Tội buôn lậu trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2009 – 2013) Luận văn ThS. Luật - Pdf 29



1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ VUI

TỘI BUÔN LẬU TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN ĐỊA BÀN
TỈNH BẮC GIANG GIA ĐOẠN 2009 – 2013)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ Nội - 2014


3 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2014
NGƢỜI CAM ĐOAN Nguyễn Thị Vui
4
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang ra sức tập trung thực hiện thắng
lợi công cuộc đổi mới và từng bước đưa đất nước vào thời kỳ công nghiệp hoá,

2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội
buôn lậu dưới góc độ lý luận và thực tiễn. Điển hình là một số công trình:
Buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới đất liền
Việt – Trung. Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu
tranh của Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Ninh (Luận án Tiến sĩ của tác giả Vũ
Đình Nông – 1997);
Đấu tranh phòng chống tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa,
tiền tệ qua biên giới. (Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đức Bình - 2000);
Một số vấn đề về đấu tranh phòng chống tội buôn lậu (tác giả Ngô
Ngọc Thuỷ, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 1995);
Tội buôn lậu hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Luận văn thạc sĩ của tác
giả Trần Đức Thìn – 1996);
Đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
(Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Dương Thị Nhàn, năm 2006);
Bên cạnh đó còn có một số bài viết:
"Buôn lậu và chống buôn lậu" của tác giả Bùi Toản (Tạp chí Kiểm sát,
số 1 + 2 năm 1999, trang 56 - 58);
"Phòng, chống buôn lậu trong lĩnh vực hải quan khi Việt Nam gia nhập
WTO" của tác giả Nguyễn Phi Hùng có bài viết (Tạp chí Quản lý nhà nước -
Học viện Hành chính Quốc gia, số 12/2006, trang 12 - 16).
Ngoài ra, còn nhiều công trình, bài viết nghiên cứu của các tác giả khác
trên các tạp chí Hải quan, Công an nhân dân Các công trình nghiên cứu trên
đã làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác đấu tranh phòng, chống
tội buôn lậu, đồng thời cũng đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác đấu tranh chống buôn lậu. Tuy nhiên, tình hình buôn lậu trong những 6
năm gần đây đã có những thay đổi với nhiều thủ đoạn phạm tội mới, các giải

hình sự Việt Nam.
+ Nghiên cứu đánh giá tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
+ Đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật hình
sự Việt Nam về tội buôn lậu.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần danh mục tài liệu tham khảo
và phần phụ lục, kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề về tội buôn lậu trong Luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Tình hình tội buôn lậu và thực tiễn xét xử tội phạm này trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2009 - 2013
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội buôn lậu. 8
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỘI BUÔN LẬU
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Những vấn đề chung
1.1.1. Khái niệm tội buôn lậu theo Luật hình sự Việt Nam
Tội phạm nói chung và tội buôn lậu nói riêng là một hiện tượng tiêu cực của
xã hội mà nguồn gốc của nó là từ xã hội và sự phát triển của nó gắn liền với sự phát
triển của xã hội. Mỗi một quốc gia, để bảo vệ lợi ích của nước mình, phù hợp với
tập quán thương mại quốc tế đều đưa ra những chính sách ngăn chặn và làm giảm
bớt tác hại của loại tội phạm này. Ở nước ta, trong những năm gần đây tình hình
buôn lậu diễn ra rất phức tạp, tác động xấu tới sự phát triển kinh tế - xã hội như:
Gây thất thu thuế cho Nhà nước, đe dọa phá vỡ chính sách kinh tế - xã hội, ảnh
hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng cũng như đến trật tự quản lý kinh tế.
Thuật ngữ “buôn lậu” đã xuất hiện từ lâu trong các văn bản của Nhà
nước ta. Thông tư số 33-VH/HS ngày 5-7-1958 của Bộ Tư pháp đã quy định
cụ thể việc xử lý buôn lậu. Nghị quyết của Bộ Chính trị (khóa III) ngày

