ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HÀ HỒNG SƠN
CÁC TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƯỜI
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Tiến Việt
HẢ NỘI - 2011
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA Lời cam đoan MỤC LỤC Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1
Phân biệt các tội vô ý làm chết người với một số tội phạm
khác theo luật hình sự Việt Nam
20
1.3.
Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự
Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến trước khi ban hành Bộ
luật hình sự năm 1999 về các tội vô ý làm chết người
23 1.3.1.
Giai đoạn từ thời kỳ phong kiến Việt Nam đến trước Cách
mạng tháng Tám năm 1945
23
1.3.2.
Giai đoạn từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công
cho đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự
năm 1985
27
1.3.3.
Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự năm 1999
30
Chương 2: Các tội vô ý làm chết người theo QUY Định Của Bộ Luật
Hình Sự việt nam NĂM 1999 và thực tiễn xét xử ở nước ta
hiện nay
33
2.1.
Các tội vô ý làm chết người theo quy định của Bộ luật hình sự
Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật những quy định của Bộ
luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội vô ý làm chết người
74
3.1.2.
ý nghĩa của việc hoàn thiện pháp luật những quy định của Bộ
luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội vô ý làm chết người
75 3.2.
Hoàn thiện những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam
năm 1999 về các tội vô ý làm chết người
75
3.2.1.
Nhận xét chung
75
3.2.2.
Một số nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể
76
3.3.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định
của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội vô ý làm
chết người
80
3.3.1.
Tăng cường công tác xây dựng pháp luật, đồng thời hướng
dẫn, giải thích những quy định của của Bộ luật hình sự liên
quan đến các tội vô ý làm chết người
80
3.3.2.
2.2
Tổng số vụ, số bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội vô ý làm
chết người từ năm 2005 đến năm 2010
41
2.3
Phân tích chế tài theo quyết định của Tòa án
42
2.4
Đặc điểm về nhân thân của các bị cáo bị xét xử về tội vô
ý làm chết người
43
2.5
Tổng số vụ án, bị cáo do Tòa án xét xử về tội vô ý làm
chết người trong tương quan với các tội xâm phạm tính
mạng của con người (các tội từ Điều 93 đến Điều 103 Bộ
luật hình sự)
44
2.6
Tổng số vụ án, bị cáo do Tòa án xét xử về tội vô ý làm
chết người trong tương quan với các tội xâm phạm an
toàn công cộng, trật tự công cộng (các tội từ Điều 202
đến Điều 256 Bộ luật hình sự)
45
2.7
Tổng số vụ, số bị cáo và tổng số vụ, bị cáo về tội vô ý
làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy
tắc hành chính phải giải quyết trên địa bàn toàn quốc
trong thời gian từ năm 2005-2010
47
2.8
Số bị cáo do Tòa án xét xử từ năm 2005-2010 (thống kê
cấp tỉnh + quận/huyện) về tội giết người, tội vô ý làm
chết người, tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc
nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, tội vô ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác, tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp, tội
vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ và tội vi phạm quy định về an toàn lao động
54
2.14
Những loại tội phạm chính qua nghiên cứu ngẫu nhiên
175 bản án hình sự sơ thẩm của các Tòa án nhân dân cấp
tỉnh trên địa bàn cả nước đã xét xử từ ngày 01-01-2010
đến ngày 31-12-2010
57
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong cuộc sống của con người thì những lợi ích về nhân thân (tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm) có ý nghĩa quan trọng nhất. Chính vì
vậy mà Tuyên ngôn thế giới về quyền con người ngày 10-12-1948 của Đại
Hội đồng Liên hợp quốc đã tuyên bố: "Mọi người đều có quyền sống và
quyền an toàn về cá nhân". Như vậy, quyền sống là quyền trước tiên và quan
trọng nhất của con người. Mọi hành vi xâm phạm quyền sống của con người
đều bị coi là hành vi phạm tội nghiêm trọng nhất và phải bị nghiêm trị theo
tuyên truyền, giáo dục về pháp luật, các Tòa án đã áp dụng các hình phạt
nghiêm khắc đối với những người có hành vi phạm tội để đấu tranh, nhưng do
sự thiếu hiểu biết của người dân nên trên thực tế, loại tội này vẫn tiếp tục xảy
