ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐOÀN VĂN LÂM
CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CỦA CON NGƯỜI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ CÁC
SỐ LIỆU XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN TỈNH BÌNH DƯƠNG)
Chuyên ngành: Luật hình sự - tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Quốc Toản
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đoàn Văn Lâm
Bộ luật hình sự
Lập pháp hình sự
Chính sách hình sự
Luật hình sự
Trách nhiệm hình sự
Toà án nhân dân
Toà án nhân nhân tối cao
Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiệm sát nhân dân tối cao
DANH MỤC CÁC BẢNG
LỜI CAM ĐOAN...................................................................................................................1
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong
Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích
dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả
các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật
Đại học Quốc gia Hà Nội.......................................................................................................1
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.. 1
Tôi xin chân thành cảm ơn!....................................................................................................1
NGƯỜI CAM ĐOAN............................................................................................................1
Đoàn Văn Lâm.......................................................................................................................1
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Quyền sống là một trong những quyền tự nhiên, quan trọng nhất mà ai
cũng có như một lẽ đương nhiên. Các thiết chế xã hội đặc biệt là Nhà nước
có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền sống của con người, chống lại bất kỳ
Trải qua các thời kỳ cách mạng, trong quá trình kiến thiết và bảo vệ đất
nước, vấn đề bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người
được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đặc biệt coi trọng, nhất là trong hoạch
định chính sách hình sự, nhằm đảm bảo cho hoạt động phòng và chống tội
phạm đạt hiệu quả cao, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước, từng bước hội nhập với quốc tế. Trong Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội từ năm 2011 – 2020 của đất nước, Đảng ta đưa ra quan điểm:
“Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ
thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”.
Tuy nhiên, từ thực tiễn của cuộc sống mỗi ngày diễn ra hết sức sôi
động, tình hình tội phạm xâm phạm tính mạng con người diễn ra rất đa dạng,
phức tạp, trong khi đó chính sách hình sự (CSHS) nói chung và hệ thống pháp
luật về đấu tranh phòng chống tội phạm nước ta nói riêng vẫn còn những vấn
đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện, đảm bảo đủ cơ sở pháp lý cho các hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, đáp ứng theo yêu cầu cải cách tư pháp,
xây dựng Nhà nước pháp quyền, đem lại bình yên cho cuộc sống.
Với ý nghĩa trên, tác giả chọn đề tài: Các tội xâm phạm tính mạng của
con người trong LHS Việt Nam (trên cơ sở các số liệu xét xử của Toà án tỉnh
Bình Dương) để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các tội xâm phạm tính mạng con người được nhiều nhà khoa học pháp
lý trong nước quan tâm nghiên cứu. Sau khi BLHS năm 1985 được ban hành,
2
tội xâm phạm tính mạng con người được đề cập trong nhiều giáo trình, sách
pháp lý, đề tài nghiên cứu như: Giáo trình LHS Việt Nam trong Phần các tội
phạm của Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN), Nhà xuất bản
trong PLHS Việt Nam hiện hành.
- Phân tích, đánh giá những quy định về các tội xâm phạm tính mạng
con người trong PLHS nước ta, thực trạng điều tra, truy tố, xét xử các tội
danh này trên địa bàn tỉnh Bình Dương nhằm rút ra những tồn tại, hạn chế về
lập pháp, áp dụng PLHS, qua đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện PLHS,
góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm, phục vụ phát triển kinh
tế, xã hội của đất nước.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được những mục đích trên, đề tài đi sâu giải quyết các nhiệm vụ
cơ bản sau:
+ Nghiên cứu làm rõ lý luận cơ bản về các tội xâm phạm tính mạng con
người trong LHS Việt Nam và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm
phạm tính mạng con người trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 05 năm
2008-2012.
