ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ DUNG
CÁC TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM, DANH DỰ
CỦA CON NGƢỜI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
ĐỊA BÀN TỈNH HƢNG YÊN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Vũ Thị Dung
1.3.4. Bộ luật nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 19
Chƣơng 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999
VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM, DANH DỰ CỦA CON NGƢỜI
VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƢNG YÊN 21
2.1. Những quy định của pháp luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm
nhân phẩm, danh dự của con ngƣời theo quy định của Bộ luật hình sự Việt
Nam năm 1999. 21
2.1.1. Khái niệm chung. 21
2.1.2. Các tội phạm cụ thể 22
2.2. Thực tiễn xét xử các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngƣời
trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên. 43
2.2.1. Tình hình xét xử các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con
ngƣời trong thời gian 2009 đến năm 2013. 43
2.2.2. Một số tồn tại, hạn chế trong thực tiễn xét xử các tội xâm phạm
nhân phẩm, danh dự của con ngƣời và những nguyên nhân của những tồn
tại, hạn chế đó. 46
Chƣơng 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA
BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM NHÂN
PHẨM, DANH DỰ CỦA CON NGƢỜI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP
DỤNG. 61
3.1. Hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự
của con ngƣời. 61
3.1.1. Sự cần thiết và ý nghĩa của việc hoàn thiện các quy định của Bộ
luật hình sự về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngƣời. 61
3.2.2. Những kiến nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình
sự về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngƣời. 63
3.2. Những kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật
là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, bảo vệ nhân phẩm, danh dự của họ, vì đó là
những vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với con ngƣời. Khoản 1
Điều 20 Hiến pháp nƣớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy
định: “Mọi ngƣời có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, đƣợc pháp luật bảo
hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức,
nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe,
xúc phạm danh dự, nhân phẩm”.
Trong những năm qua, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xƣớng và
lãnh đạo đã thu đƣợc những thành tựu rất quan trọng trên các lĩnh vực chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong lĩnh vực bảo vệ quyền con ngƣời nói
chung, bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con ngƣời nói riêng, Đảng và Nhà
nƣớc ta luôn xác định con ngƣời vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Nhà nƣớc Việt Nam khẳng định con
ngƣời là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ
quyền con ngƣời là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm
thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Mọi chủ trƣơng,
đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc đều nhằm phấn đấu cho mục
tiêu “dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tất cả là vì
con ngƣời và cho con ngƣời. Nhà nƣớc Việt Nam không chỉ khẳng định sự
tôn trọng và bảo vệ quyền con ngƣời nói chung, nhân phẩm, danh dự của con
ngƣời nói riêng, mà còn làm hết mình để bảo đảm thực hiện trên thực tế.
Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế của đất nƣớc, tình hình kinh
tế ở Hƣng Yên cũng có nhiều thay đổi. Là một tỉnh nằm ở vùng đồng bằng
2
sông Hồng, nhiều làng nghề truyền thống, giao thông thuận lợi, Hƣng Yên thu
hút nhiều nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy nền
kinh tế - xã hội phát triển Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển kinh tế nói
phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người của TS. Trần
Văn Luyện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; Giáo trình Luật hình sự
Việt Nam của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
2000; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) của Khoa Luật,
Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2002; Bình
luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần các tội phạm) của TS Phùng Thế
Vắc, TS. Trần Văn Luyện, LS.ThS. Phạm Thanh Bình, TS. Nguyễn Đức Mai,
ThS. Nguyễn Sĩ Đại, ThS. Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
2001; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Phần các tội phạm, tập 1 (Bình
luận chuyên sâu) của ThS. Đinh Văn Quế, Nxb thành phố Hồ Chí Minh,
2002…Nhìn chung, các công trình nói trên nghiên cứu các tội xâm phạm
nhân phẩm, danh dự của con ngƣời trên khía cạnh quy định của luật hình sự,
hoặc nghiên cứu đối với từng tội phạm cụ thể trong phạm vi toàn quốc, chƣa
có công trình nào nghiên cứu về loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Hƣng
Yên. Chính vì những lý do đó, việc nghiên cứu đề tài “Các tội xâm phạm
nhân phẩm, danh dự của con người trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ
sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Hưng Yên)” là đòi hỏi khách quan, cấp
thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật đối với
các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngƣời và áp dụng chúng trong
thực tiễn tại tỉnh Hƣng Yên. Từ đó, luận văn đƣa ra các giải pháp nhằm hoàn
thiện các quy định của pháp luật về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự
của con ngƣời trong luật hình sự Việt Nam, cũng nhƣ đề xuất những giải
4
pháp nâng cao hiệu quả trong công tác áp dụng, đặc biệt trên địa bàn tỉnh
năm (2009 – 2013) với tƣ cách là tội phạm trong chƣơng Các tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con ngƣời.