ra. Ngoài ra, trong quá trình xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng, duy tu, sửa
chữa, quản lý các công trình giao thông phục vụ cuộc sống, đã xảy ra việc
một số người bị chết do rò rỉ điện tại các thiết bị điện công cộng, ngã xuống
cống ngầm…nhưng do chưa có hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền về
các trường hợp này, nên chưa được giải quyết một cách triệt để. Thực tiễn xét
xử cho thấy, việc đánh giá chứng cứ trong những vụ án này rất phức tạp; bởi
lẽ, văn bản pháp luật để các Tòa án áp dụng trong việc xét xử đối với loại tội
này chưa đầy đủ, rõ ràng. Tình trạng đó đã và đang gây nhiều khó khăn cho
các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong công tác điều tra,
truy tố và xét xử cũng như trong chủ động phòng và đấu tranh chống tội
phạm, gây ảnh hưởng tới việc phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý
nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không
làm oan người vô tội; gây tổn hại tới lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, tổ chức, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Ở một chừng mực nhất định, do các quy định của luật hình sự Việt
Nam về các tội vô ý làm chết người còn chưa cụ thể, rõ ràng, chưa bảo đảm
5
tính hệ thống, đồng bộ; đặc biệt là thiếu quy phạm định nghĩa và các quy định
liên quan đến các yếu tố định tội danh và định khung hình phạt nên dẫn đến
nhiều cách hiểu khác nhau, không thống nhất trong việc nhận thức các dấu hiệu
pháp lý, việc định tội danh và đường lối xử lý đối với các tội phạm này. Có
trường hợp không làm sáng tỏ được ranh giới giữa tội phạm và các hành vi vi
phạm pháp luật khác, sự khác nhau giữa các tội vô ý làm chết người với một số
tội phạm khác có cùng tính chất lỗi vô ý trong Bộ luật hình sự như: tội vi phạm
quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202), tội vi phạm
quy định về duy tu, sửa chữa, quản lý các công trình giao thông (Điều 220),
Chương IV- Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm
của con người, trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm),
tập thể tác giả do TSKH.GS Lê Văn Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2003; GS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giáo trình Luật hình sự Việt
Nam (Phần các tội phạm), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003. Ngoài ra,
các vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử còn được nghiên cứu trong một số công
trình nghiên cứu của ThS. Đinh Văn Quế như Bình luận khoa học Bộ luật hình
sự năm 1999 - Phần chung, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000; Bình luận
chuyên sâu Bộ luật hình sự, tập I, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
danh dự và nhân phẩm của con người, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2003;
TS. Nguyễn Đức Mai, Phân biệt tội gây thương tích dẫn đến chết người với
tội giết người và tội vô ý làm chết người, Tạp chí Tòa án nhân dân số
07/1998; PGS.TS Trần Văn Luyện, Những điểm mới cơ bản về các tội xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người trong Bộ luật
hình sự năm 1999, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 03/2001; TS. Đỗ Đức
Hồng Hà, Phân biệt tội giết người với một số tội phạm khác xâm phạm tính
mạng con người, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 02/2003. Bên cạnh đó, còn
phải kể đến một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ Luật học chuyên ngành
Tư pháp hình sự nghiên cứu các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe
7
con người, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập trực tiếp đến
các tội vô ý làm chết người.
Như vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên đã phần nào làm sáng tỏ
một số vấn đề về khái niệm, dấu hiệu pháp lý đặc trưng của cả nhóm tội xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, trong đó có
các tội vô ý làm chết người; nhưng dưới góc độ khoa học pháp lý, đến nay
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề
lý luận và thực tiễn xét xử đối với các tội vô ý làm chết người ở cấp độ một
luận văn thạc sĩ luật học.
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội học; phương pháp so
sánh, đối chiếu; phân tích quy phạm pháp luật, khảo sát thực tiễn; nghiên cứu,
điều tra án điển hình… để phân tích và luận chứng các vấn đề khoa học cần
nghiên cứu trong luận văn này.
