1
2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHÍ THỊ NGỌC HƢƠNG
TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƯỜI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tất Viễn
HÀ NỘI - 2011
1
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan
Khách thể của tội phạm
13
1.2.2.2.
Mặt khách quan
17
1.2.2.3.
Chủ thể
27
1.2.2.4.
Mặt chủ quan
30
Chương 2: PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI VÔ Ý LÀM
CHẾT NGƢỜI QUA CÁC THỜI KỲ
36
2.1.
Tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự Việt Nam
trước năm 1945
36
2.1.1.
Tội vô ý làm chết người trong Quốc triều Hình luật
36
2.1.2.
Tội vô ý làm chết người trong Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia
40
2
Long)
2.1.3.
Tội vô ý làm chết người theo quy định của Bộ Hình luật Canh
do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính
54
2.4.3.
Phõn biệt tội vô ý làm chết người với tội vi phạm qui định
về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - trường
hợp dẫn đến hậu quả chết người
55
2.4.4.
Phân biệt tội vô ý làm chết người điều 98 với tội không cứu
giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính
mạng Điều 102 Bộ luật Hình sự năm 1999
57
2.5.
Qui định về tội vô ý làm chết người trong Pháp luật hình sự
một số nước
58
2.5.1.
Tội vô ý làm chết người trong Bộ luật Hình sự của nước
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
58
3
2.5.2.
Tội vô ý làm chết người trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga
59
2.5.3.
Tội vô ý làm chết người trong Bộ luật Hình sự Thái Lan
60
2.5.4.
Tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự Thụy Điển
Vướng mắc trong pháp luật
86
3.2.2.
Vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật
88
3.2.3.
Vướng mắc trong hoạt động tố tụng
90
3.2.4.
Vướng mắc trong tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật
98
3.3.
Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống
tội Vô ý làm chết người trong giai đoạn hiện nay
99
3.3.1.
Kiến nghị về pháp luật và áp dụng pháp luật
100
3.3.2.
Kiến nghị về hoạt động tố tụng
101
3.3.3.
Kiến nghị về thông tin, tuyên truyền phổ biến pháp luật
102
KẾT LUẬN
105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
109
69
3.5
Thống kê số bị cáo phạm tội vô ý làm chết người và số
vụ phạm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe nói chung đã
được xét xử ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010
70
3.6
Thống kê số vụ phạm các tội xâm phạm tính mạng đã
được xét xử ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010
70
3.7
Thống kê số bị cáo phạm các tội xâm phạm tính mạng đã
được xét xử ở Việt Nam giai đoạn 2006- 2010
71
3.8
Thống kê hình phạt áp dụng đối với các bị cáo phạm tội
vô ý làm chết người ở Việt Nam giai đoạn 2006- 2010
72
3.9
Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự về tội phạm nói chung
ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010
83
5
3.10
Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự về tội vô ý làm chết
người ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010
85
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tính mạng của con người là giá trị cao quý nhất của con người. Quyền
sống là quyền cơ bản, hàng đầu của con người.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao trong hệ thống các văn bản quy
phạm pháp luật, là đạo luật gốc mà các văn bản pháp luật khác phải tuân theo.
Quyền sống của con người được qui định tại điều 71 Hiến pháp năm 1992.
Đồng thời, được cụ thể hóa tại các điều 32, 609 Bộ luật Dân sự, Điều 8, Điều 24
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Bộ luật Hình sự năm 1999 (được
Quốc hội khóa X nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ
họp thứ 6 từ ngày 18/11 đến ngày 21 tháng 12 năm 1999) đã dành chương XII
quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của
con người. Đây là chương thứ hai phần các tội phạm cụ thể, chỉ đứng sau
chương quy định về các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Điều đó cho thấy vị
trí và vai trò đặc biệt quan trọng của quyền sống.
Trong thời gian qua, quyền sống - tính mạng của công dân được bảo
đảm trên nhiều phương diện. Tuy vậy, còn khá nhiều nguy cơ đe dọa sự sống
của con người cần được phòng ngừa, ngăn chặn và chống lại như các hành vi
xâm phạm tính mạng của con người.