+ Đề xuất nội dung để hoàn thiện các quy định của BLHS hiện hành
về các tội xâm phạm tính mạng con người và một số giải pháp nâng cao
hiệu quả áp dụng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Các qui định của CSHS Việt Nam, tập trung nhất là BLHS Việt Nam
và các công trình nghiên cứu, chuyên khảo về khoa học pháp lý liên quan đến
tội xâm phạm tính mạng con người, thực tiễn xử lý tội này của các cơ quan
tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2008-2012.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về nội dung: Các tội xâm phạm tính mạng con người được
qui định ở nhiều chương của BLHS, tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này,
4
- Ý nghĩa thực tiễn:
Những đề xuất của đề tài có thể được nghiên cứu, sử dụng trong quá
trình hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng chống tội phạm, cũng như trong
hoạt động tố tụng, nhất là trong giai đoạn xét xử, định tội danh, quyết định
hình phạt đối với các vụ án xâm phạm tính mạng con người.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác
nghiên cứu về khoa học pháp lý nói chung, khoa học LHS và áp dụng thực
tiễn công tác tại các cơ quan bảo vệ pháp luật…
8. Cấu trúc nội dung của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung của đề tài được cấu
trúc thành 03 chương.
- Chương 1: Một số vấn đề chung về các tội xâm phạm tính mạng con người.
- Chương 2: Thực tiễn xét xử các tội xâm phạm tính mạng con người
trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2008 - 2012.
- Chương 3: Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các
tội xâm phạm tính mạng con người và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng.
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CỦA CON NGƯỜI
1.1. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội xâm
phạm tính mạng của con người
1.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985
Trải qua các giai đoạn lịch sử hình thành và phát triển, xuất phát từ đặc
điểm riêng của mình, LHS Việt Nam nhìn chung có nhiệm vụ bảo vệ chế độ,
quyền làm chủ của nhân dân, quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo
tiền, ám sát;
- Sắc lệnh số 40/SL ngày 29/3/2946 đảm bảo tự do cá nhân;
- Sắc lệnh số 223/SL ngày 20/01/1953 trừng trị tội phạm xâm hại đến
an toàn nhà nước;
- Sắc lệnh 150/SL và Sắc lệnh số 151/SL ngày 12/4/1953 trừng trị địa
chủ chống pháp luật…
Ở giai đoạn này, LHS phải thực hiện nhiệm vụ chung là bảo vệ chính
quyền nhân dân còn non trẻ, trừng trị bọn Việt Gian, phản động để phục vụ
cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi; trừng trị bọn địa chủ cường
hào ngoan cố, các đối tượng hình sự lợi dụng xã hội nước ta còn chưa ổn định
có hành vi gây phương hại đến chính quyền, tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm,
tài sản của nhân dân.
Liên quan đến hành vi xâm phạm tính mạng con người có các sắc lệnh:
Sắc lệnh số 27/SL ngày 28/2/1946 trừng trị tội bắt cóc, tống tiền, ám sát. Sắc
lệnh này nhằm chống lại tình hình bọn "Việt Nam quốc dân Đảng" dùng các
thủ đoạn bắt cóc, tống tiền, ám sát để chống phá cách mạng và Nhà nước ta. Về
hình phạt đưa ra cũng khá nghiêm khắc: Những người phạm tội bắt cóc, tống
tiền và ám sát sẽ bị phạt tù từ 2 năm đến 10 năm và có thể bị xử tử hình.
8
Như vậy, sau Cách mạng Tháng tám thành công, Nhà nước ta tuy
còn rất non trẻ nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tích cực tiến hành hoạt động lập pháp hình sự.
Và chỉ trong thời gian ngắn đã ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm
PLHS, đáp ứng yêu cầu giữ vững chính quyền nhân dân, góp phần xây dựng
và phát triển lực lượng, chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài
của cả nước.