5.Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài đƣợc thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và
chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Nhà nƣớc và
pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về xây dựng Nhà nƣớc pháp
quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tƣ pháp đƣợc thể hiện trong
các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08-NQTW
ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về chiến lƣợc cải
cách tƣ pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng các phƣơng pháp cụ
thể và đặc thù của khoa học luật hình sự nhƣ: phƣơng pháp phân tích và tổng
hợp; phƣơng pháp so sánh, đối chiếu; phƣơng pháp diễn dịch; phƣơng pháp
quy nạp; phƣơng pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức
khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tƣơng ứng đƣợc nghiên cứu
trong luận văn.
4. Những đóng góp mới của luận văn
Về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về các tội
xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngƣời trong khoa học luật hình sự
Việt Nam; phân tích thông qua nghiên cứu các số liệu thực tiễn xét xử sơ
thẩm trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên từ năm 2009 đến năm 2013 và các bản án
hình sự cụ thể để đánh giá. Qua đó chỉ ra những mâu thuẫn, bất cập trong các
quy định của pháp luật hiện hành; các sai sót trong quá trình áp dụng các quy
định đó, cũng nhƣ các nguyên nhân tìm ra giải pháp khắc phục, đề xuất những
7
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM,
DANH DỰ CỦA CON NGƢỜI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định các tội xâm phạm nhân
phẩm, danh dự của con ngƣời trong luật hình sƣ Việt Nam.
1.1.1. Khái niệm nhân phẩm, danh dự của con người.
Nhƣ đã đề cập ở phần mở đầu, con ngƣời đƣợc coi là vốn quý của xã
hội, là đối tƣợng hàng đầu đƣợc luật hình sự nói riêng cũng nhƣ pháp luật nói
chung bảo vệ. Bảo vệ con ngƣời trƣớc hết là bảo vệ tính mạng, sức khỏe,
nhân phẩm, danh dự và tự do của họ, trong đó bảo vệ nhân phẩm, danh dự của
con ngƣời có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Vì những lẽ đó, Bộ luật hình sự
năm 1999 quy định các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngƣời nằm
trong chƣơng thứ XII. Đây là một trong những chƣơng của Bộ luật hình sự
bao gồm những quy phạm pháp luật trực tiếp bảo vệ con ngƣời với tƣ cách là
chủ thể của các mối quan hệ xã hội. Vậy chúng ta hiểu thế nào là nhân phẩm,
danh dự của con ngƣời?
Theo tác giả, “danh dự là sự đánh giá của xã hội đối với một cá nhân về
các mặt đạo đức, phẩm chất chính trị và năng lực của ngƣời đó”. Sự đánh giá của
xã hội có thể về mặt lao động nhƣ nói ngƣời cần cù, siêng năng hay lƣời nhác, có
thể về mặt tinh thần thái độ đối với công việc đƣợc giao, trong sinh hoạt cá nhân
hay cƣ xử với mọi ngƣơi xung quanh nhƣ ngƣời đó sống nghiêm túc hay buông
thả, trong mối quan hệ với mọi ngƣời thì thân ái đoàn kết hay ích kỷ.
Nhƣ vậy, danh dự của một con ngƣời đƣợc hình thành từ những hành
động và cách cƣ xử của ngƣời đó, từ công lao và thành tích mà ngƣời đó có
đƣợc qua những năm tháng của cuộc đời và đƣợc xã hội đánh giá theo những
tiêu chuẩn và nguyên tắc đạo dức xã hội chủ nghĩa. Danh dự là một khái niệm 9
trƣờng hợp vì lợi ích của xã hội đòi hỏi phải phục hồi danh dự và nhân phẩm
cho một cá nhân mặc dù cá nhân đó đã chết.
Xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm thƣờng thể hiện bằng cách: Dùng
những lời lẽ hoặc hành động có tính chất thóa mạ khinh bỉ để làm nhục ngƣời
khác hoặc gán một sự kiện xấu xa cho ngƣời khác làm cho xã hội đánh giá sai
hoặc hình dung sai về ngƣời đó. Sự đánh giá sai sự thật không phụ thuộc vào
việc ngƣời đƣa ra những tin tức đó vô tình hay cố ý. Tiêu chuẩn để đánh giá
những sự việc nêu ra là xấu xa hay không xấu xa là những nguyên tắc đạo đức
xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên tính chất nghiêm trọng của những tin tức đƣa ra
có thể khác nhau tùy theo nhân thân của ngƣời bị hại. Ví dụ: Nếu nói một em
học sinh quay cóp khi thi mà không đúng sự thật thì cũng là điều đáng chê
trách và cũng có thể bị dƣ luận lên án, nhƣng không nghiêm trọng bằng việc
nói một nhà văn đã ăn cắp văn của ngƣời khác.
1.1.2. Nhân phẩm, danh dự của con người được quy định trong Hiến pháp
Việt Nam năm 2013 và pháp luật quốc tế.
Không chỉ đối với Việt Nam, pháp luật quốc tế cũng ghi nhận quyền
đƣợc bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con ngƣời. Đây là một trong những yếu
tố hình thành quyền công dân nói chung và quyền con ngƣời nói riêng, nó là
những quyền tự nhiên của con ngƣời và không bị tƣớc bỏ bởi bất cứ ai và bất
cứ chính thể nào. Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc,
nhân quyền là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá
nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại
đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con ngƣời. Trong bản Tuyên ngôn
Độc lập Hoa Kỳ, Thomas Jefferson đã đƣa ra một nguyên tắc cơ bản làm cơ
sở cho sự thành lập chính phủ dân chủ. Các chính phủ trong thể chế dân chủ
không ban phát các quyền tự do cơ bản mà Jefferson đã nêu, mà chính các
danh dự của con ngƣời.
Trên cơ sở đƣợc quy định trong Hiến pháp, quyền đƣợc bảo vệ nhân
phẩm, danh dự đƣợc quy định cụ thể hơn trong các văn bản pháp luật của
11
nhiều ngành luật khác nhau tạo thành một hệ thống các quy định về quyền
đƣợc bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con ngƣời, trong đó pháp luật hình sự
đóng vai trò quan trọng.
1.1.3. Ý nghĩa của việc quy định các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự
của con người trong luật hình sự Việt Nam.
Việc quy định các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngƣời
trong luật hình sự Việt Nam có ý nghĩa dƣới các góc độ chính sau đây:
Thứ nhất, dƣới góc độ chính trị xã hội, đã góp phần cụ thể hóa các quy
định của Hiến Pháp về bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân. Khoản 1
Điều 20 của Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi ngƣời có quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, đƣợc pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm;
không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào
khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm [27]. Nhƣ
vậy, việc bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân đã đƣợc Hiến Pháp xác
lập, ghi nhận và đƣợc pháp luật Hình sự bảo vệ. Những quy định trong
chƣơng XII – “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự
của con ngƣời” của Bộ luật Hình sự nói chung, từ Điều 111 đến Điều 122 về
các tội xâm phạm “nhân phẩm, danh dự của con ngƣời” nói riêng đã thể hiện
thái độ kiên quyết đấu tranh chống các tội phạm về nhân phẩm, danh dự của
con ngƣời của Đảng và Nhà nƣớc ta để bảo vệ sự nghiệp cách mạng, sự lãnh
đạo của Đảng, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cũng nhƣ bảo đảm
hiệu lực quản lý của Nhà nƣớc đối với xã hội, tiến tới mục tiêu xây dựng nhà
nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh.