tội buôn lậu như sau: “Tội buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên
giới quốc gia các loại hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý,
các loại vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa, các loại hàng cấm nhằm mục
đích kiếm lời”.
Từ khái niệm trên có thể thấy rằng giữa khái niệm “buôn lậu” hiểu theo
nghĩa thông thường và khái niệm “buôn lậu” theo Luật hình sự Việt Nam có
sự khác biệt. So với khái niệm “buôn lậu” trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” có
thể thấy rằng khái niệm “buôn lậu” với ý nghĩa là một tội phạm trong Bộ luật
hình sự phải có yếu tố bắt buộc là “qua biên giới”, nếu hành vi buôn bán các
mặt hàng như kể trên mà không qua biên giới thì đó không phải là tội buôn
lậu, đồng thời, đối tượng của hành vi buôn lậu theo Luật hình sự Việt Nam
được mở rộng hơn vì bên cạnh hàng hóa cấm, đối tượng của tội buôn lậu
trong Bộ luật hình sự còn bao gồm: hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim
khí quý, đá quý có giá trị… vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa. So với 10
khái niệm “buôn lậu” trong cuốn Từ điển bách khoa Việt Nam thì khái niệm
“buôn lậu” theo Luật hình sự Việt Nam cũng có điểm khác biệt về đối tượng
của tội buôn lậu, trong Bộ luật hình sự, không chỉ có ngoại tệ mà cả tiền Việt
Nam cũng là đối tượng của tội buôn lậu, đồng thời tội buôn lậu trong Bộ luật
hình sự còn có thêm dấu hiệu mục đích của người phạm tội là mục đích kiếm
lời, đây là một dấu hiệu giúp phân biệt giữa tội buôn lậu và tội vận chuyển
trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới.
1.1.2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội buôn lậu
Tội buôn lậu với tính chất là một hiện tượng tiêu cực của xã hội đã gây
ra những thiệt hại nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, khiến cho Nhà nước không kiểm soát được hàng hóa xuất nhập khẩu,
gây thất thoát thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu hàng hóa; làm cho thị trường
hàng hóa bị rối loạn, mất ổn định, làm cho sự cạnh tranh trên thị trường thiếu

thì phạt 100 trượng. Tuy có khai báo mà không khai báo thiệt thì như tội trên.
Các hàng hóa không báo và báo không hết, cho nhập vào quan, ai cất giấu thì
chịu cùng tội. Ai chỉ bắt được thì được thưởng bạc 20 lạng”[28]. Như vậy, có
thể thấy rằng ngay từ thời phong kiến, mặc dù hành vi mua bán trái phép qua
biên giới không được định nghĩa rõ ràng là hành vi buôn lậu như Bộ luật hình
sự hiện nay nhưng với những quy định trên cũng đã chứng tỏ rằng trong xã
hội phong kiến tác hại của buôn lậu đã được nhìn nhận và quan tâm.
Sau Cách mạng Tháng tám 1945, Nhà nước Việt Nam đã ban hành một
số văn bản pháp luật đấu tranh chống loại tội phạm này. Văn bản pháp luật
hình sự đầu tiên phải kể đến đó là Sắc lệnh số 45 ngày 9/10/1945 do Chủ Tịch
Hồ Chí Minh ký quy định cấm xuất cảnh kho thóc, gạo, ngô, đỗ hoặc các chế
phẩm thuộc về ngũ cốc, quy định này nhằm góp phần đẩy lùi nạn đói năm
1945. Sau đó, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật nhằm đấu
tranh với loại tội phạm này và một trong những văn bản quan trọng phải kể 12
đến đó là “Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh
doanh trái phép” ban hành ngày 30/6/1982. Khác với các văn bản trước đó,
Pháp lệnh ngày 30/6/1982 đã quy định rõ ràng một tội danh với các dấu hiệu
pháp lý đặc trưng của nó, có thể nói, tại văn bản này khái niệm tội buôn lậu
mới chính thức được ghi nhận trong văn bản pháp luật hình sự của Nhà nước.
Trong pháp lệnh ngày 30/6/1982, tội buôn lậu được quy định ở hai điều luật
khác nhau: Điều 3 – “Tội buôn lậu, tàng trữ hàng cấm” là hành vi: “…Buôn
lậu, tàng trữ vàng bạc, kim khí quý, đá quý, ngoại tệ, vật tư kỹ thuật hoặc các
hàng hóa khác mà Nhà nước cấm buôn bán, tàng trữ…” và Điều 4 – Tội
buôn lậu hoặc tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới là hành vi:
“Buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên
giới…”[18] (hàng hóa ở đây được hiểu là mọi hàng hóa ngoài những loại
hàng hóa được coi là hàng cấm được quy định tại Điều 3 của Pháp lệnh). Đối

