CQTHTT, Đoàn LS, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nƣớc
trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng trong việc áp dụng chế định NBC.
Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phƣơng pháp duy vật biện chứng,
phƣơng pháp duy vật lịch sử và để thực hiện tốt những nhiệm vụ đặt ra của đề
tài, những phƣơng pháp chung đƣợc áp dụng để nghiên cứu là: phân tích, tổng
hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu, diễn dịch, quy nạp, khảo sát thực tế,…
5. Những kết quả nghiên cứu mới của Luận văn
7. Bố cục của Luận văn
Bố cục của Luận văn đƣợc xây dựng phù hợp với mục đích, đối tƣợng
và phạm vi nghiên cứu. Ngoài phần Mục lục, Danh mục các từ viết tắt, Danh
mục các bảng, Mở đầu, Kết luận, Danh mục các tài liệu tham khảo, Luận văn
gồm 3 chƣơng với kết cấu nhƣ sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về chế định ngƣời bào chữa
Chương 2: Qui định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành về chế
định NBC và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Hải Dƣơng
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các qui
định của pháp luật TTHS về chế định NBC
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH NGƢỜI BÀO CHỮA
1.1. NHỮNG NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỊNH NGƢỜI
BÀO CHỮA
1.1.1. Khái niệm chế định ngƣời bào chữa
NBC là một chế định quan trọng trong pháp luật TTHS Việt Nam, cho
đến nay vẫn cần đƣợc làm sáng tỏ về mặt lý luận làm tiền đề cho việc thực
hiện nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của NBTG, bị can, bị cáo”. Tuy
nhiên, trong khoa học pháp lý và thực tiễn TTHS hiện nay, chƣa có khái niệm
thống nhất về chế định này, nên vẫn tồn tại nhiều cách hiểu và quan điểm
khác nhau thể hiện trong các sách chuyên khảo, giáo trình, các bài báo, tạp chí
cũng nhƣ trong qui định của pháp luật TTHS. Để đƣa ra khái niệm khoa học
về chế định NBC chúng ta cần hiểu đƣợc khái niệm chế định pháp luật và
khái niệm NBC. “Chế định pháp luật bao gồm một số quy phạm có những
đặc điểm chung giống nhau nhằm để điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội
Vì vậy, theo chúng tôi một khái niệm đầy đủ về NBC phải thể hiện
đƣợc các đặc điểm về NBC và phạm vi đối tƣợng bào chữa nhƣ sau:
Thứ nhất, NBC là người tham gia tố tụng. Đặc điểm này nhằm phân
biệt NBC với ngƣời THTT. Bởi ngƣời THTT là ngƣời nhân danh và sử dụng
quyền lực nhà nƣớc để giải quyết VAHS. NBC chỉ là ngƣời tham gia làm
sáng tỏ những tình tiết của vụ án, giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
NBTG, bị can, bị cáo, không phải là ngƣời trực tiếp giải quyết VAHS.
Thứ hai, NBC tham gia tố tụng với mục đích đưa ra những tình tiết xác
định người bị bắt, NBTG, bị can, bị cáo, người bị kết án vô tội, những tình tiết
giảm nhẹ TNHS đối với họ và giúp đỡ họ về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ. Đặc điểm này xác định nhiệm vụ, mục đích tham
gia tố tụng của NBC đối với đối tƣợng bào chữa. Theo chúng tôi, nên mở
rộng phạm vi đối tƣợng bào chữa không chỉ bao gồm NBTG, bị can, bị cáo
nhƣ trong qui định của BLTTHS hiện hành mà bao gồm cả ngƣời bị bắt cho
9
phù hợp với qui định của Hiến pháp năm 2013 và ngƣời bị kết án nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ trong giai đoạn thi hành án.
Thứ ba, NBC là người được các CQTHTT chứng nhận thông qua việc
cấp Giấy chứng nhận NBC. Đặc điểm này đƣợc qui định tại khoản 4 Điều 56
BLTTHS năm 2003.