6. Những đóng góp mới của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về hành
vi vô ý làm chết người trong khoa học luật hình sự Việt Nam; phân tích thông
qua nghiên cứu số liệu thực tiễn xét xử sơ thẩm trên địa bàn toàn quốc từ năm
2005-2010 và các bản án hình sự cụ thể của một số Tòa án để đánh giá. Qua
đó chỉ ra những mâu thuẫn, bất cập trong các quy định của pháp luật hiện
hành; các sai sót trong quá trình áp dụng các quy định đó, cũng như đưa ra
9
nguyên nhân để tìm giải pháp khắc phục, đề xuất những giải pháp nâng cao
hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về các tội vô ý làm chết
người ở khía cạnh lập pháp hình sự và việc áp dụng trong thực tiễn.
6.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập.
Những đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học
phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự
Việt Nam liên quan đến các tội vô ý làm chết người, qua đó góp phần nâng cao
hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống những tội này hiện nay và sắp tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về các tội vô ý làm chết người theo
quy luật khách quan. Hoạt động của con người cũng chịu sự chi phối của những
quy luật khách quan. Tuy vậy, nhờ hoạt động có ý thức, con người có khả năng
nhận thức được quy luật và lợi dụng quy luật để thực hiện mục đích của mình,
đó là sự tự do của con người. Con người có tự do đối với xử sự của mình có
nghĩa là họ có tự do lựa chọn, quyết định và thực hiện xử sự. Tuy nhiên, con
người chỉ có thể tự do thực sự khi xử sự của họ phù hợp với quy luật, nếu không
11
phù hợp với quy luật thì có nghĩa họ đã tự tước bỏ khả năng tự do của mình. Tự
do và trách nhiệm là hai phương diện của một vấn đề, không thể có trách nhiệm
mà không được tự do, cũng như không thể có tự do không liên quan gì đến
trách nhiệm đối với người khác, đối với xã hội. Tự do không phải bẩm sinh
con người có được mà gắn với quá trình hoạt động, lịch sử phát triển của loài
người.
Trách nhiệm được hiểu là khả năng của con người ý thức được những
kết quả hoạt động của mình, đồng thời là khả năng thực hiện một cách tự giác
những nghĩa vụ được đặt ra cho mình. Cũng như tự do, trách nhiệm của con
người được quy định bởi những nhu cầu phát triển của đời sống con người.
Trách nhiệm hình thành trong quá trình điều chỉnh lợi ích giữa cá nhân với
cộng đồng và xã hội. Lợi ích của mỗi người chỉ có thể thực hiện được trong
một tương quan nhất định với lợi ích của lợi ích của một xã hội nhất định.
Trách nhiệm tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là hình thái tích cực, tức là hình
thái có trách nhiệm của con người và hình thái tiêu cực, tức là hình thái chịu
trách nhiệm của con người. Dưới hình thái tích cực, trách nhiệm thể hiện ở
những hoạt động nhằm duy trì, phát triển trật tự xã hội, pháp chế, đạo đức.
Còn dưới hình thái tiêu cực, trách nhiệm phát sinh từ những lợi ích của xã hội
và của con người bị vi phạm, khi không thực hiện đầy đủ trách nhiệm với xã
hội thì người đó phải chịu trách nhiệm trước xã hội. Có thể nói, con người có
trách nhiệm là con người thấy trước những hậu quả của hành động của mình,
cố gắng ngăn chặn những tác hại có thể xảy ra đối với lợi ích của xã hội.
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, tuy có nhiều cách thể hiện
khác nhau, song về cơ bản các quan điểm đều thống nhất về nội hàm của chế
định lỗi là nhằm xác định rõ lý trí và ý chí của người phạm tội đối với những
biểu hiện bên ngoài của tội phạm.
13
Có quan điểm định nghĩa lỗi căn cứ vào mặt hình thức của lỗi như
sau: "Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã
hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới
hình thức cố ý hoặc vô ý" [22, tr. 101].
Có quan điểm định nghĩa lỗi theo đặc điểm cấu trúc tâm lý, cụ thể là:
"Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là có lỗi nếu khi thực
hiện nhận thức được hoặc có đủ điều kiện để nhận thức được tính nguy hiểm
cho xã hội của hành vi và có đủ điều kiện lựa chọn, thực hiện hành vi khác
phù hợp với đòi hỏi của xã hội" [23, tr. 91].
Có quan điểm cho rằng:
Lỗi hình sự là mặt chủ quan của tội phạm và là một trong
những điều kiện bắt buộc của trách nhiệm hình sự, đồng thời là thái
độ tâm lý của người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị
luật hình sự cấm mà người đó thực hiện và hậu quả do hành vi ấy
gây nên dưới hình thức cố ý hoặc vô ý [9, tr. 422].
Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quan điểm khác nhau trên đây về
lỗi và căn cứ vào các quy định về lỗi trong pháp luật hình sự Việt Nam, có thể
đưa ra khái niệm về lỗi như sau: Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với
hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm mà họ đã thực
hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra.
Căn cứ vào các yếu tố lý trí và ý chí trong những trường hợp có lỗi,
trong cả ba lĩnh vực thể hiện của luật hình sự Việt Nam (pháp luật hình sự
thực định, lý luận và xét xử) bao gồm hai hình thức lỗi - cố ý và vô ý. Hình
cho xã hội của hành vi đó.
15
Thứ hai, người phạm tội tuy có khả năng nhận thức được tính chất
thực tế của hành vi nhưng hoàn toàn không nhận thức được khả năng gây hậu
quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình.
Thứ ba, người phạm tội nhận thức được tính chất thực tế của hành vi,
nhận thức được hậu quả xảy ra nhưng sau khi cân nhắc đã loại trừ khả năng
đó khi lựa chọn hành vi. So với lỗi cố ý thì đây là điểm khác nhau cơ bản, vì
trong trường hợp lỗi cố ý, người phạm tội đã chấp nhận khả năng hậu quả xảy
ra khi lựa chọn và thực hiện hành vi. "Trong trường hợp lỗi vô ý, người phạm
tội loại trừ khả năng đó và cho rằng hậu quả không xảy ra" [25, tr. 151].
Căn cứ vào việc người phạm tội không nhận thức được đầy đủ tính
nguy hiểm cho xã hội của hành vi trong những trường hợp có lỗi vô ý, khoa
học luật hình sự phân lỗi vô ý thành hai hình thức là vô ý phạm tội vì cẩu thả
và vô ý phạm tội vì quá tự tin. Với cách phân chia này, lỗi vô ý phạm tội vì
cẩu thả bao gồm những trường hợp người phạm tội không nhận thức được đầy
đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi (không thấy trước hậu quả). Trường
hợp không nhận thức được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tuy
nhận thức được khả năng hậu quả xảy ra nhưng đã tự loại trừ khả năng đó
thuộc hình thức lỗi vô ý phạm tội vì quá tự tin.
Trong thực tiễn cuộc sống, hành vi phạm tội do lỗi vô ý thường được
biểu hiện dưới các hình thức như: thiếu tinh thần trách nhiệm trong công tác
chuyên môn nghiệp vụ; thiếu kỷ luật trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao;
thái độ bất cẩn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; không quan tâm đến tính
mạng và lợi ích của những người xung quanh; làm những công việc không
phù hợp với năng lực chuyên môn của bản thân; thiếu kinh nghiệm và không
được chuẩn bị chu đáo về chuyên môn nghiệp vụ. Các lĩnh vực thường xảy ra tội
phạm do lỗi vô ý là các tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao
thông, vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy; vi phạm quy định về
còn bị ảnh hưởng bởi các điều kiện khách quan như khả năng kinh tế, trình độ
17
khoa học kỹ thuật, các phương tiện đảm bảo an toàn. Ngoài ra, còn phụ thuộc
nhiều vào ý thức tuân thủ pháp luật và kỷ luật của con người; vì vậy, nếu áp dụng
những hình phạt nghiêm khắc đối với các tội phạm được thực hiện với lỗi vô ý
thì tác dụng của luật hình sự đối với những hành vi này là rất hạn chế và trong
nhiều trường hợp, đi ngược lại quan điểm nhân đạo trong chính sách hình sự
của Nhà nước ta.
Có thể thấy rằng đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội nói chung
và những hành vi được thực hiện với lỗi vô ý nói riêng, việc áp dụng các quy
định của Bộ luật hình sự nhằm đảm bảo việc giáo dục ý thức pháp luật, giữ
gìn trật tự, kỷ cương trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, cũng như nâng
cao trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trong công tác chuyên môn, nghề
nghiệp là cần thiết. Ngoài ra, để thực hiện nguyên tắc công bằng trong luật
hình sự, đòi hỏi phải có sự bình đẳng khi quy định và áp dụng trách nhiệm
hình sự và hình phạt giữa những người phạm tội do lỗi cố ý cũng như phạm tội
do lỗi vô ý. Chính vì vậy, trong công tác xây dựng và áp dụng pháp luật, cũng
cần quan tâm đến lợi ích của bản thân người phạm tội, việc áp dụng loại và
mức hình phạt chỉ đến mức cần và đủ và đạt được mục đích của hình phạt, chỉ
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp vô ý phạm tội gây hậu
quả nghiêm trọng qua đó bảo đảm sự công bằng và nguyên tắc nhân đạo của
pháp luật hình sự, cũng như đáp ứng các yêu cầu đấu tranh phòng và chống
tội phạm.
Qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận của chế định lỗi nói chung và cơ sở
lý luận của việc quy định các tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý
nói riêng, tác giả luận văn cho rằng: Lỗi vô ý là trường hợp người phạm tội
khi hành động đã không có ý thức lựa chọn cách thức phạm tội, họ đã thực
hiện tội phạm trong khi có đủ điều kiện để lựa chọn một hành vi khác không
gây thiệt hại cho xã hội; ngoài ra, người phạm tội vì không thấy trước hậu
Có quan điểm cụ thể hóa hơn biểu hiện của hành vi phạm tội vô ý làm
chết người và đã nêu tương đối đầy đủ nội dung khái niệm tội phạm này, song
vẫn thiếu dấu hiệu chủ thể của tội phạm, theo đó:
Vô ý làm chết người là trường hợp vô ý gây ra hậu quả chết
người do vi phạm quy tắc an toàn về tính mạng, sức khỏe trong
những lĩnh vực khác nhau của hoạt động chung xã hội. Những quy
tắc này có thể đã được quy phạm hóa hoặc có thể chỉ là những quy
tắc xử sự xã hội thông thường đã trở thành nếp quen sinh hoạt, mọi
người đều biết và thừa nhận. Trong Bộ luật hình sự có nhiều tội
danh khác nhau được quy định cho hành vi vô ý làm chết người, tùy
thuộc vào lĩnh vực có quy tắc an toàn mà chủ thể đã vi phạm. Các
trường hợp vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc an toàn công
cộng (an toàn giao thông, an toàn lao động, an toàn trong xây
dựng, an toàn trong quản lý vũ khí ) được quy định thành những
tội danh khác nhau thuộc nhóm các tội xâm phạm an toàn công
cộng. Tội vô ý làm chết người được quy định trong Chương "Các
tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con
người" gồm những trường hợp vô ý làm chết người còn lại chưa
được quy định thành các tội riêng [25, tr 297].
Tuy nhiên, qua nghiên cứu cơ sở lý luận của chế định lỗi nói chung và
các tội phạm được thực hiện do lỗi vô ý nói riêng, tác giả luận văn tán thành
với cách lập luận về tội vô ý làm chết người như sau:
Vô ý làm chết người là trường hợp người phạm tội có năng lực trách
nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật hình sự đã có hành
vi vi phạm quy tắc an toàn nhằm đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe cho
con người. Các quy tắc đó thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể đã được
quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hoặc có thể chỉ là những quy
tắc xử sự thông thường đã trở thành tập quán sinh hoạt, được mọi người biết
20