Miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự việt nam và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh đắk lắk - Pdf 34

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NG NGC HUY

miễn trách nhiệm hình sự
theo luật hình sự việt nam và thực tiễn áp dụng
trên địa bàn tỉnh đắk lắk

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NG NGC HUY

miễn trách nhiệm hình sự
theo luật hình sự việt nam và thực tiễn áp dụng
trên địa bàn tỉnh đắk lắk
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. TRNH TIN VIT

H NI - 2015


1.2.

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CÁC QUY ĐỊNH VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NAY .............................................. 18

1.2.1. Giai đoạn từ Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước
pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 .... 18
1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến khi
pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 ...... 24
1.3.

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN
THẾ GIỚI VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ............................ 28

1.3.1. Bộ luật hình sự Liên bang Nga ........................................................... 29
1.3.2. Bộ luật hình sự Vương quốc Thụy Điển ............................................. 33
1.3.3. Bộ luật hình sự Tây Ban Nha .............................................................. 37
1.3.4. Bộ luật hình sự Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào .............................. 38


Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK ................................... 40
2.1.

QUY ĐỊNH CỦA PHẦN CHUNG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ.................................... 41


3.1.

SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ......................... 74

3.1.1. Về phương diện thực tiễn áp dụng ...................................................... 74
3.1.2. Về phương diện lý luận ....................................................................... 75
3.1.3. Về phương diện lập pháp hình sự ....................................................... 76
3.2.

KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ................... 77

3.2.1. Nhận xét .............................................................................................. 77
3.2.2. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung.................................................................. 81
3.3.

NHỮNG KIẾN NGHỊ KHÁC NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP
DỤNG QUY ĐỊNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ .................................................... 84

3.3.1. Sửa đổi, bổ sung thống nhất về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự
trong Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự ................................ 84
3.3.2. Sự tham gia của các cơ quan, tổ chức và gia đình người được
miễn trách nhiệm hình sự để giám sát, quản lý và giáo dục ............... 85
3.3.3. Nâng cao ý thức pháp luật, năng lực, trình độ chuyên môn của
người có thẩm quyền áp dụng miễn trách nhiệm hình sự ................... 88
3.3.4. Tăng cường hiệu quả của Viện kiểm sát trong việc đình chỉ điều
tra, đình chỉ vụ án do miễn trách nhiệm hình sự ................................. 89


Bảng 2.5. Phân tích 28 vụ án được miễn trách nhiệm sự trong
giai đoạn 05 năm (2009 - 2013)

66


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu
biểu đồ

Tên biểu đồ

Trang

Biểu đồ 2.1. Tổng số vụ án được các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh
Đắk Lắk áp dụng miễn trách nhiệm hình sự trong giai
đoạn 05 năm (2009 - 2013)

60

Biểu đồ 2.2. Tổng số bị can, bị cáo được các cơ quan tiến hành tố
tụng tỉnh Đắk Lắk áp dụng miễn trách nhiệm hình sự
trong giai đoạn 05 năm (2009 - 2013)

61

Biểu đồ 2.3. Tổng số vụ án và tổng số bị can, bị cáo được miễn trách
nhiệm hình sự trong giai đoạn 05 năm (2009 - 2013)


1


nhân đạo, nhân văn, phản ánh nguyên tắc xử lý “nghiêm trị kết hợp với khoan
hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục thuyết phục”, cũng như phản ánh yêu cầu “không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu
tranh phòng, chống tội phạm và giáo dục cải tạo người phạm tội” [60, tr.274]. Vì
vậy, việc áp dụng chính xác quy định về miễn trách nhiệm hình sự không
những góp phần củng cố, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững
chắc các quyền và tự do của công dân bằng pháp luật hình sự, mà còn bảo đảm
đấu tranh phòng, chống tội phạm và đa dạng hóa hơn nữa các biện pháp xử lý.
Đặc biệt, hoàn thiện quy định Bộ luật hình sự nước ta về miễn trách nhiệm hình
sự còn góp phần thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày
02/6/2005 về “Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị
đã quy định các nhiệm vụ cải cách tư pháp đã đề cập:
Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư
pháp phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật. Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ
tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng
thiện trong việc xử lý người phạm tội...
Ngoài ra, miễn trách nhiệm hình sự cũng là một vấn đề phức tạp và
luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học pháp lý. Cho đến nay, đã
có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết về vấn đề này. Tuy vậy, vẫn còn
nhiều vấn đề chưa thống nhất như: khái niệm, đặc điểm, hậu quả pháp lý,
cũng như chưa tổng kết thực tiễn xét xử. Hiện nay, trên địa bàn cả nước nói
chung, địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng, các cơ quan tiến hành tố tụng ít nhiều
còn gặp khó khăn trong việc áp dụng quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam
về miễn trách nhiệm hình sự. Theo đó, hiện tượng sai hay bỏ lọt tội phạm,
nhầm lẫn giữa miễn trách nhiệm hình sự với loại trừ trách nhiệm hình sự, với
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc cho miễn trách nhiệm hình sự để

phần đáp ứng yêu cầu mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện
đại hóa, hội nhập khu vực và quốc tế của đất nước.