Thứ tư, NBC là người đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật qui
định. Bởi không phải bất cứ ai cũng có thể tham gia tố tụng với tƣ cách là
NBC. Theo qui định của pháp luật thì các điều kiện đó là:
- Phải đƣợc NBTG, bị can, bị cáo hoặc ngƣời đại diện hợp pháp của họ,
những ngƣời khác đƣợc họ ủy quyền mời [43, khoản 1 Điều 57]; [32, điểm 2
Mục II]; đƣợc CQTHTT yêu cầu Đoàn LS phân công Văn phòng LS cử NBC
cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên
1.1.2. Chủ thể bào chữa
Một là, Luật sư
Luật sƣ là ngƣời có đủ điều kiện hành nghề theo qui định của pháp luật,
tham gia tố tụng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức [45, Điều 2] nhằm bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đó theo qui định của pháp luật.
Hoạt động bào chữa của LS có tính chất chuyên nghiệp [58, tr. 137]. Tiêu
chuẩn để trở thành LS phải: là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc,
tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng Cử nhân
Luật, đã đƣợc đào tạo nghề LS, đã qua thời gian tập sự hành nghề LS, có sức
khỏe bảo đảm hành nghề LS [45, Điều 10]. Ngƣời có đủ tiêu chuẩn nói trên
muốn đƣợc hành nghề LS phải có Chứng chỉ hành nghề LS và gia nhập một
Đoàn LS [45, Điều 11]. LS có thể tham gia TTHS với tƣ cách NBC theo hợp
đồng dịch vụ pháp lý hoặc theo yêu cầu của CQTHTT.
- Với tƣ cách là NBC theo hợp đồng dịch vụ pháp lý: Tại Điều 26 Luật
LS năm 2006 qui định: LS thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ
pháp lý, trừ trƣờng hợp LS tham gia tố tụng theo yêu cầu của CQTHTT và LS
hành nghề với tƣ cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan,
11
tổ chức. NBTG, bị can, bị cáo có thể làm giấy trực tiếp yêu cầu và ký hợp
đồng với LS mà mình chọn. Đối với NBTG, bị can, bị cáo không thể gặp trực
tiếp LS, thì ngƣời thân thích của họ có thể làm giấy yêu cầu LS và ký hợp
đồng dịch vụ pháp lý với LS. Trong những trƣờng hợp này nhất thiết phải có
sự đồng ý của NBTG, bị can, bị cáo. Nếu NBTG, bị can, bị cáo đồng ý lựa
chọn NBC, CQTHTT xem xét, cấp Giấy chứng nhận NBC cho LS để thực
hiện việc bào chữa [45, Điều 27];
- Với tƣ cách là NBC theo yêu cầu của CQTHTT: Tại khoản 2 Điều 57
BLTTHS năm 2003 qui định: trong một số trƣờng hợp bắt buộc nếu bị can, bị
Nội dung hƣớng dẫn trên chứa đựng sự mâu thuẫn khi khẳng định ngƣời
thân thích của bị cáo không phải là NBC nhƣng sau đó lại cho phép ngƣời thân
thích của bị cáo có quyền tham gia TTHS để bào chữa cho bị cáo. Hơn nữa,
hƣớng dẫn này không làm rõ ngƣời thân thích của bị cáo là ai [2]. Một số qui
định khác trong BLTTHS hiện hành và Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán
TA nhân dân tối cao có nhắc tới ngƣời đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị
cáo [43, Điều 231]; [33, điểm 1 Mục I] nhƣng vẫn không qui định cụ thể hoặc
khái niệm ngƣời đại diện hợp pháp cho NBTG, bị can, bị cáo.
Hiện nay, trong khoa học pháp lý và thực tiễn TTHS vẫn tồn tại các quan
điểm khác nhau về ngƣời đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo dẫn đến
cách áp dụng khác nhau trên thực tế. Có quan điểm cho rằng ngƣời đại diện
hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo là ngƣời đại diện theo pháp luật. Nhƣng
cũng có quan điểm cho rằng ngƣời đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo
có thể là ngƣời đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền.
