Download miễn phí Tiểu luận Phong tục về Tang Ma
Trong quá trình quan sát và PVS cho thấy, những nghi lễ trước khi đang hấp hối theo người dân là những tục lệ cổ hủ và mang tính mê tín dị đoan nên đã mất dần và một số tục đã mất hẳn như thuỵ hiệu, phục hồn hay thiết hồn bạch và thay vào đó là những nghi thức đơn giản hơn.
- Trước khi nhập quan:
+ Lập tang chủ, chủ phụ: tức đặt một người làm chủ lễ tang.
+ Cáo phó: loan báo việc tang chế, ngày giờ mất
+ Trị quan: là việc sửa sang lại quan tài cho mới.
+ Mộc dục: tắm rửa cho người quá cố.
+ Phạn hàm: bỏ tiền và gạo vào miệng người đã chết.
+ Y phục thức: mặc quần áo cho người chết
+ Khâm liệm: bọc thây người chết bằng vải trắng trước khi bỏ vào quan tài.
+ Nhập quan: là đặt thi thể người chết vào quan tài.
http://s1.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-10-13-tieu_luan_phong_tuc_ve_tang_ma.L0QgJmi2Iv.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-40489/Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.Tóm tắt nội dung:
con người là hạt gạo, bát cơm. Hình ảnh bát cơm, quả trứng (đất- âm) cắm giữa đũa bông là mây ( trời- dương) thể hiện trời đất, âm dương hoà hợp, nhắc lại sự biến hoá âm dương sinh ra con người. Cũng là để sau sự chết mất đi, sự sống sinh sôi, nảy nở.
Theo Phạm Minh Thảo, bát cơm thể hiện sự đầy đặn, lòng hiếu thảo. Quả trứng ( sau này sẽ là con gà) là dấu tích của việc thờ thần Mặt Trời.
Mỗi nhà nghiên cứu lý giải theo một hướng khác nhau, từ những cách tiếp cận, quan niệm khác nhau. Tuy nhiên, có thể hiểu những điều kiêng kỵ đó theo một khía cạnh khoa học cũng rất hợp lý như sau:
Lý giải việc nước mắt rơi vào thi hài theo khoa học thì hoàn toàn khác, nhỏ nước mắt vào thi hài cũng giống như việc kiêng không cho mèo nhảy qua xác chết, có bát cơm và quả trứng phía trước quan tài, việc dỡ ngói hay lá tranh ở nhà chật hẹp, thai phụ, sản phụ không nên ở gần linh cữu khi nhập quan, đốt đèn hương xung quanh linh cữu… tất cả những điều kiêng kỵ này đều xuất phát từ kinh nghiệm dân gian, tuy chưa có chứng thực khoa học nhưng rất hợp về việc cân bằng âm dương.
Trên nắp quan tài thường có khúc chuối để cắm hương, hay khi rước tang, bao giờ cũng có bốn cây chuối làm bàn khiêng di ảnh. Đó là do cây chuối là đại hàn chi phẩm, chuối rất lạnh, đầy yếu tố âm, người chết cũng rất lạnh, đầy âm khí, nên phải dùng âm đẩy âm, tống tiễn âm đi. Cũng như ở trên chùa thường cúng chuối và oản, cả hai đều thuộc âm bởi vì cúng lễ ở trên chùa không cầu sinh. hay khăn áo tang màu trắng ( gần đây có màu đen) đều thuộc âm, âm tống tiễn âm đi.
Theo quan niệm xưa, người chết thường có âm khí, mang hơi lạnh. Việc kiêng kỵ nêu trên nhằm điều hoà khí âm dương, thu hút tà khí để chống hơi lạnh và đề xa hiện tượng “quỷ nhập tràng” ( hiện tượng người chết đột nhiên ngồi dậy). Xuất phát từ kinh nghiệm, dần dần trở thành phong tục, tập quán.
Dùng khói lửa ( hương, đèn, nến…) để triệt tiêu hơi lạnh. Dùng bát cơm, quả trứng để thu hút hơi lạnh ( có thể thấy điều này khi bổ đôi quả trứng, thấy nhiều quả trứng có lòng đỏ xanh thẫm giống như những quả trứng dùng để đánh gió). Nhốt mèo, không cho mèo nhảy qua xác chết, kiêng khóc nhỏ nước mắt vào người chết…nhằm đề phòng, triệt tiêu việc âm dương hút nhau xảy ra hiện tượng quỷ nhập tràng.
Dân gian công nhận hiện tượng hơi lạnh ở nhà người chết là hiện tượng có thực, hiện tượng vướng phải hơi lạnh ốm cũng là hiện tượng phổ biến, đặc biệt là những người mắc bệnh kinh niên như phong thấp, huyết áp cao, tâm thần…còn những thanh niên khoẻ mạnh thì không mấy ai bị ảnh hưởng.
Những người đến dự lễ tang, nhất là dự khâm liệm nhập áo quan có những thuật để phòng hơi lạnh như ngậm gừng sống, uống nước lá nhót, ăn trầu và xông khói vỏ bưởi, bồ kết trước và sau khi đến lễ tang.
3.4. Lễ thành phục (phát tang)
Sau khi tiến hành khâm liệm nhập quan là lễ thành phục ( phát tang), con cháu xoã tóc mặc đồ tang tuỳ ý theo thứ bậc, sắp hàng trước hương án để lạy khóc người quá cố.
3.5. Lễ đưa tang
Còn gọi là lễ phát dẫn. Thông thường dân gian thường xem ngày giờ để chôn cất, nhiều khi để chậm lại một hai ngày. Trước đó, người thân, xóm giềng có mặt đông đủ làm lễ tưởng niệm. Một người thân thay mặt đọc điếu văn tỏ lòng thương tiếc và lời hậu tạ tới những người đã đến đưa tiễn người chết. Sau khi người thân lạy khóc, người chấp sự hô: “Được ngày giờ, xin rước linh cữu lên đường”.
Đi đầu là người rải tiền vàng với dụng ý đó là tiền mãi lộ, dẫn đường cho người chết qua sông, qua suối một cách dễ dàng. Đồng thời, tiền đó cũng là tiền hối lộ cho ma quỷ không quấy nhiễu người chết trên đường siêu thoát.
Tiếp theo là hương án bày giá gương, bát hương, mâm hoa quả… Trướng đối của con cháu thân thuộc và bạn hữu phúng đều căng lên trục và đem đi rước. Ở thôn quê trướng đối thường là vải trắng chữ viết mực đen; những năm gần đây, người ta thường dùng tơ lụa nhung màu sắc rực rỡ thêu vẽ.
Con trai trưởng hay cháu trưởng cầm di ảnh đi trước xe tang. Đi sau xe sẽ là con cháu khóc than, níu giữ không cho những người đẩy xe mang người thân của mình đi.
Một vài nét về lễ tang tại Hiệp Hoà- Bắc Giang trong những năm gần đây
Quan niệm về cái chết
Các cụ Nho học xưa truyền lại câu “Vị tri sinh, yên tri tử”, việc sống còn chưa biết hết, biết làm sao được sự chết. Cửa miệng dân gian ta cũng có câu “Khi sống thì chẳng thấy đâu, lúc chết bày cỗ giết trâu tế ruồi”. Như vậy, sự sống, khi sống là cái quý giá thiêng liêng nhất. Không lo cho cái sống chu đáo, tốt đẹp thì đến khi lo cho cái chết dù thế nào đi nữa cũng là mỉa mai. Xã Thái Sơn, Hiệp Hoà, Bắc Giang là một vùng quê có điều kiện xã hội nông nghiệp từ lâu đời, dân số còn thưa, đất đai còn rộng, người dân quan niệm rằng, tang lễ là tổng hợp những hoạt động của người sống dành cho người chết, qua đó thể hiện quan niệm sinh tử của con người. Qua kết quả nghiên cứu PVS 15 người dân tại thôn Quế Sơn, xã Thái Sơn có thể nhận định một số quan niệm xung quanh vấn đề sinh tử như sau:
Qua tiến hành quan sát và PVS cho thấy trong nhận thức của người dân nông thôn nơi đây cho rằng, chết không có nghĩa là chấm dứt tất cả mà họ cho rằng có linh hồn người chết và có thế giới bên kia.
Ngày bố tui mới mất, mẹ tui bảo thường thấy ông trở về, lúc thì đi lại trong phòng, lúc thì ngồi uống trà ngoài gian nhà giống y hệt như lúc ông còn sống. ( Chị H, phiếu số 1).
Lúc sống thế nào thì chết đi vẫn mang hình dạng đó thôi, chỉ khác là con người có thể xác vật chất còn linh hồn thì giống như cái bong, có thể nhập vào người khác, bóng ma lúc ẩn lúc hiện nên có lúc nhìn thấy, có lúc thì không nhìn thấy, có người có thể nhìn thấy ma nhưng có người thì không bao giờ nhìn thấy được. Những người làm nghề bói, lên đồng nhìn thấy được người chết. ( Anh L, phiếu số 4).
Người chết đi thì hồn của họ cũng vẫn như khi còn sống, chỉ khác là hồn vô hình nên chúng ta không nhìn thấy được, nhưng linh hồn người chết nhìn thấy được chúng ta, đọc được tất cả những gì chúng ta đang nghĩ. ( Bà Q, phiếu số 2).
Chẳng hạn, có thể thấy, khi một người vừa chết thì họ hú gọi hồn trở về với thể xác hay hú gọi hồn nhập quan các vị thầy cúng…Thủ tục này cho thấy quan niệm linh hồn là một thực thể vô hình, độc lập với thể xác, trú ngụ trong thể xác. Vì vậy, để chuẩn bị cho người chết về với tổ tiên, thì người ta chuẩn bị cho người chết những thứ cần thiết, thiết yếu nhất ( mang tính tượng trưng) cho một cuộc sống, đó là: tiền gạo, quần áo và một số vận dụng đồ dùng sinh hoạt khác…Nghi thức này được tiến hành trong đám tang đã phản ánh quan niệm của người dân về sự tồn tại của linh hồn con người sau khi chết.
Trong tâm tưởng người dân nơi đây, họ đều coi linh hồn của con người vẫn tồn tại sau khi chết và những linh hồn này cũng có đời sống sinh hoạt như người sống. Nhìn chung, ...