xác định quan hệ cha, mẹ, con- Lý luận và thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Nghệ An - Pdf 26

PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nếu quan hệ giữa vợ chồng là quan hệ pháp lý hôn nhân thì quan hệ giữa cha, mẹ và
con cái là quan hệ tràn đầy tình cảm yêu thương chăm sóc như một lẽ tự nhiên “cá chuối
đắm đuối vì con”, nhưng lại đầy ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ trước xã hội. Có thể
thấy rằng quan hệ cha, mẹ, con vừa có ý nghĩa quan trọng về mặt pháp lý vừa có ý nghĩa
quan trọng về mặt xã hội.Từ những ngày còn xa xưa thì mối quan hệ giữa cha, mẹ, con
đã là mối quan hệ thiêng liêng và cao cả, và cho đến ngày nay khi đất nước ngày càng
phát triển về mọi mặt thì con người lại càng chú trọng và đề cao mối quan hệ trong gia
đình. Quan hệ cha, mẹ, con xác lập sẽ được pháp luật và cộng đồng thừa nhận, là cơ sở
để thực hiện tốt những quy định về nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa cha, mẹ và con,
nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa cha, mẹ và con, về thừa kế tài sản... Bên cạnh đó quan
hệ cha, mẹ con là điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con và của
con đối với cha, mẹ. Đồng thời khi có tranh chấp xảy ra giữa các thành viên trong gia
đình thì mối quan hệ này sẽ là cơ sở để giải quyết nhanh chóng và kịp thời.
Đối với xã hội, việc xác định quan hệ cha, mẹ, con sẽ tạo lập được đơn vị là gia đình, gia
đình là cơ sở, là tế bào của xã hội, gia đình có vai trò sản xuất ra con người duy trì nòi
giống, tái sản xuất ra sức lao động bằng việc nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho các
thành viên, đồng thời giáo dục xã hội hóa con người. Cá nhân là thành viên của gia đình
đồng thời là công dân của xã hội, vì vậy mỗi thành viên trong gia đình sẽ làm cho xã hội
ngày càng tốt đẹp và phát triển mọi mặt.
Bên cạnh ý nghĩa quan trọng về mặt pháp lý và về mặt xã hội thì hệ thống pháp luật
Việt Nam quy định về vấn đề xác định quan hệ cha, mẹ, con còn bộc lộ một số hạn chế,
bất cập. Pháp luật việt nam quy định chưa thực sự rõ ràng, còn tản mạn và chưa đầy đủ,
thủ tục chưa nhất quán, còn nhiều chồng chéo, vướng mắc dẫn đến tình trạng khi xảy ra
tranh chấp thì cơ quan chức năng còn lúng túng trong vấn đề áp dụng pháp luật. Từ thực
tế đó dễ dẫn đến tình trạng không tuân thủ và chấp hành pháp luật của người dân khi xác
định quan hệ cha, mẹ, con. Ví dụ như thực tế giải quyết các tranh chấp về xác định cha,
mẹ, con ngoài giá thú rất phức tạp gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, thủ tục và vấn đề
giải quyết tranh chấp về vấn đề nuôi con nuôi cung chưa rõ ràng, chưa đầy đủ.
Hiện nay, cả nước nói chung và tại địa bàn tỉnh Nghệ An nói riêng thực trạng về xác