Trong những năm gần đây, tội phạm xâm phạm tính mạng nói chung
Việt Nam và đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này", của Đỗ Đức Hồng
Hà
Trên thế giới có công trình của tác giả M.G. Ugrekhelidze: "Vấn đề lỗi
vô ý trong luật hình sự", Nxb Mesniereba Tbilixi, 1976, nói về lỗi vô ý trong
các tội phạm cấu thành vật chất và các tội phạm cấu thành hình thức. Trong
đó, có nhiều nội dụng liên quan đến tội vô ý làm chết người. Trước đó đã có
công trình của V.G. Makashvili về trách nhiệm hình sự đối với tội phạm do vô
8
ý của Nhà xuất bản Matxcơva 1957. Trong đó có đề cập đến vô ý gây chết
người trong lý luận và thực tiễn của luật hình sự Xô viết.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào tại Việt Nam nghiên cứu riêng về
tội vô ý làm chết người. Do vậy, cần có một công trình nghiên cứu về tội vô ý
làm chết người trong pháp luật hình sự Việt Nam.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Mục đích: Làm rõ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội vô ý làm
chết người. Trên cơ sở thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội vô ý làm
chết người đề xuất một số kiến nghị nhằm đấu tranh có hiệu quả loại tội phạm
này.
Nhiệm vụ: Đề tài làm rõ mặt lý luận về hành vi vô ý làm chết người,
khái niệm tội vô ý làm chết người, giới hạn can thiệp của pháp luật hình sự
đối với tội vô ý làm chết người. Sự cần thiết phải tội phạm hóa hành vi vô ý
làm chết người.
Nghiên cứu các qui định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội vô ý
làm chết người trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam, qui định về tội vô ý
làm chết người trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới.
Trên cơ sở số liệu thực tiễn, tổng kết đánh giá những vướng mắc trong
việc áp dụng Bộ luật Hình sự về tội vô ý làm chết người. Trong đó, phân tích
thực tiễn tội vô ý làm chết người trong giai đoạn hiện nay, đồng thời phân tích
thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật đối với tội vô ý làm chết người
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quy định tội vô ý làm chết người trong
Bộ luật Hình sự Việt Nam.
10
Chương 2: Pháp luật hình sự Việt Nam về tội vô ý làm chết người qua
các thời kỳ.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng qui định của pháp luật hình sự về tội vô ý
làm chết người và một số kiến nghị.
11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƢỜI
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. SỰ CẦN THIẾT QUY ĐỊNH TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƢỜI TRONG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Con người là tế bào của xã hội, là vốn quý nhất của xã hội, là chủ thể
của quan hệ xã hội cần được xã hội công nhận và bảo vệ các quyền con
người. Trong các quyền con người thì quyền thiêng liêng và cao quý nhất là
quyền sống. Đó là điều có ý nghĩa quan trọng nhất đối với bất kỳ cá nhân nào
và là cơ sở để mỗi cá nhân con người có thể thực hiện được các quyền khác
của mình được pháp luật công nhận và bảo vệ. Con người và các quyền con
người trở thành đối tượng quan trọng được luật hình sự nói riêng và pháp luật
nói chung bảo vệ. Các lĩnh vực liên quan đến con người được pháp luật hình
sự bảo vệ bao gồm nhiều nội dung, nhưng nội dung trước tiên và quan trọng
nhất đó là bảo vệ tính mạng của con người.
Khi có hành vi xâm phạm đến quyền sống của con người nó sẽ làm
đảo lộn và phá vỡ các quan hệ xã hội, gây thiệt hại nghiêm trọng cho bản thân
và gia đình nạn nhân, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự
Việc quy định phù hợp giữa tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi vi phạm và hình phạt có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó phát huy
hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm, đồng thời đảm bảo công bằng xã
hội. Hành vi càng thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội cao bao nhiêu thì hình
phạt đối với hành vi ấy phải càng nghiêm khắc bấy nhiêu. Khi hai yếu tố này
tương xứng sẽ góp phần giảm thiểu mặt trừng trị của hình phạt. Không chỉ
cộng đồng xã hội nói chung mà ngay cả người phạm tội cũng nhận thấy hình
phạt cho mình như vậy là thích đáng. Có như vậy, bản thân họ mới có thể cải
tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
13
Trong thực tiễn có rất nhiều hành vi xâm phạm tính mạng con người
với nhiều hình thức lỗi khác nhau: cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp, vô ý vì quá tự
tin và vô ý vì cẩu thả. Đối với trường hợp người phạm tội cố ý (bao gồm cả cố
ý trực tiếp và cố ý gián tiếp) xâm phạm tính mạng, thì tội danh được xác định
luôn là giết người, hoặc giết người có dự mưu trường hợp vô ý xâm phạm
tính mạng con người thì được xác định là vô ý làm chết người. Việc xâm
phạm tính mạng con người trong trường hợp này thể hiện tính nguy hiểm cao
cho xã hội. Trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam việc nhận thức tính
nguy hiểm cho xã hội của hành vi này đã được các nhà nước nhận thức rõ và
đã quy định tội vô ý làm chết người từ rất sớm. Do kỹ thuật lập pháp ở mỗi
giai đoạn lịch sử có khác nhau, nên việc quy định trong các văn bản pháp quy
mỗi thời mỗi khác. Nhưng tựu trung lại, đều thể hiện thái độ nghiêm khắc của
nhà nước trước hành vi nguy hiểm này.