kịp các văn bản quy phạm pháp luật nói chung, văn bản quy phạm pháp luật
hình sự nói riêng, ngày 10-10-1945 Nhà nƣớc ta đã ban hành Sắc lệnh số 47-
SL cho tạm thời giữ các luật lệ cũ trong đó có Bộ “Luật hình An Nam”, Bộ
“Hoàng Việt hình luật” và Bộ “Hình luật pháp tu chính” với điều kiện “không
13
trái với nguyên tắc độc lập của nƣớc Việt Nam và chính thể dân chủ cộng
hòa”. Trong bối cảnh này, việc đấu tranh chống các tội xâm phạm nhân phẩm,
danh dự của con ngƣời chƣa đƣợc đặt ra.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ đƣợc ký kết, miền
Bắc hoàn toàn đƣợc giải phóng, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay
sai thống trị. Ở miền Bắc, Đảng ta chủ trƣơng tiến hành cách mạng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng miền Bắc thành căn cứ vững mạnh của cách mạng cả nƣớc; ở
miền Nam tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ nhằm giải phóng miền Nam
khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai thực hiện thống nhất nƣớc nhà.
Trong thời kỳ này, đối với việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân
phẩm, danh dự của con ngƣời, pháp luật chủ yếu đề cập các tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe nhƣ giết ngƣời, gây thƣơng tích, làm chết ngƣời trong
thông tƣ số 442-TTg ngày 19-11-1955 của Thủ tƣớng Chính Phủ mà chƣa có
văn bản pháp luật hình sự nào quy định về các tội xâm phạm nhân phẩm,
danh dự của con ngƣời.
Sau khi miền Nam đƣợc giải phóng, trong khi chờ đợi thống nhất nƣớc
nhà về mặt Nhà nƣớc, trên thực tế tồn tại hai Nhà nƣớc: Nhà nƣớc Việt Nam
dân chủ cộng hòa và Nhà nƣớc Cộng hòa Miền Nam Việt Nam; mỗi Nhà
nƣớc có một hệ thống pháp luật riêng. Nhà nƣớc Cộng hòa Miền Nam Việt
Nam đã ban hành ngay một số chính sách, văn bản quy phạm pháp luật hình
sự nhằm phục vụ thực hiện một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách là
trấn áp bọn phản cách mạng và tội phạm khác, bảo vệ vững chắc an ninh
hành Bộ luật hình sự là vấn đề mang tính tất yếu khách quan và cấp thiết, có ý
nghĩa góp phần phục vụ thực hiện hai nhiệm vụ chiến lƣợc là xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ngày 27 – 6 –
1985, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa VII đã thông qua Bộ luật hình sự, có hiệu lực ngày 1-1-1986 (sau đây
gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1985).
15
Bộ luật hình sự năm 1985 đã kế thừa và phát triển những thành tựu lập
pháp hình sự Việt Nam, tổng kết kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm
trong thời gian trƣớc năm 1985 và dự báo đƣợc tình hình trong thời gian tới.
Trong Bộ luật hình sự năm 1985, tiếp theo việc quy định các tội xâm
phạm an ninh quốc gia chƣơng 1, nhà làm luật đã quy định các tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự ở chƣơng 2. Đây là những quy
phạm pháp luật trực tiếp bảo vệ con ngƣời với tính chất là chủ thể của các
quan hệ xã hội. Theo đó Bộ luật hình sự năm 1985 quy định 7 Điều về các tội
xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con ngƣời (từ Điều 112 đến Điều 118).
Việc ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đã đánh dấu trƣởng thành về mặt kỹ
thuật lập pháp hình sự của nƣớc ta trong lĩnh vực bảo vệ nhân phẩm, danh dự
của con ngƣời.
1.3. Nghiên cứu so sánh các quy định về các tội xâm phạm nhân phẩm,
danh dự của con ngƣời trong luật hình sự Việt Nam với pháp luật hình
sự của một số nƣớc.
Nghiên cứu những quy định về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự
của con ngƣời trong pháp luật hình sự của Nhật Bản, Vƣơng quốc Thụy Điển,
Liên Bang Nga, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào cho thấy các nƣớc quy định
rất khác nhau về tội phạm này.
1.3.1.Bộ luật hình sự Nhật Bản:
Thụy Điển là một trong những nƣớc có kinh tế phát triển, chế độ chính
trị ổn định, trình độ pháp điển hóa pháp luật phát triển ở mức cao, an sinh xã
hội đƣợc quan tâm. Tình trạng tội phạm so với các nƣớc phát triển khác là khá
thấp, có nhiều loại tội phạm hầu nhƣ ít xảy ra ở nƣớc này
Bộ luật hình sự của Vƣơng quốc Thủy Điển quy định các tội xâm phạm
nhân phẩm, danh dự của con ngƣời nằm trong chƣơng V, chƣơng VI
- Điều 2 chƣơng V: “Ngƣời nào xỉ vả ngƣời khác bằng lời lẽ lăng mạ
hoặc có những hành động khác mang tính sỉ nhục đối với ngƣời đó, thì bị kết
án về tội làm nhục ngƣời khác và bị phạt tiền nếu hành vi này không bị xử
phạt theo Điều 1 hoặc Điều 2.