Bước vào thời kỳ toàn quốc kháng chiến, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí
dân, áp bức, bóc lột, cướp phá nhân dân, bắt phu, bắt lính, thu thuế cho địch,
sẽ tuỳ tội nặng nhẹ mà xử phạt như sau: Bọn chủ mưu, tổ chức, chỉ huy sẽ bị
xử tử hình hoặc chung thân; … ”; Điều 6 Sắc lệnh số 151-SL, ngày 12/4/1953,
trừng trị địa chủ chống pháp luật quy định:“Địa chủ nào phạm một trong
những tội sau đây: Cấu kết với đế quốc, ngụy quyền, gián điệp thành lập hay
cầm đầu những tổ chức, những đảng phái phản động để chống Chính phủ, phá
hoại kháng chiến, làm hại nhân dân, giết hại nông dân, cán bộ và nhân viên…
thì sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân hoặc xử tử hình…”
Trong giai đoạn này, hành vi xâm phạm tính mạng của con người được
quy định dưới nhiều hình thức khác nhau như: Ám sát, giết hại, cố ý giết
người… Như Điều 1, Sắc lệnh số 27- SL, ngày 28/02/1946 trừng trị các tội
bắt cóc, tống tiền và ám sát quy định: “Những người phạm tội bắt cóc, tống
tiền, ám sát sẽ bị phạt từ 2 năm đến 10 năm tù và có thể bị xử tử”; Khoản 1,
Điều 6 Sắc lệnh số 151-SL ngày 12/4/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật
quy định địa chủ nào phạm một trong những tội sau đây thì sẽ bị phạt tù từ 10
năm đến chung thân hoặc xử tử hình: Cấu kết với đế quốc, ngụy quyền, gián
điệp thành lập hay cầm đầu những tổ chức, những đảng phái phản động để
chống Chính phủ, phá hoại kháng chiến, làm hại nhân dân, giết hại nông dân,
cán bộ và nhân viên; Điểm 3 của Thông tư số 442-TTg ngày 19/01/1955 quy
định: Cố ý giết người phạt tù từ 5 năm đến 20 năm, nếu có trường hợp nhẹ thì
có thể hạ xuống đến 1 năm, giết người có dự mưu có thể phạt đến tử hình.
10
Quy định về tội giết người trong giai đoạn này đã có sự phân hóa
TNHS cũng như trong đường lối xử lí người phạm tội giết người và thể hiện
rõ nguyên tắc nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, người hoạt động đắc lực,
gây hậu quả nghiêm trọng…; khoan hồng đối với những người bị cưỡng bức,
lừa gạt…Điều 4, Mục 2, Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/01/1953 trừng trị những
thu một phần hay tất cả tài sản.
* Thời kỳ 1954-1975:
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền
Bắc hoàn toàn được giải phóng, miền Nam bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai
thống trị. Miền Bắc tiến hành cách mạng XHCN, quyết tâm phát triển đi lên
để trở thành hậu phương vững chắc cho cách mạng cả nước, đặc biệt là hỗ trợ
miền Nam tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ đánh đổ đế quốc Mỹ và tay
sai, thực hiện mục tiêu giành lại độc lập tự do, thống nhất nước nhà.
Nghiên cứu PLHS nước ta trong thời kỳ này cho thấy có nhiều tiến bộ
thể hiện ở một số đặc điểm chung như sau:
Về tội phạm, đối với trẻ em có sự khoan hồng, chiếu cố; dưới 14 tuổi
thì không đưa ra Tòa án xét xử; từ 14 tuổi đến 18 tuổi, nếu trường hợp phạm
pháp cần thiết phải đưa ra xét xử thì có châm chước; riêng đối với người
phạm tội từ 14 tuổi đến 16 tuổi thì chỉ xét xử trong những trường hợp phạm
tội nghiêm trọng. Quy định tiến bộ này tiếp tục được ghi nhận trong BLHS
năm 1985 và BLHS năm 1999 sau này.
Về khái niệm lỗi, tuy chưa được chính thức ghi nhận trong các văn bản
quy phạm pháp luật hình sự nhưng trong các văn bản của ngành Tòa án đã có
sự phân biệt giữa các hình thức lỗi: Cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp, vô ý vì quá
tự tin và vô ý vì cẩu thả. Về lỗi cố ý, từ thực tiễn xét xử loại tội giết người
đã đưa ra khái niệm lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp. Theo đó, trong tội
giết người có hai hình thức lỗi là cố ý- có sự cố ý trực tiếp khi can phạm thấy
rõ rằng hành động của mình sẽ có hậu quả làm chết người khác, và chính vì
mong muốn cho hậu quả đó xảy ra nên đã có hành vi. Lỗi cố ý gián tiếp: Can
12
phạm không mong muốn nạn nhân chết, nhưng biết rằng hành vi của mình có
nhiều khả năng làm nạn nhân chết mà vẫn cứ làm và không trông mong vào
án. Phạm tội có tổ chức lần đầu tiên được đề cập trong Thông tư số 442-TTg
ngày 19-1-1955 của Thủ tướng Chính phủ nhưng thế nào là "có tổ chức" thì
chưa được giải thích.