Đối với ngƣời đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo, BLTTHS
năm 2003 không quy định cụ thể là những ngƣời nào nhƣng theo quy định
của Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ có ngƣời chƣa thành niên, ngƣời mất năng
lực hành vi dân sự mới có ngƣời đại diện hợp pháp đƣơng nhiên (nếu không,
13
phải có ủy quyền hợp pháp). Tuy nhiên, rất hiếm hoặc có thể nói chƣa có
trƣờng hợp nào cha, mẹ hay ngƣời giám hộ của ngƣời chƣa thành niên, ngƣời
có nhƣợc điểm về thể chất hoặc tâm thần đƣợc tham gia bào chữa, đặc biệt từ
giai đoạn điều tra bởi lẽ họ sẽ vừa mang tƣ cách của ngƣời đại diện, ngƣời
giám hộ, vừa mang tƣ cách của NBC. Trƣờng hợp nếu ngƣời đại diện hợp
pháp của NBTG, bị can, bị cáo là ngƣời đại diện theo pháp luật và đại diện
trong trƣờng hợp NBTG, bị can, bị cáo là ngƣời ngƣời chƣa thành niên, ngƣời
có nhƣợc điểm về thể chất hoặc tâm thần nếu họ không tham gia tố tụng với
không? Pháp luật TTHS chƣa qui định đối với trƣờng hợp này. Do đó, mỗi
nơi thực hiện khác nhau. Hiện nay, chƣa quy định cụ thể điều kiện để
BCVND đƣợc cấp Giấy chứng nhận NBC, thực tế có không ít BCVND không
am hiểu pháp luật, họ bào chữa cho thành viên của tổ chức mình nhƣng bản
thân cũng không hiểu việc bào chữa đó có đúng pháp luật không. Còn ngƣời
đƣợc bào chữa cũng không biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình có đƣợc
đảm bảo không nếu BCVND đứng ra bào chữa cho mình? Họ khó từ chối vì
họ là thành viên của tổ chức đó.
Căn cứ vào hƣớng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TA nhân dân tối cao
tại Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 về quy định tại khoản
2 Điều 57 BLTTHS năm 2003 thì một ngƣời đƣợc coi là BCVND khi ngƣời
đó đƣợc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận
cử NBC cho thành viên của tổ chức mình.
Theo qui định tại Khoản 1 Điều 6 Thông tƣ 70/2011/TT-BCA ngày
10/10/2011 của Bộ Công an thì thủ tục cấp Giấy chứng nhận NBC đối với
BCVND là phải có giấy tờ chứng minh là thành viên của Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử đến; Giấy Giới thiệu của
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận nơi
NBTG, bị can là thành viên. Nhƣ vậy, nếu hiểu theo qui định của BLTTHS
năm 2003 và Thông tƣ 70 thì chúng ta có thể hiểu BCVND cũng chính là
15
thành viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hoặc tổ chức thành viên
của Mặt trận, phạm vi tham gia bào chữa hẹp hơn so với NBC là LS (họ chỉ
tham gia bào chữa cho NBTG, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình).
BCVND tham gia TTHS trong trƣờng hợp theo yêu cầu của CQTHTT hoặc
do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử để
bào chữa cho NBTG, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình.
NBTG, bị can, bị cáo là chủ thể của một bên tranh tụng, họ là ngƣời bị buộc
tội trực tiếp, họ có quyền nhƣng không buộc phải chứng minh mình vô tội
[43, Điều 10]. Khi tham gia tố tụng để bào chữa cho sự vô tội hoặc làm giảm
nhẹ TNHS cho bản thân, đồng thời những lý lẽ họ đƣa ra cũng là chứng cứ
quan trọng cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Chỉ có họ là ngƣời
đã thực hiện hoặc không thực hiện hành vi phạm tội nên mới hiểu chính xác,
đầy đủ những tình tiết có hoặc không liên quan đến vụ án. Do đó, sự tham gia
tố tụng với tƣ cách là một chủ thể bào chữa (tự bào chữa) thì họ mới thực hiện
quyền bào chữa một cách khách quan, toàn diện và chính xác nhất. Mặc dù
vậy, nhƣng đa số các chủ thể này là những ngƣời có nhận thức pháp luật hạn
chế nên việc tự bào chữa gặp nhiều khó khăn, không ít trƣờng hợp làm tăng
nặng hành vi do mình thực hiện. Do đó, cần thiết phải có ngƣời trợ giúp về
mặt pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ đó là NBC.
