Biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm lý luận và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 31

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHAN VIT HNG

BIệN PHáP NGĂN CHặN TRONG GIAI ĐOạN
XéT Xử SƠ THẩM - Lý LUậN Và THựC TIễN
áP DụNG TRÊN ĐịA BàN THàNH PHố Hà NộI

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2014


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHAN VIT HNG

BIệN PHáP NGĂN CHặN TRONG GIAI ĐOạN
XéT Xử SƠ THẩM - Lý LUậN Và THựC TIễN
áP DụNG TRÊN ĐịA BàN THàNH PHố Hà NộI
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: PGS. TS. Nguyn Ngc Chớ

H NI - 2014


Đặc điểm, ý nghĩa, căn cứ việc áp dụng biện pháp ngăn chặn
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm ...................................................... 14

1.2.1

Đặc điểm của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai
đoạn xét xử ...................................................................................... 14

1.2.2

Mục đích- Ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm .................................................................. 21

1.2.3.

Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm ....... 27

1.3.

Những biện pháp ngăn chặn được quy định trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm ................................................................................ 32

1.3.1. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bắt người ............ 32
1.3.2.

Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm giam .... 35

1.3.3. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về cấm đi khỏi
nơi cư trú ........................................................................................ 39
1.3.4. Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp

Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn ...................................................................... 59

3.2.1. Tòa án cấp sơ thẩm cần nhận thức đúng đắn về việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn ........................................................................ 59
3.2.2. Hoàn thiện hệ thống những quy định của pháp luật có liên quan
đến việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn ....................................... 61
3.2.3. Cơ quan tiến hành tố tụng cần thực hiện tốt những qui định của
pháp luật về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự ............. 72
3.2.4. Nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ và đảm bảo các điều kiện
công tác nhằm thực hiện tốt việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn ...... 76
3.2.5. Giải pháp về tăng cường công tác chỉ đạo và kiểm sát, kiểm tra
việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự và tuyên truyền giáo dục pháp luật cho quần chúng
nhân dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật là điều kiện để
bảo đảm việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn. .............................. 78


3.2.6. Giải pháp về việc xử lý các trường hợp vi phạm .............................. 81
Kết luận chương 3 ...................................................................................... 87
KẾT LUẬN ................................................................................................. 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 91


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Nội dung

BLHS


NQ

Nghị quyết

NXB

Nhà xuất bản

SL

Sắc lệnh

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao

TTHS

Tố tụng hình sự

TW

Trung ương

UBTVQH

Ủy ban thường vụ quốc hội

VKS


50


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Các biện pháp ngăn chặn (BPNC) là những chế định vô cùng quan
trọng được quy định tại BLTTHS. Việc quy định và áp dụng đúng đắn các
BPNC trong thực tế hoạt động tố tụng sẽ tác động rất lớn đến việc giải
quyết có hiệu quả nhiệm vụ của luật tố tụng hình sự (TTHS) là phát hiện
nhanh chóng và xử lý kịp thời, công minh đối với những hành vi nguy
hiểm cho xã hội, ngăn chặn không cho tội phạm tiếp tục được thực hiện,
đồng thời không làm oan người vô tội, bảo đảm được các quyền và lợi ích
hợp pháp của mọi công dân.
Trải qua quá trình lịch sử lập pháp từ sau khi giành được chính quyền
lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, những BPNC cũng đã được Nhà
nước ta quy định rải rác hoặc xen kẽ trong một số văn bản về hình sự hoặc tố
tụng hình sự như các Lệnh, Sắc lệnh, Luật, Sắc luật… và các bản Hiến pháp
năm 1946, 1959, 1980 cũng đều có quy định về quyền cơ bản của công dân.
Tuy nhiên, những chế định về BPNC chỉ được quy định chi tiết, cụ thể ở lần
pháp điển hóa đầu tiên BLTTHS năm 1988 (được Quốc hội thông qua ngày
29 tháng 6 năm 1988 và sau đó được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990.
1992 và 2000) tại Chương V. Đến lần pháp điển hóa thứ 2 vào năm 2003, chế
định BPNC được quy định tại Chương VI của BLTTHS. Về các BPNC và căn
cứ áp dụng các BPNC, Điều 79 BLTTHS năm 2003 cơ bản vẫn giữ nguyên
như quy định tại Điều 61 BLTTHS năm 1988, đó là:
Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ
bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc
sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ

Có thể nói, BPNC là một đặc thù của tố tụng hình sự. Trong đó biện
pháp bắt, tạm giữ, tạm giam là những biện pháp có ý nghĩa rất quan trọng, là

2


vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị - xã hội, nó tác động trực tiếp đến
quyền con người, quyền tự do đi lại, quyền bất khả xâm phạm về thân thể của
công dân. Việc bị áp dụng những biện pháp đó đồng thời ảnh hưởng đến sinh
mạng chính trị, danh dự, uy tín của con người và cả dư luận xã hội.
Ở mỗi giai đoạn tố tụng hình sự, việc áp dụng BPNC nào là thuộc thẩm
quyền của cơ quan THTT ở giai đoạn đó. Thực tiễn xét xử cho thấy, khi hồ sơ
vụ án hình sự do VKS chuyển đến, thông thường Tòa án vẫn tiếp tục áp dụng
BPNC do cơ quan THTT trước đó áp dụng, ví dụ như trước đó bị can đang bị
tạm giam mà tính đến ngày xét xử thời hạn tạm giam đã hết thì Tòa án ra
Lệnh tạm giam, nếu trước đó bị can được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi
cư trú thì Tòa án vẫn tiếp tục áp dụng biện pháp này, rất ít khi Tòa án áp dụng
biện pháp ngăn chặn khác.
Mặc dù BLTTHS quy định về các BPNC như vậy nhưng thực tế các cơ
quan THTT và đặc biệt là Tòa án rất ít khi áp dụng 2 BPNC là bảo lĩnh và đặt
tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Đối với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư
trú thì Tòa án thường áp dụng trong trường hợp trước đó bị can, bị cáo đang
được áp dụng biện pháp này hoặc Tòa án hủy bỏ biện pháp tạm giam do cơ
quan THTT trước đó áp dụng và thay thế bằng biện pháp này.
Về thẩm quyền áp dụng BPNC của Tòa án, các biện pháp bắt và tạm
giam (để bảo đảm cho việc xét xử và thi hành án), tạm giam, cấm đi khỏi nơi
cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là các biện pháp
được áp dụng ở giai đoạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa
cũng có thể quyết định bắt giữ đối với người gây rối trật tự tại phiên tòa
(nhưng đây là chỉ là biện pháp xử lý hành chính trong tố tụng hình sự) hoặc

thiết và tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật, nếu không thực sự ảnh
hưởng đến việc xét xử và thi hành án thì không cần bắt tạm giam. Trong
trường hợp bị cáo bị xử phạt tù thì sau khi bản án có hiệu lực pháp luật sẽ bắt
bị cáo chấp hành hình phạt trong trại giam (vì chế độ giam giữ đối với người
chấp hành hình phạt tù khác với chế độ tạm giam). Mặt khác, trong quá trình

4


chuẩn bị xét xử đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam, qua nghiên cứu hồ sơ,
nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam (do bị cáo có thể được
hưởng chế định án treo theo quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự hoặc có thể
bị xử phạt không phải là hình phạt tù) thì Tòa án có thể quyết định hủy bỏ
biện pháp tạm giam và thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn khác mà
không nhất thiết phải đợi xét xử để trả tự do cho bị cáo (mặc dù thời gian tạm
giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt nhưng như vậy
cũng không có lợi cho bị cáo).
Tuy nhiên, đối với 2 BPNC là bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị
để bảo đảm thì gần như không được các cơ quan THTT áp dụng. Các cơ quan
THTT thường "ngại" khi áp dụng 2 biện pháp này, có thể một phần là do chưa
có sự hướng dẫn cụ thể, chi tiết từ các cơ quan có thẩm quyền. Đây là 2
BPNC có thể được áp dụng để thay thế biện pháp tạm giam và có thể nói đây
là 2 biện pháp ít nghiêm khắc hơn tạm giam, được áp dụng trong trường hợp
không cần thiết phải tạm giam, nhưng thấy cần phải ngăn ngừa bị can, bị cáo
tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập
của cơ quan THTT.
Trong xu thế phát triển chung của thế giới cũng như việc thực hiện tinh
thần chỉ đạo của Đảng, Tòa án cần phát huy hơn nữa vai trò và vị trí của mình
trong công cuộc cải cách tư pháp, đặc biệt là cần chủ động, mạnh dạn trong
việc áp dụng các BPNC không phải là tạm giam, nhất là đối với những tội

giai đoạn xét xử sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội với thực trạng áp dụng
chúng, nghiên cứu nguyên nhân của những bất cập, vướng mắc trong quá trình
áp dụng lý luận vào thực tiễn, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp
luật thực định về các BPNC do Tòa án áp dụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Về thời gian, luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các BPNC trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội từ khi BLTTHS có
hiệu lực đến hết năm 2012.
4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật;