Nhìn chung trong giai đoạn này có các văn bản PLHS tiêu biểu như:
- Sắc lệnh số 267 ngày 15/6/1956 về trừng trị âm mưu và hành động
phá hoại tài sản nhà nước, hợp tác xã và tài sản riêng của công dân;
- Pháp lệnh ngày 30/10/1967 trừng trị tội phản cách mạng…
Để thực hiện đường lối mà Đảng ta đề ra trong giai đoạn từ năm 1955
đến năm 1976, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và TANDTC đã
ban hành nhiều văn bản hướng dẫn đường lối xử lý tội giết người như: Chỉ thị
số 1025-TATC ngày 15/6/1960 của TANDTC về đường lối xử lí tội giết
người vì mê tín; Chỉ thị số 01-NCCS ngày 14/3/1963 của TANDTC về xử lí
tội giết trẻ sơ sinh; Bản chuyên đề tổng kết thực tiễn xét xử loại tội giết người
ban hành kèm theo Công văn số 452-HS2 ngày 10/8/1970 của TANDTC về
thực tiễn xét xử tội giết người; Báo cáo tổng kết công tác toàn ngành năm
1975 của TANDTC; Công văn số 37 và 38-NCPL ngày 16/01/1976 của
TANDTC; Sắc luật số 03-SL ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ cách
mạng lâm thời và Thông tư số 03-SL-BTP-TT ngày 15/4/1976 của Bộ Tư
pháp hướng dẫn thi hành Sắc luật số 03 nói trên quy định các tội phạm và
hình phạt trong đó có tội giết người với nội dung: Phạm tội cố ý giết người thì
bị phạt tù từ 15 năm đến tù chung thân hoặc bị xử tử hình. Trường hợp có tình
tiết giảm nhẹ thì mức hình phạt có thể thấp hơn.
Có thể nói, các quy định về tội xâm phạm tính mạng con người trong
các văn bản pháp luật của Nhà nước ta giai đoạn này đã kế thừa những thành
tựu lập pháp hình sự (LPHS) của giai đoạn trước trong việc phân hoá TNHS
cũng như trong đường lối xử lí người phạm tội xâm phạm tính mạng con
người. Cụ thể như:
14
- Những tình tiết tăng nặng thông thường được quy định trong tội giết
người gồm: Giết người với lỗi cố ý trực tiếp; giết người có tổ chức; giết người
có sự lợi dụng chức vụ, chuyên môn, nghề nghiệp, vũ khí được giao phó; giết
người gây ảnh hưởng chính trị xấu một cách rõ rệt…
- Những tình tiết giảm nhẹ thông thường được quy định trong tội
giết người gồm: Giết người có sự đồng tình của nạn nhân; can phạm là vị
thành niên…
Lần đầu tiên, đường lối xử lí người phạm tội giết người được quy định
một cách rõ ràng trong LHS như khi nào thì có thể và nên áp dụng hình phạt
tử hình, khi nào thì có thể áp dụng án treo, cần xét xử như thế nào khi vừa có
tình tiết tăng nặng đặc biệt, vừa có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt. Cụ thể là:
- Áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội giết người trong
trường hợp tập trung nhiều tình tiết tăng nặng đặc biệt hoặc chỉ một tình tiết
tăng nặng đặc biệt nhưng rất nghiêm trọng, nhân thân can phạm xấu, không
có tình tiết giảm nhẹ hoặc không có tình tiết giảm nhẹ đáng kể.
- Áp dụng án treo đối với người phạm tội giết người trong trường hợp:
Giết trẻ mới đẻ trong hoàn cảnh gặp nhiều khó khăn về mọi mặt; giết người
hủi, người điên, người tàn tật trong những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, với
động cơ chủ yếu là muốn tránh khổ sở cho người bị nạn; một số trường hợp
cộng phạm nhẹ.
- Khi vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt cần
đánh giá đúng đắn tính chất và mức độ nguy hiểm của mỗi tình tiết tăng nặng
và giảm nhẹ, cần so sánh, đối chiếu để thấy được ảnh hưởng qua lại giữa các
tình tiết đó với nhau, trên cơ sở đó mà ấn định mức án cho thích hợp. Mức án
này có thể xuống dưới mức tối thiểu của khung hình phạt nặng mà cũng có
thể cao hơn mức tối đa của khung hình phạt nhẹ.