17
Phạm tội trong trƣờng hợp nghiêm trọng thì bị phạt tiền hoặc bị phạt tù
đến 6 tháng” [44, trang 13].
Điều 5 của Bộ luật còn quy định: Các điều nói từ Điều 1 đến Điều 3 có
thể không bị truy tố trừ trƣờng hợp có đơn yêu cầu của ngƣời bị hại. Tuy
nhiên nếu ngƣời bị hại không có đơn yêu cầu truy tố nhƣng vì lợi ích công
cộng thì công tố viên có thể truy tố các tội:
1. Vu khống và vu khống ngƣời khác trong trƣờng hợp nghiêm trọng;
2. Làm nhục nhà chức trách hoặc lăng mạ nhà chức trách khi thi hành
công vụ;
3. Làm nhục ngƣời khác vì lý do sắc tộc, màu da, nguồn gốc dân tộc
hoặc tôn giáo của ngƣời đó;
4. Làm nhục ngƣời khác vì lý do bệnh đồng tính luyến ái của ngƣời đó.
Hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự của ngƣời đã chết có thể bị truy
tố theo yêu cầu của ngƣời vợ hoặc chồng còn sống, những ngƣời thừa kế trực
tiếp, cha, mẹ hoặc anh chị em ruột của ngƣời chết. Công tố viên phải truy tố
hành vi nói trên; việc truy tố là vì lợi ích công cộng do những lý do đặc biệt.
2. Làm nhục trên diến đàn công cộng, trong tác phẩm đƣợc công bố công
khai hay trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng.
- Thì bị phạt tiền đến 200 lần mức thu nhập tối thiểu hay mức lƣơng hay thu
nhập khác của ngƣời bị kết án trong thời gian đến 2 tháng, hoặc bị phạt lao động
bắt buộc đến 180 giờ, hoặc lao động cải tạo đến 01 năm [45, trang 84 – 85].
Điều 328 Bộ luật này còn quy định tội xúc phạm quân nhân: “1. Quân
nhân nào xúc phạm đồng đội trong khi thực hiện các nghĩa vụ trong quân đội
hoặc liên quan đến việc thực hiện các nghĩa vụ đó thì phạt hạn chế phục vụ quân
đội đến 6 tháng hoặc bị phạt giữ ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến 6 tháng.
2. Cấp dƣới xúc phạm ngƣời chỉ huy hoặc ngƣời chỉ huy xúc phạm cấp
dƣới trong khi thực hiện các nghĩa vụ trong quân đội hoặc liên quan đến việc
19
thực hiện các nghĩa vụ đó, thì bị phạt hạn chế phục vụ quân đội đến 1 năm
hoặc bị phạt giữ ở đơn vị kỷ luật của quân đội đến 1 năm [45, trang 136].
1.3.4. Bộ luật nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Bộ luật hình sự nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào quy định tội xúc
phạm danh dự ngƣời khác tại Điều 87, tội chửi rủa lăng nhục ngƣời khác tại
Điều 88, tội xúc phạm mồ mả và thanh danh của ngƣời đã chết tại Điều 89.
Điều 87 Bộ luật hình sự quy định: “Ngƣời nào xúc phạm danh dự của
ngƣời khác bằng lời nói, viết hoặc những hình thức khác thì bị phạt tƣớc
quyền tự do từ 3 tháng đến 1 năm hoặc cải tạo không tƣớc quyền tự do hoặc
phạt tiền 5.000 đến 10.000 kíp.
Ngƣời nào đặt ra những điều không có thực bằng lời nói, viết hoặc
bằng các hình thức khác xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự của ngƣời khác
thì bị phạt tƣớc quyền tự do từ 3 tháng đến 1 năm hoặc bị phạt tuênf từ 5.000
kíp đến 10.000 kíp” [46, trang 46].
Nhƣ vậy, theo pháp luật nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, hành vi