8


- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu khoa học xã hội và khoa học pháp lý cụ thể phù hợp với yêu
cầu của từng vấn đề nghiên cứu như: phương pháp phân tích tài liệu, nghiên
cứu lịch sử, tổng hợp, so sánh, thống kê Tư pháp…
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Điểm mới của luận văn thể hiện ở chỗ: đây là lần đầu tiên, các BPNC
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm được nghiên cứu một cách hệ thống và toàn
diện, kết quả của quá trình nghiên cứu không những tìm ra các nhược điểm
trong công tác xây dựng và thực thi pháp luật mà còn đưa ra được những kiến
nghị đề xuất nhằm góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật
TTHS, góp phần thúc đẩy việc áp dụng các quy định về các BPNC trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vào thực tiễn thực thi pháp luật được nghiêm minh,
chính xác, áp dụng đúng pháp luật, bảo đảm quyền con người đến mức tối đa
trong chế độ dân chủ của chúng ta.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về những vấn đề lý luận và thực

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM

1.1. Khái quát về giai đoạn xét xử sơ thẩm
Xét xử sơ thẩm là một trong những giai đoạn của Tố tụng hình sự,
trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án,
quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật về tội phạm và hành vi của
người thực hiện tội phạm. Vì vậy, xét xử là giai đoạn trung tâm của TTHS.
Quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn khác nhau,
trong đó có thể nói giai đoạn xét xử là giai đoạn giữ vai trò quan trọng. Tại
phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện những chứng cứ được kiểm tra
công khai và những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ, Tòa án xác định
một người có tội hay không có tội; nếu bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì
đó là tội gì, được qui định tại điều khoản nào trong Bộ luật hình sự. Ngoài
việc ra bản án, Tòa án còn có quyền ra các quyết định cần thiết khác nhằm
giải quyết vụ án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, theo nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét
xử, bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị
theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn luật định mà không có kháng cáo
kháng nghị thì bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật nhưng nếu bị
kháng cáo kháng nghị thì vụ án sẽ được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Như vậy, có thể nói xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu do Tòa án cấp có
thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật (ngoại trừ một số trường
hợp xét xử sơ thẩm nhưng không phải lần đầu do vụ án sau khi xét xử xong bị
hủy và buộc phải điều tra hoặc xét xử sơ thẩm lại); được tiến hành sau khi
Tòa án nhận được Cáo trạng quyết định truy tố bị can (Quyết định truy tố bị

11




luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội, nâng cao ý thức đấu tranh
phòng ngừa và chống tội phạm cũng như các vi phạm pháp luật khác.
Với vai trò và ý nghĩa đặc biệt như trên, việc xác định thẩm quyền xét
xử sơ thẩm của Tòa án có ý nghĩa quan trọng và là cơ sở để xác định thẩm
quyền xét xử Tòa án trong các giai đoạn tiếp theo.
Thẩm quyền của Tòa án theo nghĩa chung nhất được hiểu là quyền xem
xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Khi xét xử, Tòa án ra bản
án nhân danh Nhà nước và Bản án của Tòa án cụ thể đường lối, chính sách,
quan điểm của Nhà nước đối với xử lý người có hành vi phạm tội.
Trong Luật tố tụng hình sự, theo nghĩa rộng, thẩm quyền xét xử của
Tòa án bao gồm quyền xem xét và giải quyết và quyền giải quyết vụ án, ra
bản án hoặc các quyết định khác như quyết định đình chỉ vụ án, quyết định
tạm đình chỉ vụ án…Theo đó, thẩm quyền của Tòa án bao gồm hai yếu tố có
liên quan chặt chẽ với nhau là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội
dung. Thẩm quyền về hình thức là quyền xem xét và phạm vi xem xét hay nói
cách khác là giới hạn xét xử của Tòa án; thẩm quyền nội dung là quyền hạn
giải quyết, quyết định của Tòa án đối với những vấn đề được xem xét.
Thẩm quyền xét xử của Tòa án cần phải dựa vào các căn cứ sau:
- Đường lối, chính sách của Đảng;
- Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội;
- Trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ của Thẩm phán cũng như Điều tra
viên, Kiểm sát viên;
- Biên chế và cơ sở vật chất;
- Tình hình phạm tội và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm…
Dựa vào những căn cứ trên, tại Phần thứ ba-chương XV-Bộ luật tố tụng
hình sự quy định về Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án theo sự việc, theo
lãnh thổ và theo đối tượng.


