LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, mọi quốc gia trên thế giới đều chú trọng đến mục tiêu tăng trưởng và phát triển
bền vững, Việt Nam đang trong quá trình phát triển nhanh chóng, bắt kịp dần với các nước
trên thế giới. Để tiếp tục duy trì đà tăng trưởng đó cần coi hoạt động đầu tư là ưu tiên hàng
đầu bởi lẽ chỉ có đầu tư mới chuyển hóa được các nguồn lực thành kết quả tăng trưởng.
Đầu tư không chỉ trực tiếp tạo ra của cải vật chất, thúc đẩy tăng trưởng về số lượng mà còn
là cơ sở để nâng cao trình độ khoa học công nghệ, chuyển dịch cơ cấu sản suất, tạo công ăn
việc làm, giải quyết các vấn đề xã hội, qua đó tạo ra mặt chất của tăng trưởng. Đầu tư cũng
là công cụ tăng cường hợp tác kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới, bổ sung vốn cho nhu
cầu đầu tư của các nước đang phát triển. Đối với một nước có xuất phát điểm thấp như
Việt Nam thì hoạt động đầu tư càng trở nên quan trọng vì nó đóng vai trò tạo đà cho sự
tăng trưởng ban đầu.
Bài toán về vốn đầu tư luôn là một vấn đề quan trọng và là mối quan tâm hàng đầu của mọi
quốc gia trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.Trong giai đoạn hiện nay không chỉ
nguồn vốn trong nước mà cả nguồn vốn bên ngoài đều là yếu tố quyết định cho sự thành
công của Việt Nam. Nhưng câu hỏi đặt ra ở đây đó là lấy vốn ở đâu, thu hút nó như thế nào
và làm sao để sử dụng nó có hiệu quả? Đây cũng chính là mục tiêu hàng đầu của Trung
tâm xúc tiến đầu tư Hà Nội - đơn vị trực thuộc Sở Kế Hoạch – Đầu tư Hà Nội.
Là sinh viên năm cuối Khoa Đầu tư - trường Đại học Kinh tế quốc dân, tôi quyết định
chọn Trung tâm xúc tiến đầu tư Hà Nội – thuộc Sở Kế hoạch – Đầu tư Hà Nội làm nơi
thực tập để lấy kinh nghiệm thực tế trước khi ra trường và tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi
trên. Trong quá trình thực tập tổng hợp ở đây, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của
lãnh đạo cũng như cán bộ công nhân viên Trung tâm xúc tiến đầu tư Hà Nội. Tôi xin chân
thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Hồng Minh và ban
giám đốc cũng như tập thể cán bộ công nhân viên Trung tâm xúc tiến đầu tư Hà Nội đã
giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành Chuyên đề thực tập tốt nghiệp “Một số giải pháp
đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư trên địa bàn thành phố Hà Nội” cũng như trong thời
gian thực tập tổng hợp tại đây.
CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÚC TIẾN ĐẦU TƯ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
nghiệp, 21 trường dạy nghề cung cấp lực lượng đứng đầu cả nước với trên 6050 người có
trình độ trên Đại học, 20000 người tốt nghiệp Đại học, 110000 người tốt nghiệp trung cấp,
điều này giúp các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm bớt chi phí đào tạo khi đầu tư vào
Hà Nội.
Tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm của Hà Nội trên 11%, cao hơn 3 % tốc độ tăng trung
bình của cả nước, mức thu nhập của người dân cao, GDP bình quân đầu người là 18,2 triệu
VNĐ/người. Thị trường rộng lớn với dân số 3.118 nghìn người tạo điều kiện thuận lợi tiêu
thụ sản phẩm đầu ra.
Các dịch vụ tài chính ngân hàng cũng khá phát triển cung cấp các dịch vụ nhanh chóng
thuận tiện cho các nhà đầu tư như mở tín dụng, dịch vụ thanh toán quốc tế...
Bên cạnh đó do yếu tố lịch sử để lại và sự phân công lao động xã hội, Hà Nội còn là nơi
tập trung nhiều trung tâm doanh nghiệp, các làng tiểu thủ công nghiệp truyền thống có khả
năng mở rộng phát triển trên cơ sở tăng cường đầu tư và hiện đại háo trang thiết bị.
Có thể nói các lợi thế trên tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư cả đầu vào lẫn đầu ra
khi đầu tư vào Hà Nội.
Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đòi hỏi Hà Nội cần có một khối lượng
lớn vốn, nếu chỉ huy động các nguồn vốn trong nước thì chưa đủ cho nên Hà Nội cần khai
thác triệt để các nguồn vốn bên ngoài cho phát triển kinh tế trong đó FDI là ngồn vốn rất
quan trọng. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ tạo ra động lực phát triển kinh tế thủ đô.
Tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ giúp Hà Nội trở thành trung tâm kinh tế
ngày càng có uy tín trong khu vực nhanh chóng đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
đặt ra.