1.1.3. Đối tƣợng bào chữa
Theo qui định của BLTTHS hiện hành thì đối tƣợng bào chữa bao gồm:
NBTG, bị can, bị cáo. Những đối tƣợng này vừa là chủ thể bào chữa vừa là
đối tƣợng bào chữa. Là chủ thể bào chữa khi họ tự bào chữa trƣớc các
CQTHTT, là đối tƣợng bào chữa khi họ nhờ ngƣời khác bào chữa.
* Người bị tạm giữ:
NBTG là một trong những đối tƣợng bào chữa mà chủ thể bào chữa
hƣớng tới. NBTG là ngƣời bị bắt trong trƣờng hợp khẩn cấp, phạm tội quả
tang, ngƣời bị bắt theo quyết định truy nã hoặc ngƣời phạm tội tự thú, đầu thú.
NBTG có quyền tự bào chữa hoặc nhờ ngƣời khác bào chữa [43, Điều 48].
17
NBTG là ngƣời đã có quyết định tạm giữ. NBTG có thể là ngƣời chƣa
bị khởi tố về hình sự, đó là những ngƣời bị bắt trong trƣờng hợp khẩn cấp
hoặc phạm tội quả tang, trƣờng hợp ngƣời phạm tội tự thú trƣớc khi hành vi
quyết định khởi tố bị can. Bị can tham gia vào giai đoạn điều tra, truy tố và
một phần giai đoạn xét xử sơ thẩm [58, tr.120]. Bị can có quyền tự bào chữa
hoặc nhờ ngƣời khác bào chữa [43, Điều 49]. Trong quá trình giải quyết
VAHS đối với bị can, nếu vì lý do nào đó ngƣời THTT không vô tƣ, khách
quan hoặc do trình độ, năng lực hạn chế sẽ dẫn đến việc dùng các biện pháp
trái luật nhƣ: ép cung, mớm cung, dùng nhục hình buộc bị can phải khai báo
theo ý muốn chủ quan của ngƣời THTT. Vì vậy, việc tham gia của NBC để
giúp đỡ họ về mặt pháp lý là rất cần thiết. Trong trƣờng hợp này bị can trở
thành đối tƣợng bào chữa.
* Bị cáo:
Bị cáo là ngƣời bị TA quyết định đƣa ra xét xử. Bị cáo tham gia tố tụng
từ khi có quyết định đƣa vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của
TA có hiệu lực pháp luật. Cũng nhƣ khái niệm bị can, bị cáo cũng là khái
niệm mang tính hình thức, căn cứ vào văn kiện tố tụng đƣợc áp dụng đối với
ngƣời đó. Một ngƣời sẽ trở thành bị cáo khi bị TA quyết định đƣa ra xét xử,
quyết định đó có thể đúng hoặc trái pháp luật. Vì vậy, khái niệm bị cáo không
đồng nghĩa với khái niệm chủ thể tội phạm. Trên thực tế bị cáo có thể không
phải là chủ thể của tội phạm và ngƣợc lại. Bị cáo chƣa chắc đã phải là ngƣời
có tội, bị cáo trở thành ngƣời có tội nếu sau khi xét xử, họ bị TA ra bản án kết
tội và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật [58, tr.124]. Hầu hết các nƣớc tiên
tiên trên thế giới qui định bị cáo phải có NBC, nếu bị cáo hoặc ngƣời thân
thích của bị cáo không nhờ NBC thì TA yêu cầu. Điều đó chứng minh rằng bị
cáo khi bị truy tố ra TA rất cần sự trợ giúp của NBC giúp chứng minh sự vô
tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS đối với họ bởi sự tham gia của NBC ở giai đoạn
xét xử rất quan trọng vì nó quyết định số phận pháp lý của bị cáo. Khi đó, bị
cáo là đối tƣợng bào chữa mà NBC hƣớng đến.