3


Vì vậy, từ các lý do đã nêu trên, học viên quyết định chọn đề tài: “Miễn
trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng trên
địa bàn tỉnh Đắk Lắk” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu chủ đề về “miễn trách nhiệm hình sự” cho thấy đã có nhiều
công trình nghiên cứu trực tiếp và gián tiếp về vấn đề này trên các sách báo
pháp lý hình sự ở trong và ngoài nước như sau:
* Dưới góc độ sách báo pháp lý nước ngoài, đó là những công trình sau
đây: 1) Michael Bogdan (chủ biên), Mục 4 - Miễn trách nhiệm hình sự, trong
sách: Luật hình sự Thụy Điển trong kỷ nguyên mới, Nxb. Elanders Gotab,
Stockholm, 2000; 2) TS. Agnê Barans Kaitê và TS. Jonas Prapistis, Miễn
trách nhiệm hình sự và mối quan hệ với Hiến pháp và tư pháp, Tạp chí Tư
pháp, Cộng hòa Látvia, số 7 (85)/2006; một số công trình khoa học bằng tiếng
Nga được dẫn ra trong Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản
trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội,
2005 của GS.TSKH. Lê Văn Cảm [9, tr.993-1001]; v.v...
* Dưới góc độ sách chuyên khảo, giáo trình trong nước, có các công
trình sau đây: 1) GS. TSKH. Lê Văn Cảm, Mục III - Chế định miễn trách
nhiệm hình sự, Chương 8, trong Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề
cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2005; 2) GS. TSKH. Lê Cảm (chủ biên), Trách nhiệm hình sự và miễn
trách nhiệm hình sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005; 3) TS. Trịnh Tiến Việt,
Chương 3, Trong sách: Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb. Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2013 và, Pháp luật hình sự Việt Nam về miễn trách nhiệm

Luận văn có mục đích làm sáng tỏ về phương diện lý luận các trường
hợp miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam và việc áp dụng vào
thực tiễn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế và các
nguyên nhân cơ bản, từ đó đề xuất hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự,

5


cũng như những kiến nghị khác nâng cao hiệu quả áp dụng, qua đó góp phần
đấu tranh phòng, chống tội phạm và giáo dục, cải tạo người phạm tội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn có phạm vi nghiên cứu là các vấn đề lý luận và thực tiễn về
những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam (khái
niệm, bản chất pháp lý và nội dung cơ bản, có so sánh với Bộ luật hình sự một
số nước), đồng thời đánh giá thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
trong giai đoạn 05 năm (2009 - 2013), chỉ ra một số tồn tại, hạn chế và các
nguyên nhân cơ bản để đề xuất hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về
miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời có những kiến nghị khác nâng cao hiệu
quả áp dụng các quy định đó.
4. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Miễn trách nhiệm hình sự theo luật
hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
1) Xây dựng khái niệm miễn trách nhiệm hình sự và phân tích ý nghĩa
của việc quy định, đồng thời làm sáng tỏ những đặc điểm cơ bản của miễn
trách nhiệm hình sự;
2) Hệ thống hóa lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về
miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam từ Sau Cách mạng tháng

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm ba chương với tên gọi như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về miễn trách nhiệm hình sự.
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về miễn trách nhiệm
hình sự và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
Chương 3: Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về
miễn trách nhiệm hình sự và những kiến nghị nâng cao
hiệu quả áp dụng.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
1.1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH MIỄN
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự
Tội phạm và các hình thức biểu hiện của nó ra thế giới khách quan rất
đa dạng, phong phú và đều có sự khác nhau về tính chất và mức độ nguy hiểm
cho xã hội, hình thức lỗi, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, công cụ, phương tiện
phạm tội hay nhân thân người phạm tội... Cho nên, điều đó đòi hỏi các nhà
làm luật Việt Nam cố gắng ở mức tối đa làm sao điều chỉnh được các hình
thức xử lý khác nhau và vừa phải thể hiện chính sách phân hóa tội phạm và
người phạm tội - để có đường lối xử lý phù hợp, chính xác và công bằng,
nhưng mặt khác - cũng phải bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc
của luật hình sự nước ta, qua đó còn phản ánh nguyên tắc “nghiêm trị kết hợp
với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục” trong chính
sách hình sự của Nhà nước đối với việc cải tạo, giáo dục người phạm tội và
phòng ngừa tội phạm. Sự thể hiện nội dung này phản ánh qua nội dung các

với bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác. Trách nhiệm hình sự chính là
sự phản ánh việc lên án hành vi phạm tội của người phạm tội thông qua việc
Nhà nước quy định, áp dụng các biện pháp cưỡng chế về hình sự đối với
người đã thực hiện tội phạm;
- Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm
và chỉ xuất hiện khi có sự việc phạm tội. Vì vậy, lôgíc là, trách nhiệm hình
sự sẽ “tồn tại khách quan mà không phụ thuộc vào việc các cơ quan hay
người có thẩm quyền đã phát hiện được tội phạm và người phạm tội hay
chưa” [13, tr.101].

9


- Trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện trong phạm vi của quan hệ
pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và
nghĩa vụ nhất định - một bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội. Cho
nên, thời điểm phát sinh cơ sở của trách nhiệm hình sự là thời điểm một người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội
phạm, nhưng có thể trách nhiệm hình sự sẽ không được thực hiện trên thực tế,
nếu có những điều kiện để miễn trách nhiệm hình sự cho người đó theo quy
định của Bộ luật hình sự trên những cơ sở chung [59, tr.56].
- Trách nhiệm hình sự phản ánh tính chất công - chỉ có Nhà nước mới
có quyền buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự và ngược lại,
trách nhiệm hình sự của người phạm tội ở đây là trước Nhà nước, trước xã hội
chứ không phải trước cơ quan, đơn vị hay bất kỳ cá nhân nào;
- Trách nhiệm hình sự mang tính chất cá nhân và chỉ được áp dụng đối
với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy
định là tội phạm; đồng thời nó được thể hiện trong bản án kết tội đã có hiệu
lực pháp luật của Tòa án áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện
pháp cưỡng chế của Nhà nước do Bộ luật hình sự quy định. Bản án kết tội đã

lý, xã hội, đây chính là đòi hỏi của nguyên tắc công bằng trong luật hình sự
Việt Nam thể hiện ở chỗ, việc áp dụng trách nhiệm hình sự và miễn trách
nhiệm hình sự phải bình đẳng và đúng pháp luật đối với tất cả các trường
hợp thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được
Bộ luật hình sự quy định.
Như vậy, có khái niệm trách nhiệm hình sự mới có khái niệm miễn
trách nhiệm hình sự. Miễn trách nhiệm hình sự đặt ra góp phần bảo đảm
nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật hình sự. Tuy nhiên, tương
tự như trách nhiệm hình sự, dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm
miễn trách nhiệm hình sự còn nhiều quan điểm khác nhau như sau:

11


Tác giả Michael Bogdan và tập thể tác giả cho rằng:
Miễn trách nhiệm hình sự là một nguyên tắc của luật hình sự
dựa trên cơ sở xung đột về lợi ích, dùng để chỉ ra rằng không có tội
phạm được thực hiện mặc dù trên thực tế hành vi của một người
nào đó đã thỏa mãn cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan đối
với một loại tội phạm. Nguyên tắc này được nhắc đến như là miễn
trách nhiệm hình sự và không phải là miễn hình phạt bởi vì bị cáo
không chỉ tránh khỏi hình phạt mà hơn thế nữa hành vi đó không
được coi là tội phạm trong những điều kiện miễn trừ... [66, p.184].
Quan điểm này chưa hợp lý vì không thể coi miễn trách nhiệm hình sự là
“một nguyên tắc của luật hình sự...” và cũng không thể coi rằng “không có tội
phạm được thực hiện mặc dù trên thực tế hành vi của một người nào đó đã thỏa
mãn cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan đối với một loại tội phạm” vì về
bản chất, hành vi của người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự đã thỏa
mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm tương ứng nào đó trong Phần các
tội phạm Bộ luật hình sự. Hơn nữa, người được miễn trách nhiệm hình sự hoàn

luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả
pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật
hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện
hành vi đó [5, tr.7].
- PGS. TS. Nguyễn Ngọc Chí nêu hậu quả pháp lý trực tiếp trong giai
đoạn tương ứng là xét xử, nhưng không ghi nhận thẩm quyền áp dụng: “Miễn
trách nhiệm hình sự là miễn kết tội cũng như áp dụng hình phạt đối với người
thực hiện tội phạm và do vậy họ không bị coi là có tội” [12, tr.14].
- PGS.TS. Kiều Đình Thụ nêu thẩm quyền áp dụng và đặc biệt là hình
thức pháp lý: “Miễn trách nhiệm hình sự là không truy cứu trách nhiệm hình sự
một người về việc đã thực hiện một tội phạm được quy định trong luật hình sự,
thể hiện trong một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” [50, tr.238].

13


- TS. Trịnh Tiến Việt quan niệm nhấn mạnh mục đích và ý nghĩa của
chế định này:
Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc một người đáp ứng
những điều kiện nhất định phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do
việc người đó đã thực hiện hành vi phạm tội, mà vẫn bảo đảm yêu
cầu đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm, cũng như công tác giáo
dục, cải tạo người phạm tội [59, tr.97]; v.v...
Tuy nhiên, có quan điểm gắn với thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự
Việt Nam của một nhà hoạt động thực tiễn có điểm hơi khác biệt. Theo đó, tác
giả coi loại trừ trách nhiệm hình sự có bản chất pháp lý khác với miễn trách
nhiệm hình sự, với không có sự việc phạm tội... nhưng tác giả lại khẳng định:
... suy cho cùng miễn trách nhiệm hình sự cũng là không bị
truy cứu trách nhiệm hình sự (nếu người phạm tội không bị áp dụng
biện pháp xử lý gì)... đồng thời, tác giả cũng phân chia những

trách nhiệm hình sự, do đó, vẫn phải chịu sự lên án của Nhà nước đối với
mình, vì với người được miễn trách nhiệm hình sự, họ cũng đã thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm, song với
người này, tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng, các cơ quan
tiến hành tố tụng thấy rằng, việc truy cứu trách nhiệm hình sự người đó lại
không cần thiết mà vẫn đáp ứng các yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm,
cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội nếu đáp ứng những điều
kiện nhất định, họ sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự mà được miễn
trách nhiệm hình sự.
Do đó, mặc dù được miễn trách nhiệm hình sự, nhưng người phạm tội
vẫn có thể chịu một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế không phải hình sự
thuộc các ngành luật tương ứng khác trong hệ thống pháp luật của Nhà nước
như pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật hành chính, pháp luật lao động...).

15


* Ý nghĩa thứ hai - miễn trách nhiệm hình sự phản ánh chính sách phân
hóa tội phạm và người phạm tội trong luật hình sự Việt Nam
Phân hóa trong luật hình sự nước ta được thể hiện trên nhiều phương
diện như: phân loại tội phạm, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, hệ
thống hình phạt và các biện pháp tư pháp, phân hóa trách nhiệm hình sự
qua việc áp dụng trách nhiệm hình sự, chịu trách nhiệm hình sự hạn chế,
không phải chịu trách nhiệm hình sự hay miễn trách nhiệm hình sự, đương
nhiên được miễn trách nhiệm hình sự hay có thể được miễn trách nhiệm
hình sự, mở rộng hay thu hẹp phạm vi tội danh trong Phần các tội phạm
của Bộ luật hình sự; v.v... [59, tr.99]. Do đó, đây chính là sự phân hóa giữa
trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự với trường hợp được miễn trách
nhiệm hình sự, giữa trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự với
trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự.

Đặc biệt, vì người được miễn trách nhiệm hình sự bị coi là người đã
thực hiện hành vi phạm tội, cho nên họ không được bồi thường thiệt hại theo
quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 (Điều 27).
* Ý nghĩa thứ năm - miễn trách nhiệm hình sự còn phản ánh nguyên tắc
công bằng (công minh)
Người được miễn trách nhiệm hình sự không phải chịu các hậu quả
pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội nhưng có thể phải chịu một hoặc
nhiều biện pháp cưỡng chế không phải hình sự được quy định trong các
ngành luật trong hệ thống pháp luật của Nhà nước. Như vậy, ý nghĩa của việc
quy định miễn trách nhiệm hình sự còn thể hiện sự công bằng trong đánh giá
hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự với trường hợp không bị truy
cứu trách nhiệm hình sự. Trước đây, Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986
về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Khi đã miễn trách nhiệm
hình sự thì Tòa án không được quyết định bất kỳ loại hình phạt nào, nhưng

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status