16
17
Tiêu biểu trong công tác LPHS thời kỳ từ năm 1975 đến trước năm
1985 là Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 quy định các tội phạm và hình
phạt. Sắc luật gồm 4 chương, 12 điều, quy định 7 loại tội phạm: Tội phản
cách mạng; Tội xâm phạm tài sản công cộng; Tội xâm phạm đến thân thể và
nhân phẩm của công dân; Tội phạm kinh tế; Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn
và tội hối lộ; Tội xâm phạm tài sản riêng của công dân; Tội xâm phạm đến
trật tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe của nhân dân. Các qui định
này tiếp tục được hoàn chỉnh, bổ sung thành nhiều chương trong phần các tội
phạm của BLHS năm 1985 và 1999 sau này như các chương: Tội xâm phạm
an ninh quốc gia; tội xâm phạm tính mạng sức khỏe con người; tội xâm phạm
trật tự quản lý kinh tế và chức vụ…
Về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con
người, Sắc luật số 03/SL ngày 15/3/1976 nêu 5 tội thuộc nhóm tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người là tội giết người, tội
vô ý làm chết người, tội cố ý gây thương tích, tội vô ý gây thương tích nặng
và tội hiếp dâm. Còn các tội khác chỉ được nêu chung chung là các tội khác
xâm phạm thân thể và nhân phẩm của người dân.
Theo Sắc lệnh số 03/SL và hướng dẫn của TANDTC, quá trình xét xử
những trường hợp giết người sau đây sẽ bị tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Giết người có tổ chức; Giết người một cách trắng trợn, công khai trước mặt
người khác; Giết người gây khủng khiếp trong nhân dân; Giết người với thủ
đoạn tàn khốc; Giết nhiều người; Giết người vì tư thù, tư lợi; Giết người để
che giấu khuyết điểm, tội lỗi của mình; Giết người để cướp của.
Những trường hợp giết người được giảm nhẹ TNHS: Giết người mà
nạn nhân là Ngụy cũ, trước đây thực sự có tội ác đối với bị cáo hoặc thân
nhân của bị cáo, nay bị cáo quá uất ức đã giết nạn nhân; Giết người mà nạn
nhân phạm tội trộm cắp, đánh bạc, buôn lậu… khi bị xét hỏi đã tự ý bỏ chạy.
bốn lần bổ sung.
19
BLHS năm 1985 là bộ luật đầu tiên của Nhà nước cộng hòa XHCN Việt
Nam. Nếu PLHS thời kỳ trước đó là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
hình sự đơn hành, thì việc pháp điển hóa về hình sự lần này đánh dấu bước
tiến bộ vượt bậc về kỹ thuật LPHS ở nước ta.
BLHS năm 1985 gồm hai phần: Phần chung và Phần các tội phạm, tổng
cộng 20 chương với 280 điều thì các tội xâm phạm tính mạng con người được
qui định tại Chương II phần các tội phạm cụ thể. Ngoài ra, còn một số tội
phạm khác được qui định ở các chương khác của BLHS như tội khủng bố, tội
xâm phạm sức khỏe, xâm phạm sở hữu tài sản, các tội xâm phạm an toàn, trật
tự công cộng, trật tự quản lý hành chính…
Chế độ ta xác định con người là vốn quý nhất, quyết định sự tồn tại và
phát triển của xã hội. Đối với con người, tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm,
danh dự có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Vì vậy, BLHS năm 1985, sau khi
quy định các tội xâm phạm an ninh quốc gia tại chương I nhằm bảo vệ các
quan hệ xã hội có tầm quan trọng đặc biệt, đảm bảo cho sự tồn tại và phát
triển của các quan hệ xã hội khác, đã quy định các tội xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người ngay tại chương II nhằm bảo vệ
các quan hệ xã hội quan trọng đó.
Theo BLHS năm 1985, các tội xâm phạm tính mạng con người được
qui định từ Điều 101 đến Điều 108, bao gồm các tội: Tội giết người; Tội giết
người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Tội xâm phạm tính mạng
hoặc sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ; Tội vô ý làm chết
người; Tội bức tử; Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát; Tội cố ý không
giúp người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng.
Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI