Các tội phạm về ma túy trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2000-2010 - Pdf 25


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TH THU THO
CáC TộI PHạM Về MA TúY
TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
Và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2000 - 2010

Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. TRNH QUC TON
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VÂN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ
MA TÚY THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8
1.1. Khái niệm về chất ma túy, tội phạm về ma tuý trong luật
hình sự Việt Nam 8
1.1.1. Khái niệm chất ma túy 8
1.1.2. Khái niệm tội phạm về ma tuý trong Luật hình sự Việt Nam. 10
1.2. Những qui định về các tội phạm về ma túy trong luật hình
sự Việt Nam 15
1.2.1. Giai đoạn từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban
hành Bộ luật hình sự năm 1985 15
1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước
khi ban hành bộ luật hình sự năm 1999. 18
1.2.3. Nhưng qui định về các tội phạm về ma túy theo Bộ luật hình
sự năm 1999 21
1.3. Đường lối xử lý hình sự đối với các tội phạm về ma túy 25
Chương 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH
SỰ VỀ MA TÚY TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC
NINH NĂM 2001 - 2013 40
2.1. Đặc điểm kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến hoạt động xét xử
các vụ án Hình sự về ma túy tại Tòa án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh 40
2.2. Những kết quả đạt được trong hoạt động xét xử các vụ án
hình sự về ma túy tại Tòa án nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh 44
2.3. Những hạn chế về hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự về ma túy của Tòa án nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh và
nguyên nhân 54
2.3.1. Những hạn chế về hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về
ma túy của Tòa án nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh và nguyên nhân 54 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự
BLTTH: Bộ luật tố tụng hình sự
HĐXX: Hội đồng xét xử
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ma túy ngày nay đang là vấn đề mang tính toàn cầu và là mối lo ngại
chung của các quốc gia trên khắp các châu lục. Tệ nạn ma túy trở thành một vấn
đề nóng bỏng, nhức nhối gây hậu quả nhiều mặt cả về chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội, ma túy đã trở thành hiểm họa của toàn nhân loại, không một quốc gia,
một dân tộc nào thoát khỏi ảnh hưởng của những hậu quả tai hại do tệ nạn ma
túy gây ra. Tệ nạn ma túy là nguồn phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm, tội
phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia và các tệ nạn xã hội. Lạm dụng ma
túy làm tiêu phí một khoản tiền to lớn của mỗi gia đình và toàn xã hội. Nghiện
ma túy còn là một trong các nguyên nhân chủ yếu gây lây nhiễm căn bệnh thế kỷ
HIV/AIDS
.
Các vấn đề ma túy, tội phạm, HIV/AIDS, môi trường và nạn đói
nghèo có mối liên hệ mật thiết, gây tác hại nặng nề đối với nền kinh tế - xã hội
của quốc gia và biết bao đau thương đến các gia đình [7]; [8]; [9]; [53].
Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của tệ nạn này, Đảng và Nhà nước
Việt Nam đã và đang tiếp tục coi trọng và tập trung đầu tư cho nhiệm vụ
phòng, chống ma túy. Trong những năm qua, bằng nội lực của mình và với sự
giúp đỡ, phối hợp của cộng đồng quốc tế, Đảng và Nhà nước đã chủ động
triển khai đồng bộ và toàn diện nhiều chủ trương, biện pháp rất tích cực nhằm
đấu tranh phòng, chống ma túy và đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Trong các biện pháp đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy thì hoạt
động xét xử của ngành Tòa án nhân dân đối với các tội phạm về ma túy là vô
cùng quan trọng. Xét xử là chức năng cơ bản của Tòa án nhân dân nước ta,
điều này đã được ghi nhận trong điều 102 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Hoạt động xét xử nói chung, xét xử án hình
sự trong đó có xét xử các tội phạm về ma túy nói riêng là hoạt động áp dụng

2
pháp luật để ra các bản án, các quyết định thể hiện tính nghiêm minh và sự

các tội phạm ma tuý tại nhiều địa bàn trong tỉnh nhằm tuyên truyền, giáo dục
các tầng lớp nhân dân về tác hại của ma túy và răn đe các đối tượng có biểu
hiện vi phạm. Nhưng cho đến nay, tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn
tỉnh vẫn diễn biến phức tạp. Đòi hỏi các Cơ quan, người tiến hành tố tụng cần
có những biện pháp quyết liệt và nỗ lực hơn nữa trong đấu tranh phòng,
chống tệ nạn ma túy.
Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự về ma túy đã đạt được nhiều thành
tựu to lớn đáp ứng yêu cầu về đấu tranh phòng chống tội phạm ma tuý. Tuy
vậy, việc xét xử để ra các bản án, quyết đinh của Tòa án các cấp ở tỉnh Bắc
Ninh còn có những sai sót nhất định, dẫn đến việc cấp Tòa án có thẩm quyền
hủy, sửa tuy không nhiều nhưng lại ảnh hưởng đến uy tín của ngành, tác động
tiêu cực đến lòng tin của nhân dân vào công lý, ảnh hưởng đến việc đấu tranh
phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng.
Xuất phát từ những lý do trên, học viên đã chọn đề tài: “Các tội phạm
về ma túy trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh giai đoạn 2000-2010” để làm luận văn thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Xét xử án hình sự, dân sự của Tòa án nhân dân là vấn đề được một số
nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đã có một số công trình nghiên cứu có giá
trị được công bố. Tuy nhiên xét xử các vụ án hình sự về ma túy chưa được
quan tâm nhiều. Có thể kể đến một số công trình có giá trị liên quan trực tiếp
đến đề tài luận văn như sau:
 Dưới góc độ Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ gồm có: Luận án tiến sĩ
của Phạm Minh Tuyên: “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy
trong Luật hình sự Việt Nam”, bảo vệ năm 2006; Luận văn thạc sỹ của Bùi

4
Mạnh Cường: “Áp dụng pháp luật trong giai đoạn điều tra, truy tố các vụ án
ma túy ở Việt Nam” tại, bảo vệ năm 2006; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn
Dư: “Nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa các tội phạm về ma túy trên

và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2009 -2013. Trên
cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
xét xử các về ma túy
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ
sau đây:
- Nghiên cứu Một số vấn đề chung về cá tội phạm về ma túy theo luật
hình sự Việt Nam dưới góc độ lý luận Mác-Lênin về Nhà nước và pháp luật.
Luận văn nêu lên những đặc điểm, phân tích thực trạng thực tiễn xét xử sơ
thẩm các vụ án hình sự về ma túy tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh từ năm
2009 đến năm 2013 và các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao
hiệu quả xét xử các tội phạm về ma túy trong giai đoạn xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi là một luận văn thạc sỹ luật học thuộc chuyên ngành
luật Hình sự và tố tụng hình sự, luận văn này chỉ tập trung vào những vấn đề
lý luận và thực tiễn xét xử các vụ án hình sự về ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh. Luận văn khái quát những vấn đề chung của quy trình xét xử sơ thẩm
các vụ án hình sự về ma túy từ việc nghiên cứu các tình tiết cụ thể của vụ án
đến việc chọn quy phạm pháp luật và ban hành các bản án, quyết định tại
phiên tòa xét xử công khai, dựa trên thực tiễn xét xử các vụ án về ma túy
trong 5 năm gần đây. Theo nội dung của đề tài nghiên cứu trong giai đoạn
2000-2010, nhưng để đáp ứng tính sát thực của đề tài, được sự đồng ý, cho
phép của Giảng viên hướng dẫn, học viên mở rộng phạm vi nghiên cứu đề tài
đến năm 2013.

6
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; đường lối của Đảng
cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà

Chương 1: Một số vấn đề chung về các tội phạm về ma túy theo Luật
hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về ma túy tại
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu
quả xét xử các tội phạm về ma túy

8
Chương 1
MỘT SỐ VÂN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Khái niệm về chất ma túy, tội phạm về ma tuý trong luật hình
sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm chất ma túy
Từ xa xưa do trình độ nhận thức của con người còn thấp, y học chưa
phát triển nên con người chỉ biết sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh. Trong
các loại cây đó có cây thuốc phiện, cây cần sa, cây côca và sau đó người ta
cũng phát hiện tác hại của nó. ở Việt Nam, thuật ngữ "ma túy" xuất hiện ban
đầu có nghĩa là thuốc phiện, rồi đến cây cần sa và cây côca. Một số ý kiến cho
rằng, gọi là "ma túy" bởi vì các chất này có tác dụng như ma thuật, ma quái,
có thể chữa một số bệnh và tăng hưng phấn hoặc ức chế thần kinh, làm cho
con người mê mẩn, ngây ngất, túy lúy. Trong tiềm thức của người Việt Nam
ma túy đồng nghĩa với sự xấu xa tội lỗi. Ngày nay, ngoài các sản phẩm của
cây thuốc phiện, cây cần sa, cây côca còn có các chất được tổng hợp trong
phòng thí nghiêm. Nên khái niệm ma túy được mở rộng về nội dung, ở các
nước khác nhau thì khái niệm ma túy cũng quan niệm khác nhau. Điểm chung
của Luật về kiểm soát ma túy của các nước là đều đề cập đến ma túy bao gồm
các chất gây nghiện và các chất hướng thần.
Ma túy, theo gốc Hán – Việt, có nghĩa là “làm mê mẩn”. Chất ma tuý lúc

phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo yêu cầu điều trị (bao gồm 112
chất trong đó có một số chất thường gặp như côcain, thuốc phiện,
nhựa côca )

10
- Danh mục 3: Các chất ma túy độc dược dùng trong phân
tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc
trong lĩnh vực y tế theo yêu cầu điều trị (bao gồm 68 chất trong đó
có một số chất thường gặp như diazepam, delorazepam ).
- Danh mục 4: Các hóa chất không thể thiếu trong quá trình
điều chế ma túy (22 chất trong đó có một số chất thường gặp như
acetone, acetic anhydride ) [26].
Như vậy, dưới góc độ khoa học pháp lý thì ma túy có một số các đặc
điểm sau: ma túy là một chất gây nghiện, khi thâm nhập vào cơ thể con người
làm thay đổi một số chức năng hoạt động thần kinh làm cho con người lệ
thuộc vào chất này. Tại Điều 61 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
(CHXHCN) Việt Nam 1992 quy định: Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển,
buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và chất ma túy khác. Tại
LPCMT được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa X kỳ họp thứ 8
thông qua ngày 9/12/2000 đã xác định chất ma túy là chất nghiện, chất hướng
thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành.
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về chất ma túy như sau:
Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các
danh mục do Chính phủ ban hành, khi sử dụng gây lên tình trạng kích thích
hoặc ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần sẽ gây ra tình
trạng nghiện đối với người sử dụng.
1.1.2. Khái niệm tội phạm về ma tuý trong Luật hình sự Việt Nam
- Khái niệm tội phạm về ma tuý: Cũng như các tội phạm khác, tội phạm
về ma tuý là: “những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong
BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý…”

chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy

12
(Điều 195); Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các
phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép
chất ma túy (Điều 196); Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
(Điều 197); Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều
198); Tội sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 199) (Tội này đã
được bãi bỏ từ ngày 01/01/2010 theo quy định của Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của BLHS ngày 19/6/2009); Tội cưỡng bức, lôi
kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200); Tội vi
phạm quy định về quản lý sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất
ma túy khác [27, Điều 201].
Tội phạm ma túy cũng có những đặc điểm chung như các tội phạm
khác về tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự, tính có lỗi và
tính chịu hình phạt. Tuy nhiên tội phạm ma túy cũng có những đặc điểm riêng
so với các loại tội phạm khác như:
Có tính nguy hiểm cao cho xã hội:
Thể hiện ở chỗ, các tội phạm về ma túy đều trực tiếp, hoặc
gián tiếp liên quan đến ma túy, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý
chất ma túy của Nhà nước, để cho ma túy xâm nhập vào cộng đồng
làm gia tăng số người nghiện, gây tác động xấu về nhiều mặt như
kinh tế, chính trị, văn hóa và trật tự an toàn xã hội; xâm hại nghiêm
trọng tới tính mạng, sức khỏe của con người; là nguyên nhân làm
phát sinh các loại tội phạm khác [22,tr.18].
- Có tính chống đối pháp luật rất cao của kẻ phạm tội: Các đối tượng
phạm tội ma túy thường có nhân thân xấu, khi bị phát hiện thường chống trả
hết sức quyết liệt và sẵn sàng sử dụng vũ khí. Khi một mắt xích trong đường
dây tội phạm ma tuý bị lộ, để bảo đảm an toàn cho hoạt động phạm tội của
mình, chúng sẩn sàng thủ tiêu đồng phạm.

14
Do vậy, khái niệm tội phạm về ma tuý được hiểu như sau: Tội phạm về
ma túy là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, xâm phạm đến những
quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma tuý, gây thiệt hại
cho lợi ích của xã hội, của công dân và gây mất trật tự an toàn xã hội và phải
chịu hình phạt do Bộ luật hình sự quy định.
Tội phạm về ma tuý có nhiều loại:
Đối với các vụ án mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy với quy
mô lớn thường được người phạm tội tổ chức rất chặt chẽ thành những đường
dây xuyên quốc gia, nhưng lại không giống như tổ chức của các vụ án có tính
chất tổ chức khác, người chỉ huy, phân công, điều hành không lộ diện, có vụ
có rất đông người tham gia vào đường dây vận chuyển, mua bán ma túy
nhưng thông thường chỉ người thứ nhất biết người thứ hai chứ không biết
người thứ ba. Cũng chính vì đặc điểm này mà hoạt động điều tra, khám phá
các đường dây ma túy rất khó khăn, không ít những vụ án sau khi xét xử mói
phát hiện trong đường dây vận chuyển, mua bán ma túy còn có những người
phạm tội khác, cá biệt có trường hợp trước khi thi hành án tử hình, người bị
kết án tử hình mới khai ra đồng phạm.
Đối với những hành vi mua bán ma túy có tính chất tiêu thụ, người
phạm tội thường chia ma túy thành những gói nhỏ (tép, chỉ ) để bán cho các
con nghiện. Việc tổ chức tiêu thụ ma túy rất tinh vi, người phạm tội thường sử
dụng những địa điểm thuận lợi, có phân công người canh gác, khi các lực
lượng chống ma túy phát hiện thì chúng tẩu thoát dễ dàng.
Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, người phạm tội
chủ yếu là những người bán lẻ ma túy cho con nghiện, sau đó cho họ mượn
luôn địa điểm, dụng cụ để họ hút, chích ma túy, ít có trường hợp người phạm
tội đứng ra tổ chức như kiểu tổ chức đánh bạc.
Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về ma túy thời gian qua

15

những văn bản pháp lý quan trọng nhằm sớm ổn định tình hình đất nước.
Song do điều kiện lịch sử lúc đó cả dân tộc ta đang dồn hết sức lực cho cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược nên việc xoá bỏ trồng cây thuốc
phiện và quản lý thuốc phiện cha thể thực hiện được. Cho tới ngày 05/3/1952,
Thủ tướng Chính phủ mới ban hành Nghị định số 150/TTg quy định việc xử
lý đối với những hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện. Tiếp theo đó,
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 255/TTg ngày 22/12/1952
quy định những người có hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện bị xử lý
như: Phạt tiền từ một đến năm lần trị giá thuốc phiện lậu, tịch thu thuốc phiện
khi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép. Người vi phạm có thể còn bị truy
tố ra trước Toà án nhân dân. Ngày 15/9/1955 Thủ tướng Chính phủ ban hành
Nghị định số 580/TTg bổ sung Nghị định số 150/TTg, quy định những trường
hợp có thể bị đưa ra Toà án để xét xử. Cùng với Nghị định này, theo thẩm
quyền, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 635/VHH-HS ngày 29/3/1958 và
Thông tư số 33/VHH-HS ngày 5/7/1958 để thống nhất đường lối xét xử đối
với những vụ án buôn lậu thuốc phiện [46]; [48].
Từ năm 1954 đất nước ta tạm chia làm hai miền với hai chế độ chính
trị, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy ở mỗi miền rất khác
nhau, ở miền Nam, tình hình buôn bán ma tuý, tình trạng nghiện hút phát
triển nhanh, việc buôn bán ngày càng có quy mô lớn có tính tổ chức cao,
hình thành các tổ chức sử dụng ma túy công khai. Tính đến năm 1975 (sau
giải phóng) có khoảng 170.000 người nghiện ma túy. Sau khi giải phóng
miền Nam thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã kiên quyết áp
dụng nhiều biện pháp để bài trừ tệ nạn nghiên hút, do đó chỉ sau bảy năm
(đến năm 1982) con số người nghiện giảm xuống chỉ còn 40.000 người .
Ngày 25/3/1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 76/CP về

17
chống buôn lậu thuốc phiện. Trên cơ sở Nghị định này, Toà án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an đã ra Thông tư liên ngành

lên tới tử hình. Tuy nhiên pháp lệnh mới chỉ đề cập tới vấn đề buôn
lậu ma tuý dưới góc độ xử phạt hành chính và xử phạt hình sự, chứ
cha đề cập tới khía cạnh khác của ma túy [19].
1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành bộ luật hình sự năm 1999
Vào những năm 1980, tình hình sản xuất, lưu thông và sử dụng ma túy
có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là buôn bán qua biên giới. Trước tình hình
đó, Bộ luật hình sự đầu tiên của Nhà nước ta đã được Quốc hội thông qua
ngày 27/6/1985 đã quy định trách nhiệm hình sự đối với các hành vi phạm tội
liên quan đến ma túy tại ba điều: Điều 97: Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái
phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới; Điều 166: Tội buôn bán hàng cấm; và
Điều 203: Tội tổ chức dùng chất ma túy.
Theo Bộ luật hình sự năm 1985, chỉ có một Điều (Điều 203) quy định
riêng về “tội tổ chức dùng chất ma túy”, còn các hành vi sản xuất, mua bán,
vận chuyển, tàng trữ trái phép các chất ma túy chưa được quy định thành tội
riêng mà những hành vi mua bán, vận chuyển ma túy qua biên giới thì bị truy
cứu theo Điều 97 “Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ
qua biên giới” [35] và những hành vi mua bán, vận chuyển ma tuý trong nội
địa thì truy tố theo Điều 166 là “Tội buôn bán hàng cấm” [35]. Bộ luật hình
sự 1985 là công cụ sắc bén để đấu tranh, chống các tội phạm về ma túy. Song
việc quy định không tách bạch chung và chưa bao quát đã làm giảm hiệu quả
của Bộ luật hình sự trong đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy. Theo
Bộ luật hình sự năm 1985, hành vi buôn bán, tàng trữ các chất ma tuý phải xử
lý theo tội "Buôn bán hàng cấm", còn hành vi sản xuất, vận chuyển trái phép

Trích đoạn Nhưng qui định về cỏc tội phạm về ma tỳy theo Bộ luật hỡnh sự năm Đường lối xử lý hỡnh sự đối với cỏc tội phạm về ma tỳy Đặc điểm kinh tế, xó hội ảnh hưởng đến hoạt động xột xử cỏc vụ ỏn Hỡnh sự về ma tỳy tại Tũa ỏn nhõn dõn tỉnh Bắc Ninh Những kết quả đạt được trong hoạt động xột xử cỏc vụ ỏn hỡnh sự về ma tỳy tại Tũa ỏn nhõn dõn ở tỉnh Bắc Ninh Những hạn chế về hoạt động xột xử sơ thẩm cỏc vụ ỏn hỡnh sự về ma tỳy của Tũa ỏn nhõn dõn ở tỉnh Bắc Ninh và nguyờn nhõn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status