Quy định tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự là công cụ
pháp lý để Nhà nước - thông qua bộ máy của mình - đấu tranh phòng chống
tội phạm. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử những năm qua cho thấy rằng,
mỗi loại tội phạm có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau,
phương pháp đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cũng khác nhau.
Nhưng cho dù như thế nào thì chúng đều gây những thiệt hại nhất định cho
trong phạm vi từng tội danh. Điều này thể hiện ở việc: đối với cùng một loại
hành vi vô ý làm chết người cũng có nhiều mức độ nguy hiểm khác nhau cần
thiết phải tiếp tục phân hóa theo từng khoản một để có thể đưa ra khung hình
phạt phù hợp. Bên cạnh việc phân hóa hành vi nguy hiểm cho xã hội của các
loại hành vi khác nhau thành các cấu thành tội phạm độc lập, mỗi cấu thành
tội phạm cũng cần phải phản ánh đúng tính nguy hiểm cho xã hội của tội
phạm. Xem xét phân tách cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng
nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng góp phần phân hóa trách nhiệm
hình sự của từng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi.
Hành vi vô ý làm chết người trong mỗi trường hợp khác nhau là khác
nhau. Nhưng để đảm bảo yêu cầu của phân hóa trách nhiệm hình sự, việc cụ
15
thể hóa trách nhiệm hình sự theo tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi là rất cần thiết. Trường hợp vô ý làm chết một người và vô ý làm chết
nhiều người tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi có sự khác biệt lớn. Chia
tách theo từng mức độ như vậy là cơ sở để chúng ta đưa ra mức chế tài phù
hợp. Sự phân hóa trách nhiệm hình sự càng triệt để bao nhiêu thì sẽ góp phần
tạo cơ sở pháp lý thuận lợi bấy nhiêu cho công tác cá thể hóa trách nhiệm
hình sự trong thực tiễn xét xử.
Từ những đòi hỏi nêu trên, Bộ luật Hình sự năm 1999 tách hành vi vô
ý làm chết người quy định thành một tội độc lập với hai cấu thành tội phạm
(cấu thành cơ bản tại khoản 1 và cấu thành tăng nặng trách nhiệm hình sự tại
khoản 2 Điều 98) là thật sự đúng đắn và cần thiết đáp ứng được đòi hỏi của lý
luận và thực tiễn.
1.2. KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI VÔ Ý LÀM
CHẾT NGƢỜI
1.2.1. Khái niệm
"Vô ý làm chết người" hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các trường
hợp vô ý làm chết người được quy định trong các đạo luật hình sự và văn bản
vi của một người làm cho người khác chết
Đưa ra khái niệm về vô ý làm chết người trong tội vô ý làm chết
người, Thẩm phán - ThS. Đinh Văn Quế đã nêu như sau: "Vô ý làm chết
người là hành vi của một người không thấy trước được hành vi của mình có
khả năng gây ra chết người mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hoặc
tuy thấy trước nhưng tin rằng hậu quả đó không xảy ra" [31, tr. 104]. Trong
khái niệm đã nêu rõ nội dung của hai hình thức lỗi vô ý vì quá tự tin và vô ý
vì cẩu thả trong yếu tố lỗi vô ý. Tuy nhiên, chúng ta thấy, khái niệm này nặng
về việc xác định hình thức lỗi hơn là việc đưa ra một khái niệm đủ sức để cá
biệt hóa hành vi vô ý làm chết người với các hành vi của các tội phạm khác
17
cũng có dấu hiệu vô ý làm chết người. Khái niệm trên cũng chưa nêu hậu quả
của hành vi đó là phải gây ra cái chết cho người khác. "Chết người" trong
khái niệm trên mới ở dạng tiềm năng "khả năng gây ra cái chết". Khái niệm
trên cũng giống như khái niệm thứ nhất chưa đề cập đến dấu hiệu năng lực
trách nhiệm hình sự và các dấu hiệu của chủ thể đối với tội phạm này, đồng
thời khái niệm này chưa làm rõ được ranh giới giữa hành vi của tội vô ý làm
chết người và các hành vi của các tội phạm khác cũng có dấu hiệu vô ý làm
chết người.