lẽ tự nhiên ,nhưng lại đầy ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ trước xã hội.
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc xác định quan hệ cha, mẹ, con:
Xác định quan hệ cha, mẹ, con là một hành vi pháp lý do các cá nhân, cơ quan,
tổ chức theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
thừa nhận hoặc không thừa nhận quan hệ cha - con, mẹ - con về mặt pháp lý, nhằm làm
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con cái và
ngược lại.
1.2. Sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam về vấn đề xác định quan hệ
cha, mẹ, con.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, để xác định quan hệ cha, mẹ và con pháp luật hôn nhân
và gia đình (Luật HN&GĐ) thời kỳ này đã dựa trên nguyên tắc suy đoán pháp lý xác
định cha, mẹ cho con của Bộ Luật Dân Sự nước cộng hòa Pháp.
Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 chưa dự liệu về nội dung nguyên tắc suy
đoán pháp lý xác định cha, mẹ cho con trong giá thú cũng như con ngoài giá thú mà chỉ
quy định quyền được xác nhận cha mẹ của con ngoài giá thú.
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã đưa ra được phương pháp suy đoán pháp
lý xác định quan hệ cha, mẹ và con Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy
định: “Con sinh ra trong thời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó là
con chung của vợ chồng.”. Đối với việc xác định cha cho con ngoài giá thú, Điều 29, 31
LHNGĐ năm 1986 và Điều 72, 73, 74, 75 Dự thảo LHNGĐ mới chỉ quy định phạm vi
chủ thể có quyền yêu cầu xác định mối quan hệ cha mẹ và con mà chưa quy định cụ thể
những bằng chứng để xác định quan hệ đó.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định khá chi tiết và cụ thể so với Luật
hôn nhân và gia đình năm 1986 về vấn đề xác định quan hệ cha, mẹ và con. Vấn đề này
được quy định tại chương VII. Đồng thời cũng có nhiều nghị định, nghị quyết hướng
dẫn thi hành các điều luật liên quan đến vấn đề này.
Luật HN&GĐ năm 1959 là đạo luật đầu tiên của nhà nước ta điều chỉnh vấn đề
nuôi con nuôi. Trong Luật này, vấn đề nuôi con nuôi mới chỉ được quy định rất sơ sài
bởi một điều luật (Điều 24). Theo quy định của điều luật này thì “việc nhận nuôi con
nuôi phải được Ủy ban hành chính cơ sở mơi trú quán của người nuôi hoặc của đứa trẻ

loại án kiện cha ,me, con rất phức tạp .
1.3.1.2. Quan hệ pháp luật giữa cha, mẹ và con phát sinh dựa trên sự kiện nhận
nuôi con nuôi :
Nuôi con nuôi – một hiện tượng xã hội ,một chế định pháp lý đã xuất hiện từ lâu
trong lịch sử pháp luật Việt Nam. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha ,mẹ và con
giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi …; dựa trên ý chí chủ
quan của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi.
Trước đây ,pháp luật của nhà nước thực dân phong kiến ở Việt Nam quy định chế
định nuôi con nuôi thường xuất phát từ lợi ích của người nhận nuôi con nuôi; phân biệt
đối xử giữa các con :con đẻ và con nuôi, con trai và con gái, con trong giá thú với con
ngoài giá thú... việc nhận nuôi con nuôi nhằm nhiều mục đích bảo đảm quyền lợi của
người nhận nuôi con nuôi (như nuôi con nuôi để có người thừa tự, nuôi con nuôi để có
“người hầu kẻ hạ” trong gia đình; để có người làm công không phải trả tiền hoặc để
“gánh vạ cho gia đình”)...
Chế định nuôi con nuôi được xác lập trong luật hôn nhân và gia đình nhà nước ta
từ năm 1959 đến nay xuất phát trước tiên từ lợi ích của người con nuôi, đồng thời cũng
bảo đảm lợi ích của người nhận nuôi con nuôi (Điều 24 Luật hôn nhân và gia đình năm
1959; Điều 34 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 67 Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000). Việc nuôi con nuôi được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình có ý
nghĩa góp phần bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; đồng thời giải quyết một phần hậu
quả của cuộc chiến tranh xâm lược do đế quốc Mỹ gây trước đây. Vì vậy, mục đích của
việc nuôi con nuôi theo điều 67 Luật hôn nhân và gia đình năm 200 quy định:
“1. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con
nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi
được trông nom nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội...
2. Nhà nước và xã hội khuyến khích việc nhận trẻ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ bị tàn tật
làm con nuôi .
3. Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm
tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác”.
Như vậy, quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp này được hình thành bằng con

Theo quy định tại điều 69 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, người nhận nuôi
con nuôi phải có đủ các điều kiện sau :
Có năng lực hành vi dân sự đầu đủ ;
Hơn con nuôi từ hai mươi tuổi trở lên ;
Có tư cách đạo đức tốt ;
Có điều kiện thực tế bảo đảm việc trông nom nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con
nuôi ;
Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha mẹ đối với con chưa
thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi, hoặc hành hạ
ông, ba, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc,
hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ
em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm
những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội .
Theo điều 67 và điều 70 của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 một người có thể
nhận một người hoặc nhiều người làm con nuôi.Người nhận con nuôi có thể là một cặp
vợ chồng hoặc một người độc thân. Trong trường hợp cả hai vợ chồng cùng nhận con
nuôi thì cả hai vợ chồng đều phải đáp ứng đầy đủ các quy định tại điều 69 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000. Nếu một trong hai người không đủ điều kiện này thì xem
như không bảo đảm điều kiện vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi.
Ngoài ra theo quy định tại điều 71 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
“1. Việc nhận người chưa thành niên, người đã thành niên mất năng lực hành vi
dân sự làm con nuôi phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ đẻ của người đó; nếu
cha, mẹ đẻ đã chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được cha, mẹ thì
phải được sự đồng ý bằng văn bản của người giám hộ.
2. Việc nhận trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên làm con nuôi phải được sự đồng ý của
trẻ em đó”.
Theo các quy định trên thì thông thường việc nhận nuôi con nuôi phải có sự đồng
ý bằng văn bản của cha, mẹ đẻ (đối với con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất
năng lực hành vi dân sự). Trong trường hợp ch mẹ đẻ của người này đều đã chết, mất