14


ngăn chặn quy định trong luật tố tụng hiện hành. Cách gọi đó không phản ánh
chính xác nội dung, phạm vi và mục đích của biện pháp ngăn chặn vì ngoài
biện pháp ngăn chặn thì biện pháp cưỡng chế của Tố tụng hình sự còn có các
biện pháp khác như: biện pháp điều tra thu thập chứng cứ, biện pháp bảo đảm
cho việc giải quyết vụ án...
Luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định hệ thống các biện pháp ngăn
chặn tương đối đầy đủ bao gồm: “bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư
trú, bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo” [26, Điều 61]. Năm 2003, Bộ
luật tố tụng hình sự sửa đổi, bổ sung vẫn kế thừa và giữ nguyên các biện pháp
ngăn chặn được quy định trong luật tố tụng hình sự năm 1988.
Những biện pháp ngăn chặn được áp dụng với mục đích ngăn chặn
không cho tội phạm xảy ra gây thiệt hại cho xã hội, không để người phạm tội
tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật, đồng thời, việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn còn nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan tiến
hành tố tụng giải quyết vụ án như không để người phạm tội có thể xóa bỏ dấu
vết phạm tội, tiêu hủy chứng cứ, làm giả chứng cứ, thông cung giữa những
người phạm tội hoặc người làm chứng, đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo,
bị án khi có yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng... Với mục đích như vậy,
biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự khác với biện pháp cưỡng chế khác
và hình phạt trong Luật hình sự.
Biện pháp cưỡng chế của Luật tố tụng hình sự là những biện pháp bảo
đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự nhanh
chóng, khách quan theo quy định của pháp luật hình sự. Biện pháp cưỡng chế
mà Luật tố tụng hình sự quy định bao gồm: các biện pháp ngăn chặn, các biện
pháp thu thập chứng cứ như: khám xét nhà, đồ vật, thư tín, xét hỏi bị can, lấy
lời khai người làm chứng, nhận dạng đối chất...Những biện pháp bảo đảm cho

phạm tội quả tang hoặc người mà cơ quan tiến hành tố tụng có tài liệu, chứng

16


cứ nghi họ phạm tội. Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn các cơ quan có
thẩm quyền chỉ được tiến hành trong phạm vi, giới hạn cũng như thủ tục mà
Luật tố tụng hình sự quy định. Ngoài các đối tượng kể trên không ai có thể bị
áp dụng các biện pháp ngăn chặn, mọi hành vi áp dụng các biện pháp ngăn
chặn không đúng đối tượng, thẩm quyền, căn cứ cũng như thủ tục đều bị coi
là vi phạm pháp luật, người có hành vi vi phạm pháp luật tuy theo tính chất và
mức độ có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn là những người tiến
hành tố tụng có thẩm quyền của các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án
hoặc những người có chức vụ trong các cơ quan khác được giao thực hiện
một số hoạt động tố tụng, công dân tham gia vào việc bắt người phạm tội quả
tang. Tùy theo tính chất, đặc điểm của từng giai đoạn tố tụng, chức năng,
nhiệm vụ của các cơ quan, Luật tố tụng hình sự quy định cho cơ quan đó được
áp dụng tất cả hay một số các biện pháp ngăn chặn và trong phạm vi, giới hạn
cũng như theo thủ tục của Luật tố tụng hình sự.
Nội dung của các biện pháp ngăn chặn là hạn chế quyền tự do thân thể,
tự do đi lại, quyền về tài sản... trong một thời gian, do vậy ảnh hưởng đến các
quyền cơ bản cơ bản của công dân, đặc biệt là quyền tự do thân thể được quy
định trong Hiến pháp. Vì vậy, so với các biện pháp cưỡng chế khác của Tố
tụng hình sự thì biện pháp ngăn chặn có tính nghiêm khắc hơn nên khi áp
dụng các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải cân nhắc thận trọng, tránh áp
dụng tràn lan, tùy tiện, gây thiệt hại lợi ích hợp pháp của công dân. Luật tố
tụng hình sự nước ta quy định các biện pháp ngăn chặn nhằm mục đích ngăn
chặn tội phạm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án nhưng cũng
đồng thời đòi hỏi khi áp dụng các cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status