Về hành vi: Trong luật hình sự Việt Nam, hành vi vô ý làm chết người
không chỉ có trong tội vô ý làm chết người mà còn có trong một số tội phạm
được qui định tại các điều luật khác ví dụ như: "Tội làm chết người trong khi
thi hành công vụ"; "Tội làm chết người do vi phạm qui tắc nghề nghiệp hoặc
qui tắc hành chính";"Tội vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao
thông đường bộ" Về cơ bản, trong những trường hợp này cũng là vô ý làm
chết người, do vậy khái niệm tội vô ý làm chết người phải phân biệt được
ranh giới giữa tội vô ý làm chết người với các tội phạm khác cũng có dấu hiệu
vô ý làm chết người.
Hành vi vô ý làm chết người để xác định tội phạm và hình phạt theo
chính là sự tự do lựa chọn và tự do điều khiển hành vi của con người. Khi họ
có đủ các điều kiện để tự do lựa chọn, tự do điều khiển hành vi, nhưng họ đã
lựa chọn hành vi phạm tội, như vậy, họ đã có lỗi trong việc lựa chọn, quyết
định và thực hiện hành vi phạm tội. Trước những đòi hỏi của xã hội, người
phạm tội đã dùng ý chí và lý trí để lựa chọn hành động đi ngược lại với những
đòi hỏi của xã hội. "Người xử sự trái với lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã
hội trong khi có tự do lựa chọn thì có nghĩa họ là người có lỗi" [19, tr. 31].
Chỉ coi là Tội vô ý làm chết người khi tội phạm được thực hiện với lỗi vô ý
gây ra hậu quả chết người, bao gồm cả khi họ đã nhận thức được hậu quả
19
nguy hiểm có thể xảy ra, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc họ
có thể ngăn ngừa được (lỗi vô ý vì quá tự tin) và khi họ do cẩu thả nên không
thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả đó, mặc dù phải thấy trước
và có thể thấy trước hậu quả này (lỗi vô ý vì cẩu thả) (Điều 10 Bộ luật Hình sự
năm 1999).
Bên cạnh những đặc trưng riêng về hành vi, về hậu quả, về yếu tố lỗi
của tội Vô ý làm chết người, để đảm bảo sự đầy đủ của một khái niệm, trong
khái niệm cũng cần phải nêu được điều kiện về chủ thể của tội phạm như
năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cũng là hành
vi vi phạm các quy tắc sinh hoạt thông thường, cũng là hậu quả chết người,
cũng với lỗi vô ý, nhưng nếu tội phạm được thực hiện bởi chủ thể là người
không có năng lực trách nhiệm hình sự, chưa đủ tuổi thì cũng không cấu
thành tội phạm Vô ý làm chết người.
Bên cạnh đó, trên cơ sở khoa học chúng ta thấy rằng: một định nghĩa
khoa học nhất thiết phải đáp ứng được bốn tiêu chí chủ yếu là: "Chặt chẽ về
mặt lôgic, chính xác về mặt ngôn ngữ, ngắn gọn về mặt hình thức (cấu trúc)
và đầy đủ về mặt nội dung" [2, tr. 296].
Khi đưa ra khái niệm nói chung hay
tính từ thời điểm đứa trẻ được người mẹ sinh ra cho đến khi sự sống thực sự
chấm dứt. Theo đó, quyền sống của con người cũng được tính từ thời điểm
bắt đầu sự sống cho đến khi con người đó thực sự chấm dứt hoàn toàn sự
sống.
Về thời điểm bắt đầu sự sống của con người
Về mặt khoa học, trường hợp bào thai hiện nay trên thế giới cũng như
tại Việt Nam còn nhiều quan điểm trái ngược nhau. Xâm phạm đến sự sống
của bào thai thì có được coi là xâm phạm đến quyền sống hay không. Có quan
điểm cho rằng bào thai đã được coi như một con người (Luật hình sự bang
California - Hoa Kỳ). Vì bào thai đã thực sự bắt đầu sự sống, phát triển bình
thường với vai trò một thực thể sống. Theo quan điểm này thì bảo vệ bào thai
cũng như việc bảo vệ con người. Việc xâm phạm đến sự sống của bào thai,
21
cũng là xâm phạm quyền sống và có thể trở thành tội phạm xâm phạm tính
mạng con người.