quan niệm như vậy, việc nhận con nuôi, nhận cha mẹ nuôi đã được thực hiện khá rộng
rãi trong đời sống nhân dân.
Với ý nghĩa là một quyền tự do dân sự của cá nhân, việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi
có thể được thực hiện theo những cách thức khác nhau, tuỳ theo sự lựa chọn của cá nhân
trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Tuy nhiên có thể thấy, có hai cách thức xác
lập quan hệ nuôi con nuôi trong thực tế. Đó là xác lập quan hệ nuôi con nuôi về mặt xã
hội và xác lập về mặt pháp lý.
Việc nhận nuôi con nuôi có thể được xác lập về mặt pháp lý, thông qua sự kiện đăng ký
việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đối với những trường hợp có
đăng ký, giữa người nhận nuôi và con nuôi phát sinh quan hệ cha mẹ và con trước pháp
luật. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và con nuôi được nhà
nước công nhận và bảo vệ. Vấn đề này không nằm trong khuôn khổ phân tích của bài
viết này. Trong phạm vi của bài viết này, chỉ xin bàn đến những dạng xác lập quan hệ
cha mẹ nuôi và con nuôi trong thực tế mà không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền.
Trong thực tế đời sống tồn tại khá nhiều các trường hợp nhận con nuôi nhưng
không đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là những
trường hợp xác lập quan hệ nuôi con nuôi về mặt xã hội. Tuy nhiên không phải tất cả các
trường hợp nhận nuôi con nuôi không có sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đều là nuôi con nuôi thực tế.
Theo quy định tại điều 72 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 , việc nhận nuôi
con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng kí và ghi vào sổ hộ tịch. Thủ
tục đăng kí việc nuôi con nuôi , giao nhận con nuôi được thực hiện theo quy định của
pháp luật về hộ tịch. Hiện nay theo nghị định 158/2005/NĐ-CP và nghị định 68 /2002 /
NĐ-CP ngày 10/7/2002 thì việc nhận nuôi con nuôi giũa các công dân Việt Nam với
nhau phải được đăng ký tại UBND cấp xã nơi thường trú của người nhận nuôi con nuôi
hoặc con nuôi ; việc nhận nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
phải được đăng ký tại UBND cấp tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam.
1.3.2. Nguyên tắc xác định quan hệ cha, mẹ con.
1.3.2.1.Xác định quan hệ cha ,mẹ ,con trong giá thú:

nhân và gia đình năm 1986 và Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định
trên nguyên tắc :
“1. Con sinh ra trong thời hì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó
là con chung của vợ chồng
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con
chung của vợ chồng.
2. Trong trường hợp cha mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải
được Tòa án xác định.
Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do chính
phủ quy định”.
Theo quy định trên đây thời kỳ hôn nhân (Điều 8 khoản 7 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000) là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết
hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.
Theo quy định tại Nghị quyết số 02/2000/NQHĐTP ngày 23/12/2000, con chung
của vợ chồng bao gồm :
Con sinh ra trong thời kì hôn nhân có nghĩa là sinh ra sau khi tổ chức đăng kí kết
hôn đến trước ngày chấm dứt hôn nhân.
Con do người vợ có thai trong thời kì hôn nhân nhưng được sinh ra trong vong
300 ngày kể từ hôn nhân chấm dứt do người chồng chết hoặc từ ngày bản án, quyết định
của Tòa án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn nhưng được cả vợ và chồng thừa nhận.
Theo Nghị định số 70 2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001, tại điều 21 , con chung của
vợ chồng bao gồm:
Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn
nhân .
Con sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ ngày người chồng chết hoặc kể từ ngày
bản án, quyết định của Tòa án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha, mẹ thừa nhận.
Trên thực tế có những trường hợp người phụ nữ kết hôn với người khác trong thời
hạn 300 ngày kể từ ngày hôn nhân chấm dứt và sau đó người phụ nữ sinh con, trong