1.1.2 Khái quát về tình hình thu hút đầu tư vào Hà Nội hiện nay
Hiện nay trên phạm vi cả nước Hà Nội thuộc nhóm thu hút được nhiều nguồn vốn
đầu tư nhất. Đó không chỉ là các nguồn vốn từ trong nước mà còn có lượng vốn từ
bên ngoài đổ vào, lượng vốn này ngày càng gia tăng và đóng vai trò quan trọng
trong sự phát ttrieenr của Thành phố Hà Nội.
Xét trên khía cạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thì đến hết năm 2007, Thành
phố đã thiết lập mối quan hệ hợp tác đầu tư với 42 quốc gia và vùng lãnh thổ. Có
1118 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng kí 12.587 tỷ USD.
xuất khẩu, 10% ngân sách và giải quyết cho hơn 71000 lao động Thành phố
Thu hút đầu tư nước ngoài của Hà Nội thời gian qua được đánh giá là rất tích cực
và triển vọng của những năm tới là rất khả quan. Tuy nhiên, so sánh với tình hình cả
nước thì về dự án đầu tư thì tỷ trọng của Hà Nội so với cả nước tăng lên ( từ 6%
giai đoạn 1988 – 1990 lên 22,3% năm 2007 ) nhưng về vốn đầu tư thì lại giảm
xuống từ 21% còn 11% ). Điều đó chứng tỏ quy mô vốn trung bình của các dự án
đầu tư vào Hà Nội giảm.
Hiện nay có nhiều nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào Hà Nội trên các lĩnh
vực: Khách sạn, căn hộ cho thuê, tài chính, bảo hiểm, sản xuất công nghiệp…Song
thiếu thồng tin chi tiết về dự án kêu gọi đầu tư như: địa điểm, diện tích, quy hoạch,
giá thuê đất… Ngoài ra các nhà đầu tư còn lo ngại về điều kiện hạ tầng giao thông,
bến bãi, cầu cảng và thiếu lao động có tay nghề cao…Nếu Hà Nội khắc phục tốt các
hạn chế này thì việc thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư nước ngoài là rất khả quan.
1.2. Tổng quan về trung tâm xúc tiến đầu tư Hà Nội
1.2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm xúc tiến
đầu tư Hà Nội
Trung tâm xúc tiến đầu tư Hà Nội được thành lập theo quyết định số 4676/QĐ-UBND
ngày 22-11-2007 cuẩ UBND thành phố.
- Ngày 17/11/2008 UBND thành phố có quyết định 2101/QĐ-UBND thành lập trung tâm
xúc tiến đầu tư thành phố Hà Nội trên cơ Sở Kế hoach và đầu tư (KH&ĐT) hợp nhất trung
tâm xúc tiến đầu tư Hà Nội thuộc Sở KH&ĐT Hà Nội (cũ) và trung tâm xúc tiến đầu tư
thuộc Sở KH&ĐT Hà Tây (cũ) thành trung tâm xúc tiến đầu tư thành phố Hà Nội thuộc Sở
KH&ĐT Hà Nội.
- Trước đây hoạt động xúc tiến đầu tư trên địa bàn thành phố không được quy về
một mối như hiện nay mà là tất cả các phòng ban trong Sở KH&ĐT đêù có bộ phận
này để đi thu hút vốn đầu tư cho ngành và lĩnh vực của mình. Các phòng ban hoạt
động độc lập, riêng rẽ không liên kết với nhau tạo ra một sự lãng phí rất lớn, đồng
thời các cấp lãnh đạo của thành phố đã nhận ra lợi ích nếu có hẳn một bộ phận
chuyên trách về xúc tiến đầu tư, chính vì thế mà trung tâm xúc tiến đầu tư Hà Nội
- Phát triển hợp tác quốc tế với các tổ chức xúc tiến đầu tư trong nước và nước ngòai,
nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư của Thành phố.
- Phối hợp với cơ quan có chức năng tổ chức đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ giúp các doanh
nghiệp, tổ chức, cá nhân nâng cao năng lực trong các hoạt động có liên quan đến chức
năng và nhiệm vụ được giao.
- Trung tâm được cung cấp các dịch vụ có thu, bao gồm: Cung cấp thông tin liên quan đến
dự án đầu tư, tổ chức đón tiếp, tư vấn pháp luật, lập hồ sơ dự án, hỗ trợ các doanh nghiệp,
phiên dịch và các dịch vụ khác theo yêu cầu của nhà đầu tư và các cơ quan liên quan.
- Quản lý cán bộ, viên chức; quản lý tài sản và chi tiêu các nguồn vốn được giao theo đúng
chế độ, chính sách quy định của Nhà nước và Thành phố.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được UBND Thành phố giao và Giám đốc Sở kế hoạch
và Đầu tư phân công.
1.3 .Thực trạng xúc tiến đầu tư vào Hà Nội hiện nay
1.3.1 Khái niệm về xúc tiến đầu tư
Vốn đầu tư FDI không tự nhiên đến với bất kì thành phố, quốc gia nào. Trong bối cảnh các
thành phố đều thực hiện tự do hoá đầu tư, các công ty đa quốc gia chỉ bị hấp dẫn bởi nơi
nào có điều kiện phù hợp nhất. Bởi vậy sự cạnh tranh giữa các thành phố để thu hút nguồn
vốn FDI ngày càng gay gắt, nhất là trong điều kiện đầu tư quốc tế có xu hướng suy giảm
trong những năm sắp tới.
Cũng vì lẽ đó, thay vì đưa ra các quy tắc, luật lệ đối với các nhà đầu tư, các địa phương giờ
đây lại tìm đến giải pháp xúc tiến để thu hút họ. Trọng tâm của giải pháp này là khái niệm
xúc tiến đầu tư và các kĩ thuật xúc tiến đầu tư cũng như việc đưa ra các chiến lược phù hợp
với các yêu cầu và điều kiện đầu tư. Vai trò ngày càng quan trọng của vốn FDI đã khiến
hoạt động xúc tiến đầu tư trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết, không chỉ đối với các nước phát
triển mà đối với cả các nước đang phát triển.
Hoạt động xúc tiến đầu tư ngày càng trở nên phức tạp, nó không chỉ đơn thuần là mở cửa
thị trường nội địa cho các nhà đầu tư nước ngoài và tiến hành vận động chung chung.
Không có một cách định nghĩa nhất quán cho khái niệm xúc tiến đầu tư, song theo nghĩa
hẹp, xúc tiến đầu tư được coi là một loạt các biện pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài thông qua một chiến lược marketing hỗn hợp bao gồm chiến lược sản phẩm (Product
Theo các chuyên gia của UNDP : Việt Nam đang tạo được một môi trường đầu tư
rất tốt, đặc biệt là đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư mong muốn đa dạng hoá lĩnh
vực đầu tư để tránh rủi ro. Với trên 80 triệu dân, Việt Nam là một thị trường lớn hấp dẫn
nhà đầu tư. Vào WTO, Việt Nam trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư hơn bao giờ hết vì nó mở
ra khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu cho các nhà đầu tư. Đặc biệt việc trở thành thành
viên không thường trực của hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc đã nâng cao uy tín và vị thế
của Việt nam trên trường quốc tế. Việc tăng cường phân cấp trong khâu quản lí cũng như
có nhiều cải thiện tích cực về môi trường đầu tư đã và đang là tín hiệu tốt mời gọi các nhà
đầu tư.
Các chính sách thể hiện sự đổi mới và những cố gắng của Việt Nam trong việc thu
hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã được thể hiện trong Chương trình xúc tiến đầu tư
Quốc gia với mười điểm chính sau :
Thứ nhất : Tạo dựng, quảng bá hình ảnh Việt Nam; thông tin, tuyên truyền về môi
trường đầu tư, chủ trương và chính sách pháp luật về đầu tư, hiệu quả đầu tư tại Việt Nam;
Thứ hai : Xây dựng, duy trì cơ sở dữ liệu của một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm trọng điểm
cần thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài;
Thứ ba : Thu thập dữ liệu, nghiên cứu xây dựng Danh mục dự án trọng điểm quốc gia kêu
gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài phù hợp chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
từng thời kỳ, quy hoạch phát triển ngành kinh tế - kỹ thuật;
Thứ tư : Nâng cấp, duy trì hoạt động có hiệu quả website giới thiệu đầu tư, đặc biệt là đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, kết nối với các địa chỉ website có uy tín trên thế giới
và các địa chỉ website của các Bộ, ngành, địa phương trong nước;
Thứ năm : Hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nghiên cứu, lựa chọn đối
tác và địa bàn đầu tư tiềm năng nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Việt Nam và thúc đẩy đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài;
Thứ sáu : Đào tạo nâng cao năng lực và kỹ năng xúc tiến đầu tư cho các cơ quan quản lý
nhà nước và doanh nghiệp;
Thứ bảy : Tổ chức các chương trình vận động xúc tiến đầu tư tại các địa bàn trọng điểm ở
nước ngoài, các hội nghị, hội thảo xúc tiến đầu tư ở trong nước, nhằm thu hút đầu tư vào
các ngành, lĩnh vực, vùng kinh tế trọng điểm, cũng như khuyến khích đầu tư từ Việt Nam
tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành). Tổ chức đào tạo, tập huấn đầu tư, in và
phát hành các ấn phẩm quảng bá hình ảnh Hà Nội;
- Tổ chức khảo sát, diến đàn xúc tiến đầu tư ở trong nước và nước ngoài; Hỗ trợ các
doanh nghiệp tham gia các diễn đàn đầu tư trong và ngoài nước, tìm hiểu môi
trường đầu tư, hố trợ nhà đầu tư mở văn phòng giao dịch, văn phòng đại diện,
- Các chương trình hợp tác trong Vùng kinh tế, hợp tác phát triển với các tỉnh thành
phố trong và ngoài nước; Tổng kết tình hình thực hiện hợp tác phát triển với các
Tỉnh, Thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và lân cận,
- Tổng hợp danh mục đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất
theo quyết định 15/2007/QĐ – UBND.
- Hướng dẫn thực hiện “Quy chế xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến đầu
tư quốc gia”; Hướng dẫn các sở, ban, ngành xây dựng và thực hiện kế họach xúc
tiến đầu tư,
- Xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư dài hạn, trung hạn và ngắn hạn; xác định các
ngành nghề, lĩnh vực và đối tác cần tập trung kêu gọi đầu tư mang lại hiệu quả cao,
- Đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư đạt tính
chuyên nghiệp.
1.4 . Phân tích thực trạng xúc tiến đầu tư của Hà Nội hiện nay
Trước đây các hoạt động xúc tiến đầu tư thường do các công ty, phòng ban, cơ quan
tự làm lấy, không có một đầu mối thống nhất nào cho hoạt động này. Và dù mới
được thành lập hơn một năm nhưng trung tâm xúc tiến đầu tư Hà Nội đã và đang
làm hết sức mình để chứng minh vai trò đầu mối các hoạt động xúc tiến đầu tư trên
địa bàn Hà Nội. Nhận thức rất rõ về vai trò của nguồn vốn đầu tư đối với việc phát
triển kinh tế xã hội của Hà Nội hiện nay thì hoạt động xúc tiến đầu tư của trung tâm
đang được diễn ra theo các bước:
+ Xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư
+ Xây dựng các mối quan hệ đối tác
+ Xây dựng hình ảnh Hà Nội trong con mắt của các nhà đầu tư và trên thế giới
+ Cung cấp dịch vụ cho các nhà đầu tư
Các bước trên hiện đang được trung tâm xúc tiến đầu tư Hà Nội chia đều cho ba phòng ban
tâm xúc tiến đầu tư Hà Nội đang thực hiện để trở thành một cơ quan xúc tiến đầu tư hiệu
quả cao được các tổ chức khác thừa nhận đang được tiến hành một cách cụ thể như sau:
• Trước hết về “Xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư”
Chiến lược xúc tiến đầu tư là bản đồ chỉ dẫn để các cơ quan xúc tiến đạt được
mục tiêu, vì vậy các hoạt động như chuẩn bị tài liệu, tổ chức hội thảo đầu tư, tổ
chức các chuyến tham quan thực địa cần được sắp xếp trong một kế hoạch tổng
thể để đạt được hiệu quả. Kế hoạch này cần bắt đầu bằng việc tìm hiểu những
điểm gì mà chúng ta có thể đem lại cho các nhà đầu tư nước ngoài và chúng có
lợi thế cạnh tranh gì so với các địa phương khác trong nước và trong khu vực…
Sau đó là phải xác định ngành, lĩnh vực cũng như các nhà đầu tư tiềm năng có
nhiều khả năng đầu tư và các lĩnh vực này.
Khi đã xác định được các ngành nghề, lĩnh vực được nhiều nhà đầu tư quan tâm
chúng ta cần xác định các khu vực trọng điểm của hoạt động xúc tiến đầu tư này.
Vì các đặc tính thường xuyên thay đổi do sự phát triển của môi trường bên trong và
những yếu tố bên ngoài nên cơ quan xúc tiến đầu tư cần phải thấy trước ảnh hưởng
của những sự thay đổi nảy ví dụ những tiến bộ trong giáo dục, cải thiện cơ sở hạ
tầng sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hút đẩu tư trong tương lai nên sẽ cần đưa các
lĩnh vực này vào mục tiêu hướng tới.
Một chiến lược xúc tiến đầu tư không chỉ tập trung vào các lĩnh vực, ngành nghề
cần hướng tới trong tương lai gần mà còn phải thể hiện được những lĩnh vực, ngành
nghề cần hướng tới trong trung hạn và dài hạn. Đồng thời các cơ quan xúc tiến đầu
tư phải đóng vai trò trong việc cải thiện môi trường đầu tư của đất nước để các
ngành có trình độ phát triển cao hơn sẽ xem đây là một điểm đến của đầu tư.
Bước cuối cùng của quá trình xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư là lập được một
kế hoạch rõ rang. Trong đó đã lượng hóa các nguồn lực, thời gian thực hiện chiến
lược, và xác định các hoạt động cần thiết để thu hút được các ngành công nghiệp có
trình độ phát triển cao hơn.
Dựa trên những yêu cầu trên trong thời gian qua trung tâm xúc tiến đầu tư Hà Nội
đã xây dựng Chương trình xúc tiến đầu tư của Thành phố Hà Nội gia đoạn 2008
-2010, định hướng đến 2015 ( Chương trình 34 của ủy ban nhân dân thành phố Hà
+ Thăm dò; khai thác và chế biến sâu khoáng sản;
+ Phát triển công nghiệp hoá dầu; xây dựng, vận hành đường ống dẫn dầu, dẫn khí, kho,
cảng dầu;
+ Sản xuất thiết bị, cụm chi tiết trong khai thác dầu khí, mỏ, năng lượng; sản xuất
thiết bị nâng hạ cỡ lớn;
+ Sản xuất hộp cao cấp, hợp kim, kim loại mầu, kim loại đặc biệt, phôi thép, sắt xốp dùng
trong công nghiệp;
+ Sản xuất các máy công cụ gia công kim loại, thiết bị luyện kim;
Chế tạo thiết bị cơ khí chính xác, thiết bị kiểm tra, kiểm soát an toàn, sản xuất khuôn mẫu
cho các sản phẩm kim loại và phi kim loại;
+ Sản xuất khí cụ điện trung, cao thế;
+ Sản xuất các loại động cơ diezen có công nghệ, kỹ thuật tiên tiến; sản xuất máy, phụ
tùng ngành động lực, thủy lực, máy áp lực;
+ Sản xuất phụ tùng ô tô, phụ tùng xe máy; sản xuất, lắp ráp thiết bị, xe máy thi công xây
dựng; sản xuất thiết bị kỹ thuật cho ngành vận tải;
+ Đóng tàu thủy; sản xuất thiết bị phụ tùng cho các tàu vận tải, tàu đnh cá;
+ Sản xuất thiết bị thông tin, viễn thông;
+ Sản xuất linh kiện, thiết bị điện tử, công nghệ tin học;
+ Sản xuất thiết bị, phụ tùng, máy nông nghiệp, thiết bị tưới tiêu;
+ Sản xuất các loại nguyên liệu thuốc trừ sâu bệnh;
+ Sản xuất các loại hoá chất cơ bản, hoá chất tinh khiết, thuốc nhuộm, các loại hoá chất
chuyên dụng;
+ Sản xuất nguyên liệu chất tẩy rửa, phụ gia cho ngành hóa chất;
+ Sản xuất xi măng đặc chủng, vật liệu composit, vật liệu cách âm, cách điện,
…
Tuy nhiên, do sự mở rộng địa giới hành chính kết hợp Hà Nội (cũ) và Hà
Tây (cũ) thành Hà Nội (mói hiện nay) thì Chương trình 34 đang được rà soát và
điều chỉnh lại cho phù hợp với sự thay đổi này.
Bên cạnh đó để có được một chiến lược hoàn chỉnh trung tâm xúc tiến đầu tư
Hà Nội cũng đã xác định rõ cơ hội và thách thức đối với Hà Nội trong công tác xúc
nhân có thể hỗ trợ trong việc xây dựng và truyển bá hình ảnh, tạo ra đầu tư, và phục
vụ nhà đầu tư cũng được xem là các mối quan hệ đối tác tiềm năng. Không phải tất
cả hoạt động đều có thể thu được lợi ích từ các mối quan hệ này, do đó chúng ta cần
xác định hoạt động nào thì nên phối hợp với cơ quan nào là tốt nhất, từ đó ta có thể
tối đa hóa hiệu quả sử dụng các nguồn lực sẵn có và đảm bảo rằng các bên liên quan
đang hoạt động vì một mục đích chung.
Xây dựng ma trận quản lý đối tác
Các lĩnh vực
xúc tiến đầu
tư
Đối tác Vai trò Tác động
Mức độ
quan tâm
Chiến lược
quản lý
xxx A m Cao Cao
yyy B n Thấp Thấp
zzz C p Trung bình Trung bình
Trước hết cơ quan xúc tiến đàu tư cần xác định các loại quan hệ đối tác cần
thiết. Không một cơ quan, đơn vị, các nhân nào có thể nói rằng họ đủ tiền, năng lực
để thực hiện được tất cả các hoạt động chức năng của mình. Do đó các đối tác bên
ngoài được mời cùng đi trên một con thuyền để cung cấp tài chính hay thực hiện
các nhiệm vụ khác vượt quá khả năng của ta. Bên cạnh đó, nhiệm vụ và quyền hạn
của cơ quan xúc tiến đầu tư thường chồng chéo với các Bộ, các cơ quan tư nhân
hoặc các phòng thương mại.Chính bởi sự hạn chế về quyền lực như vậy mà các cơ
quan nên liên kết lại với nhau để làm rõ vai trò và nhiệm vụ cũng như ngĩa vụ của
các bên.
Thêm vào đó các thông tin mà ta lấy được thường chỉ ở dạng sơ khai và
thức tiêu cực hoặc thiếu hiểu biết về đất nước và các lợi thế so sánh của Hà Nội thì
các cố gắng của cơ quan xúc tiến đầu tư sẽ không đem lại hiệu quả cao. Trong quá
trình ra quyết định của nhà đầu tư, sự nhận thức của họ là quá trình gắn với thực tế.
Thực tế cho thấy các nhà đầu tư thường không có đủ thông tin cần thiết do đó họ
đưa ra các giả định và suy luận dựa trên những thông tin đã có và lời khuyên của
những người đi trước. Với một thông tin không đầy đủ hoặc sai lệch nhà đầu tư có
thể đưa ra một kết luận không chính xác về địa điểm đầu tư. Do đó các trung tâm
xúc tiến đầu tư phải làm sao để luồng thông tin tới các nhà đàu tư được nhanh nhất
và chính xác nhất, đó cũng là lý do tại sao ta phải duy trì tốt và luôn mở rông các
mối quan hệ.
Nắm bắt được tâm lý trên, trung tâm xúc tiến đầu tư Hà Nội đã phối hợp cùng các
Ban, ngành có liên quan đang từng bước đẩy mạnh hình ảnh của Hà Nội, để các nhà
đầu tư không chỉ biết rằng Hà Nội là thành phố hòa bình, có môi trường đầu tư
tương đối ổn định mà còn là điểm đến lý tưởng với rất nhiều chính sách hỗ trợ cho
các nhà đầu tư mới.
Để có được một chiến lược xây dựng hình ảnh về Hà Nội trước hết ta phải cho các
nhà đầu tư thấy rõ những lợi thế của Hà Nội, về môi trường đầu tư tại Hà Nội được
đánh giá như thế nào thông qua các báo cáo của các Tổ chức phi chính phủ và chính
phủ như báo cáo của Ngân hàng thế giới, của các công ty tư vấn tư nhân như Price
Waterhouse Coopers, KPMG… Bên cạnh đó trung tâm xúc tiến đầu tư không
những chỉ ra được lợi ích mà Hà Nội mang lại cho các nhà đầu tư mà còn phải gây
ấn tượng rằng ta đang có những thứ mà họ cần. Ví dụ khi ta nhấn mạnh vào chi phí
lao động rẻ thì vẫn phải nhắc tới là lực lượng lao động lành nghề…
Đồng thời ta cũng phải chỉ rõ các thế mạnh, không chỉ là những thế mạnh chung của
Hà Nội như: có tốc độ cải cách nhanh chóng, các vấn đề về môi trường đàu tư đang
được hoàn thiện, có lực lượng lao động trình độ cao với chi phí vừa phải, mạng lưới
cơ sở hạ tầng và viễn thông đã và đang được xây dựng cho phù hợp với mong muốn
của các nhà đầu tư…mà chúng ta còn phải chỉ rõ những thế mạnh của Hà Nội trong
một số ngành nghề, lĩnh vực ví dụ tiềm năng về du lịch của Hà Nội vẫn chưa được
khai thác một cách đúng mức nên khi các nhà đầu tư muốn đầu tư vào đây thì không
1.5 Đánh giá thực trạng xúc tiến đầu tư nước ngoài của Hà Nội
1.5.1 Kết quả công tác xúc tiến đầu tư trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay:
Họat động xúc tiến đầu tư trên địa bàn Thành phố đã được tiến hành từ lâu với sự
tham gia của các Bộ, ngành, Doanh nghiệp TW cũng như doanh nghiệp Thành phố. Tuy
nhiên trước năm 2001 các hoạt động xúc tiến đầu tư chủ yếu do các doanh nghiệp tự thực
hiện hoặc theo các chương trình của TW, Thành phố chưa thực hiện xúc tiến đầu tư một
cách chủ động, chưa có chương trình riêng theo định hướng thu hút đầu tư trong chiến
lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Trong bối cảnh hộ nhập quốc tế sâu rộng. Tình hình chính trị, kinh tế thế giới có nhiều
biến động. Các quốc gia, địa phương cạnh tranh gay gắt nhằm thu được nguồn vốn lớn
nhất, them vào đó là các bí quyết công nghệ và kinh nghiệm quản lý điều hành để phát
triển kinh tế. Tuy nhiên, nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam chưa ổn định do môi trường
đầu tư chưa thực sự thông thoáng và kém cạnh tranh so với một số nước trong khu vực.
Từ năm 2001, Thành phố đã xây dựng và triển khai tích cực hoạt động xúc tiến đầu tư, du
lịch và thương mại. Ngân sách thành phố chi cho xúc tiến đầu tư trong giai đoạn 2001-
2007 là 5 tỉ đồng/năm.
Công tác vận động, thu hút đầu tư nhất là đầu tư nước ngoài đã được tiến hành đồng bộ
hơn, chủ động hơn và hiệu quả hơn.
Thành phố đã tổ chức được nhiều đoàn đi xúc tiến đầu tư, du lịch; trao đổi, học tập kinh
nghiệm với các tổ chức, đơn vị, thành phố trong và ngoài nước…
1.5.1.1 Một số thành tựu trong công tác của trung tâm xúc tiến đầu tư Hà Nội
- Trên quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội của thủ đô Hà Nội đã xây dựng và
công bố Danh mục các dự án kêu gọi FDI, tập trung vào một số lĩnh vực ưu tiên như phát
triển các nghành công nghiệp chủ lực, phát triển hệ thống dịch vụ hiện đại, phát triển xây
dựng kỹ thuật hạ tầng đô thị. Đồng thời đã thực hiện in ấn, đóng quyển các danh mục các
dự án kêu gọi đầu tư bằng các thứ tiếng: Anh, Nhật, Trung, Nga… để thực hiện công tác
xúc tiến phù hợp với thị trường các nước.
Tổng hợp, rà soát và đề xuất điều chỉnh sửa đổi, bổ sung chương trình 34 của UBND
Thành phố về xúc tiến đầu tư của Thành phố giai đoạn 2008 – 2010, định hướng đến 2015
cho phù hợp với tình hình hiện tại sau khi Hà Nội được mở rộng.
đặc biệt lĩnh vực đầu tư sản xuất, lĩnh vực đầu tư bất động sản và hợp tác trao đổi thương
mại.
Tham gia công tác chuẩn bị và lên kế hoạch triển khai chương trình Những ngày văn
hóa Hà Nội tại Matxcova vào tháng 7, trong đó có Hội thảo xúc tiến đàu tư – thương
mại – du lịch. Hội thảo đã thu hút 200 đại biểu đại diện cho hơn 100 doanh nghiệp, các
hiệp hội, các đơn vị liên quan và chính quyền 2 thành phố tham dự. Hội thảo xúc tiến
đầu tư – thương mại – du lịch Hà Nội đã thành công tốt đẹp, kết thúc hội nghị đã có 9
văn bản hợp tác được kí kết giữa Sở KH&ĐT Hà Nội, các doanh nghiệp thành phố Hà
Nội và các doanh nghiệp Thành phố Matxcova và Liên bang Nga mở ra bước phát triển
mới trong hợp tác đầu tư, thương mại, du lịch giữa Thành phố Hà Nội và Thành phố
Matxcova nói riêng hay giữa Việt Nam – Liên bang Nga nói chung, đồng thời góp phần
vun đắp tình đoàn kết hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước.
- Thực hiện Thỏa thuận hợp tác, nhiều chương trình xúc tiến đầu tư có sự phối hợp với các
tỉnh, Thành phố được triển khai, nhiều buổi trao đổi kinh nghiệm xây dựng quy hoạch,
quản lý đô thị, xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị…được tổ chức.
Giới thiệu một số Doanh nghiệp của Hà Nội và một số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
về đầu tư tại các địa phương lân cận.
Các tỉnh, Thành phố cùng cam kết hợp tác phát triển trong các lĩnh vực đầu tư, thương
mại, du lịch, y tế, giáo dục, trọng tâm là phát triển kết cấu hạ tầng để xây dựng hành lang
giao thông hướng biển Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh – và
Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh.
- Phối hợp với các Bộ, Sở, Ngành triển khai thực hiện các dự án hỗ trợ kĩ thuật “ Phát triển
đô thị gắn kết với phát triển UMRT ở Hà Nội “, sử dụng nguồn tài trợ không hoàn lại của
JICA. Tháng 9/2008 đã phối hợp với các Sở Tìa nguyên môi trường, Giao thông vận tải,
các Bộ, ngành lien quan hỗ trợ đoàn chuyên gia nghiên cứu của JICA sang làm việc để đi
đến kí kết” bản phạm vi công việc của dự án “ vào tháng 12/2008.
- Tổ chức nhiều hội thảo trong nước để kêu gọi đầu tư, tổ chức các đoàn công tác để trao
đổi kinh nghiệm kêu gọi đầu tư, cải cách thủ tục hành chính, quản lý Nhà Nước, triển khai
Luật Doanh nghiệp..
Phối hợp với trung tâm Xúc tiến thương mại – Sở công thương triển khai tổ chức hội thảo
án đầu tư nhất là các dự án đầu tư nước ngoài.
Hầu hết các ngành công nghiệp bổ trợ ở Hà Nội không thể cung cấp cho các nhà đầu tư
trực tiếp nước ngoài các nguyên liệu thô phục vụ sản xuất đáp ứng các yêu cầu của nhà đầu
tư. Do đó các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài phải nhập nguyên vật liệu sản xuất của họ từ
bên ngoài vào Việt Nam, điều đó làm tăng thêm chi phí vận tải dẫn đến tăng giá thành sản
phẩm, làm giảm tính hấp dẫn đầu tư ở Hà Nội.
Thứ hai: Hoạt động xúc tiến đầu tư còn thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu mục tiêu dài hạn;
còn dàn trải, chưa tập trung vào một số ngành, lĩnh vực và đối tác tiềm năng.