Quan điểm thứ hai cho rằng bào thai chưa được coi là con người.
"Thời điểm để được coi là con người là thời điểm bào thai được sản phụ sinh
ra" [49, tr.11]. Bào thai tuy đã bắt đầu sự sống trong tử cung của người mẹ.
Tuy nhiên, bào thai chưa tồn tại độc lập. Toàn bộ dinh dưỡng, hô hấp của bào
thai đều hoàn toàn phụ thuộc vào người mẹ, là một phần trong cơ thể người mẹ.
Sự sống hay chết của người mẹ sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến sự sống hay chết
của bào thai. Bào thai chưa là một thực thể độc lập trong thế giới khách quan.
Tại mỗi quốc gia khác nhau trên thế giới chính sách hình sự của mỗi
nước khác nhau rất nhiều. Tùy thuộc vào văn hóa, kinh tế, chính trị và đặc
điểm xã hội của mỗi quốc gia mà việc xác định thời điểm bắt đầu sự sống của
mỗi con người theo pháp luật của mỗi quốc gia cũng khác nhau. Ngoài ra còn
phụ thuộc vào các chính sách phát triển trong đó có chính sách dân số Ở
một số nước trên thế giới, bào thai được coi như một con người, do đó đã trở
thành đối tượng của tội phạm xâm phạm tính mạng nói chung, như Cộng hòa
Về thời điểm chấm dứt hoàn toàn sự sống.
Thông thường chúng ta sử dụng thuật ngữ "chết" hay "sự chết". Theo
giáo trình Y pháp học, "sự chết là kết thúc không thể hồi phục hoạt động sống
của một cá thể" [11]. Xét dưới khía cạnh sinh học. Trên một cơ thể sinh học
nói chung, luôn luôn có sự suy thoái, già và chết đi của các tế bào, của hồng
cầu, của một bộ phận mô - cơ quan bị cắt bỏ, bị hoại tử. Ngược lại, khi một cơ
thể đã chính thức báo tử vẫn còn rất nhiều cơ quan mô, tạng, tế bào vẫn duy
trì sự sống của riêng nó một thời gian sau đó.
Sự chết xảy ra không phải chỉ trong một thời điểm mà chính xác là
một quá trình. Theo quan niệm kinh điển, quá trình chết gồm giai đoạn hấp
hối, giai đoạn chết lâm sàng và giai đoạn chết sinh học. Ở giai đoạn hấp hối,
các chức năng sống của cơ thể rơi vào tình trạng suy thoái, rối loạn. Trung
23
khu thần kinh bị ức chế sâu, ý thức mơ hồ hoặc mất hẳn, các phản xạ thần
kinh mất. Tim đập chậm lại, rời rạc, huyết áp tụt, hô hấp bị rối loạn, thở yếu,
có cơn ngừng thở. Giai đoạn chết lâm sàng được bắt đầu với dấu hiệu ngừng
thở, ngừng tim. Tiếp đó giãn hết đồng tử, mất hoàn toàn các phản xạ. Giai
đoạn này có thể dẫn đến việc chết não khi các tế bào thần kinh và mô não bị
mất oxy nuôi dưỡng. Thông thường, khả năng chịu thiếu oxy của não từ 5-7
phút, nếu quá thời hạn đó, con người không thể hồi sinh. Giai đoạn chết sinh
học là giai đoạn chết thực thể của mô tế bào. Quá trình trao đổi chất của cơ
thể ngừng lại. Bắt đầu xuất hiện sự thoái hóa, hoại tử, không còn khả năng hồi
phục. Giai đoạn này chính thức xác định sự chết của con người.
Từ những phân tích trên chúng ta có thể xác định rõ rằng: khách thể
của tội vô ý làm chết người là quyền sống của con người độc lập. Quyền sống
này được xác định từ thời điểm đứa trẻ được người mẹ sinh ra - kết thúc quá
trình sinh, cho đến khi người đó thực sự chết - giai đoạn chết sinh học.
Do đó, sự tác động vào cơ thể con người trong khoảng xác định nêu
trên gây ra cái chết cho con người đều xác định là hành vi xâm phạm tính