hôn nhân là con của chồng mình.
Theo tinh thần của điều 63 Luật hôn nhann và gia đình năm 2000, thực tế cho thấy
rằng, trường hợp quan hệ hôn nhân chấm dứt trước pháp luật ( từ ngày người chồng chết
hoặc phán quyết ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật ), người vợ không đợi sau hạn
300 ngày đã kết hôn ngay với người khác ; nếu sau này người vợ đó sinh con thì con
được xác định là “con chung của vợ chồng”, tức là con của người chồng lấy sau (theo
nguyên tắc suy đoán “con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng”).
Cũng theo nguyên tắc suy đoán, pháp luật coi sự có mặt của người chồng khi đăng
ký khai sinh cho đứa trẻ do vợ mình sinh ra, tại cơ quan hộ tịch là sự mặc nhiên công
nhận đứa trẻ đó là “con chung của hai vợ chồng”.
Ngoài ra, hiện nay còn có những trường hợp trẻ sinh ra do sự can thiệp của y học
như : thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai hộ... chính phủ đã có nghị định số
12/2003/NĐ – CP ngày 12/02/2003 về sinh con theo phương pháp khoa học quy định cụ
thể vấn đề này, theo đó trẻ sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản từ người mẹ
trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc thân được nước xác nhận là con
của cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc thân đó. Trường hợp này đứa trẻ
sinh ra không cùng huyết thống với cha, mẹ của đứa trẻ. Do vậy để tránh phiền phức cho
cuộc sống sau này của đứa trẻ cũng như cặp vợ chồng hay người phụ nữ đơn thân áp
dụng sinh con theo phương pháp khoa học, Nghị định số 12/2003/NĐ – CP cũng đã quy
định: con được sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (thụ tinh nhân tạo, thụ tinh
trong ống nghiệm) thì không được quyền yêu cầu quyền thừa kế, quyền được nuôi
dưỡng đối với người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi.
Việc xác định quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp con thành thai trước khi vợ,
chồng đăng ký kết hôn nhưng được sinh ra sau khi quan hệ hôn nhân đã chấm dứt giải
quyết như thế nào?
Nghị định 70/2002/NĐ - CP đã khắc phục được điểm hạn chế này tại điều 21 khoản
2 xác định con chung của vợ chồng : “Con sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày
người chồng chết hoặc kể từ ngày bản án quyết định của Tòa án xử cho vợ chồng ly hôn
có hiệu lực pháp luật, thì được xác định là con chung của hai người”.Theo đó,Trường
hợp bên vẫn được xác định là con chung của vợ chồng nếu đứa trẻ được sinh ra trong

sinh lý hoặc chung sống với người mẹ đó không nhận con , khi có yêu cầu (theo quy
định tại các Điều 64, 65, và 66 ) thì Tòa án nhân dân phải căn cứ vào những chứng cứ là
người mẹ đó đã có thai với ai để xác định cha cho con ngoài giá thú. Bên cạnh đó còn có
thể nảy sinh trường hợp người mẹ sau khi sinh con ngoài giá thú, vì lý do nào đó đã bỏ
con, người khác đã nhận nuôi đứa trẻ đó, sau này người mẹ sinh con ngoài giá thú mới
xin nhận lại con thì có nghĩa vụ phải chứng minh chính mình đã sinh ra đứa trẻ đó; cũng
có thể có trường hợp người con ngoài giá thú đã thành niên có yêu cầu Tòa án xác định
cha, mẹ của mình hoặc theo luật định một người có quyền yêu cầu Tòa án xác định một
người đã chết là cha, mẹ, con của mình.
Tuy nhiên, pháp luật hôn nhân và gia đình mới chỉ dự liệu cơ sở pháp lý để xác
định cha, mẹ cho con trong giá thú ( trên cơ sở quy định “thời kỳ hôn nhân”) mà vẫn
chưa dự liệu cơ sở pháp lý để xác định cha mẹ cho con ngoài giá thú. Hiện nay, để , trên
cơ sở tham khảo thông tư số 15 ngày 27/9/1974 của TANDTC nay đã hết hiệu lực thi
hành, Tòa án phải dựa vào các chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra tập trung
vào các vấn đề sau để giải quyết việc “truy nhận cha cho con”:
Trong thời gian có thể thụ thai đứa con người đàn ông đã được khai là cha và
người mẹ đã công nhiên chung sống với nhau như vợ chồng.
Hai người đã yêu thương nhau, hứa hẹn kết hôn với nhau và trong thời gian có thể
thụ thai đứa con đã quan hệ sinh lý với nhau như vợ chồng, sau đó biết người phụ nữ có
thai và bỏ không kết hôn nữa.
Người mẹ đã bị người này hiếp dâm, cưỡng dâm trong thời gian có thể thụ thai
đứa con.
Sau khi sinh con, người này đã thăm nom, chăm sóc đứa con như là con của mình.
Có thư từ do người này viết xác nhận đứa con do người phụ nữ sinh ra là con của
họ.
Thực tế giải quyết các tranh chấp về xác định cha, mẹ, con ngoài giá thú rất phức
tạp, gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Người thẩm phán giải quyết vụ việc đòi hỏi phải là
người có trình độ pháp luật, vốn sống, kinh nghiệm thực tế, am hiểu và nắm được đặc
tính về tâm lý của đương sự ( vì thông thường các đương sự thường “ngần ngại”, lo lắng
khi nhận con ngoài giá thú, do nhiều yếu tố tác động). Đồng thời , trong quá trình điều