Thứ ba: Các chương trình xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, xúc tiến du lich của thành
phố chưa thực sự gắn kêt, công tác trao đổi thông tin giữa các chương trình thiếu thường
xuyên. Sự phối hợp hoạt động giữa các Bộ, ngành, cơ quan TW và giữa các Sở, ngành,
đơn vị của thành phố chưa đồng bộ, chặt chẽ.
Thứ tư: Viêc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ xúc tiến đầu tư của thành
phố còn hạn chế.
Thứ năm: Xét trên bình diện chung chưa có một chương trình xúc tiến đầu tư thống nhất
trên cả nước nên hoạt động này nhiêu năm qua Hà Nội cũng như các địa phương thực hiện
phân tán rời rạc, thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu mục tiêu dài hạn.
Thứ sáu: Trung tâm xúc tiến đầu tư Hà Nội mới được thành lập nên chưa phát huy hết khả
năng, đồng thời điều kiện cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ.
Thêm vào đó hoạt động xúc tiến đầu tư mới chỉ chú trọng xúc tiến đầu tư ở nước ngoài
chưa tập trung xúc tiến đầu tư, kêu gọi các nhà đẩu tư trong nước. Công tác xúc tiến đầu tư
thường tiến hành riêng rẽ, thiếu sự chỉ đạo thống nhất làm giảm hiệu quả hoạt động xúc
tiến đầu tư…
1.5.2 Đánh giá hiệu quả của công tác xúc tiến đầu tư ở Hà Nội hiện nay
Để có một Hà Nội như ngày hôm nay phải kể đến lượng vốn mà Hà Nội thu hút được
trong các năm qua, không chỉ có nguồn vốn đầu tư xã hội mà còn có đầu tư trực tiếp nước
ngoài, vốn hỗ trợ đầu tư phát triển (ODA) hay nói cách khác gồm vốn đầu tư trong nước và
vốn đầu tư nước ngoài. Đóng góp nhiều nhất phải kể đến nguồn vốn đầu tư trong nước
luôn chiếm trên 80% trong tổng số nguồn vốn Hà Nội có được:
nghiệp Nhà nước
45,14 38,17 35,26 32,34 31,46 27,77 27 27
2 Các thành phần kinh tế
ngoài Nhà nước
24,39 26,5 29,25 33,91 32,74 47,31 50,03 50,03
3 -DN ngoài NN 17,22 20,06 23,04 27,99 27,38 43,61 45,96 45,96
-Dân tự đầu tư 7,17 6,45 6,21 5,92 5,36 3,7 4,07 4,07
II Vốn nước ngoài 12,42 14,31 14,02 13,02 18,19 13,68 13,14 13,14
1 Vốn FDI 10,62 11,52 11,22 11,3 15,31 13,09 12,51 12,51
2 Vốn ODA 1,79 2,79 2.80 1,72 2,88 0,59 0,63 0,63
(Đơn vị: tỷ đồng)
Giai đoạn 2001 – 2007 tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn Hà Nội đạt 246,607 tỷ đồng
(bình quân 35,658 tỷ đồng/năm), với tốc độ tăng trung bình đạt 22,25%. Vốn đầu tư xã hội
tăng từ 18,120 tỷ đồng năm 2001 lên 62,947 tỷ đông fnawm 2007. Tỷ trọng của tổng đàu
tư xã hội trên tổng sản phẩm trong nước ở Hà Nội luôn giữ ở mức cao. Năm 2007, Thành
phố cấp đăng kí kinh doanh cho 10.900 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng kí
khoảng117.000 tỷ đồng.
Cơ cấu vốn đầu tư xã hội theo ngành phản ứng từ mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế của
Thủ đô theo hướng dịch vụ- công nghiệp – nông nghiệp. Tính chung cả giai đoạn 2001 –
2007, cơ cấu vốn đầu tư xã hội trên địa bàn Thành phố là: công nghiệp, xây dựng 35,74%,
dịch vụ 62,62%, nông lâm thủy sản 1,64%.
Có thể thấy trong các năm qua nguồn vốn từ các doanh nghiệp Nhà nước đang có tỷ trọng
giảm dần trong khi các thành phần kinh tế ngoài nhà nước lại có tỷ trọng vốn tăng dần từ
24,39% năm 2001 lên 49,96 % năm 2007 và còn có xu hướng tăng thêm, điều đó xảy ra do
các doanh nghiệp Nhà nước đang tiến hành cổ phần hóa để nâng cao chất lượng phục vụ
cho người dân, đảm bảo cuộc sống người dân ngày càng tốt lên
Bên cạnh đó, từ bảng trên ta còn thấy khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng
phát triển và đã có những đóng góp quan trọng vào việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh
tế-xã hội Hà Nội. Là một trong những địa phương đứng đầu cả nước về thu hút vốn FDI,