con của họ thì phải có chứng cứ. Trong trường hợp cần thiết thì phải giám định gien.
Người có yêu cầu giám định gien phải nộp lẹ phí giám định gien.
Theo khoản 2 Điều 21 NĐ số 70/NĐ – CP ngày 03/10/2001 thì “ Con sinh ra
trong vòng 300 ngày, kể từ ngày người chồng chết hoặc kể từ ngày bản án của Tòa án xử
cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật thì được xác định là con chung của hai người
”. Như vậy, quy định này đã khẳng định thời kỳ mang thai dài nhất của người phụ nữ
không quá 300 ngày kể từ ngày thụ thai ( dựa trên cơ sở y học về thời kỳ thai nghén của
người phụ nữ tối thiểu là 200 ngày, tôi đa là 286 ngày). Tuy nhiên, đối với con ngoài giá
thú, do pháp luật hôn nhân và gia đình không có quy định về “ thời kỳ hôn nhân” cũng
như “ thời kỳ thụ thai” của người mẹ nên việc xác định cha, mẹ cho con ngoài giá thú có
nhiều khó khăn.
TAND dựa vào các chứng cứ do đương sự cung cấp để giải quyết các tranh chấp
về xác định quan hệ cha, mẹ, con.
1.3.2.3. Việc thu thập chứng cứ để xác định cha, mẹ cho con rất khó khăn vì
những lý do sau:
Trong thực tế thì đương sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không hợp tác hoặc
là không muốn hợp tác khi cơ quan điều tra muốn thu thập chứng cứ để giải quyết. Điều
này ảnh hưởng không nhỏ đến việc thi hành công vụ. Đương sự, người có quền lợi,
nghĩa vụ liên quan có thể là do nhiều yếu tố như là bận công việc, hoặc là vì họ không
muốn nhận người con đó là con của mình nữa nên họ tìm cách để từ chối hợp tác, hoặc
cũng có thể vì lý do danh dự, uy tin, thể diện nên họ từ chối hợp tác….Ví dụ một người
đàn ông với một người phụ nữ sau một thời gian chung sống mà chưa đăng ký kết hôn,
kết quả là họ đã có với nhau một đứa con, và người phụ nữ muốn xác định cha cho đứa
trẻ, nhưng người đàn ông đó vì ngi ngờ người phụ nữ đó có quan hệ với người khác nên
lại không muốn,ngi ngờ người phụ nữ đó có quan hệ với người khác nên . Dẫn đến khó
khăn cho cơ quan điều tra trong việc thu thập chứng cứ để xác định cha cho đứa trẻ khi
có yêu cầu của người mẹ đứa trẻ.
Cũng có những trường hợp khi mà xác định cha, mẹ, con thì đương sự lại chết không có
đối chứng. Đây cũng là một yếu tố gây khó khăn cho cơ quan chức năng khi thu thập
chứng cứ. Ví dụ một người muốn xác định cha cho con mình nhưng vì người cha đó đã

phải có biện pháp thích hợp hơn để giảm đi phần nào chi phí giám định gien phù hợp với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status