đ) Phạm tội nhiều lần hoặc tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ
mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”.
Trong thời kỳ này, Tội buôn lậu hoặc tội vận chuyển trái phép hàng hóa
qua biên giới lại được quan niệm là một tội phạm thuộc nhóm các tội xâm
phạm an ninh quốc gia.
Sau hơn 10 năm áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1985
trong đó có tội buôn lậu đã bộc lộ nhiều bất cập. Trước tình hình này ngày
21/12/1999 tại kỳ họp lần thứ VI – Quốc hội khóa X đã thông qua Bộ luật
hình sự mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2000 (sau đây gọi là Bộ luật
hình sự 1999) thay thế Bộ luật hình sự 1985. Bộ luật hình sự 1999 (gần đây
mới sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009) đã tách riêng tội buôn lậu và tội vận
chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và quy định hai tội này ở hai điều
luật khác nhau trong đó tội buôn lậu được quy định tại Điều 153 với nội dung:
“Người nào buôn bán trái phép qua biên giới… hàng hóa, tiền tệ Việt Nam, 14
ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị… vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn
hóa…hàng cấm có số lượng lớn…”. Bộ luật hình sự 1999 coi tội buôn lậu
thuộc nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự quản
lý trong lĩnh vực xuất - nhập khẩu. Việc các nhà làm luật quy định như vậy là
phù hợp với bản chất kinh tế của tội buôn lậu, điều đó đã góp phần không
nhỏ trong việc giúp chúng ta nhận thức về loại tội phạm này cũng như có
những biện pháp đấu tranh đề ngăn chặn và tiến tới đẩy lùi tội phạm buôn lậu.
Tóm lại, buôn lậu được coi là một tội phạm có tính truyền thống, nó
cũng có những thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử. So với các giai đoạn trước
tội buôn lậu trong Bộ luật hình sự đã được sửa đổi, bổ sung cả về dấu hiệu
pháp lý cũng như đường lối xử lý, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm
của loại tội phạm này trong từng trường hợp cụ thể, đồng thời đáp ứng yêu

kinh tế Xã hội chủ nghĩa”: “Người có hành vi buôn lậu, đầu cơ chuyên nghiệp
với số lượng rất lớn, hoặc người chủ mưu trong tổ chức buôn lậu, đầu cơ bị phạt
tù từ ba đến mười năm, đồng thời có thể bị tịch thu tài sản”[4] . Để đáp ứng yêu
cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, Bộ luật hình sự của
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được sửa đổi, bổ sung năm 1997 đã quy định tội
buôn lậu tại Mục 2, Chương III – Tội xâm phạm trật tự kinh tế thị trường Xã hội
chủ nghĩa từ Điều 151 đến Điều 157 nhưng cũng chỉ liệt kê những hành vi bị coi
là buôn lậu mà chưa có quy phạm định nghĩa tội buôn lậu.
Nghiên cứu Luật hình sự của nước ta với Luật hình sự của Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa và Liên bang Nga cho thấy quan niệm về khách thể của
tội buôn lậu của các nhà làm luật có sự giống nhau. Trong Bộ luật hình sự của
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1979, tội buôn lậu thuộc Chương 3 –
“Các tội xâm phạm trật tự kinh tế thị trường Xã hội chủ nghĩa”, đến Bộ luật
hình sự của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1979, tội buôn lậu vẫn được
quy định tại Chương 3 – “Các tội xâm phạm trật tự kinh tế thị trường Xã hội
chủ nghĩa” . Trong Bộ luật hình sự của Liên bang Nga, tội buôn lậu được đưa
vào nhóm các tội phạm về kinh tế và được quy định tại Điều 186. Như vậy,
Luật hình sự của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Liên bang Nga đều coi
khách thể của tội buôn lậu là trật tự quản lý kinh tế. 16
1.2. Dấu hiệu pháp lý hình sự của tội buôn lậu theo Luật hình sự
Việt Nam
Cũng như các tội phạm nói chung, về mặt cấu trúc, tội buôn lậu được
cấu thành bởi bốn yếu tố: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan
của tội phạm. Bốn yếu tố này có mối liên hệ biện chứng, không thể tách rời
biệt lập với nhau, tổng hợp lại cùng xác định tính nguy hiểm cho xã hội của
hành vi buôn lậu, thiếu bất kỳ yếu tố nào cũng không còn là tội phạm buôn
lậu. Do vậy, để có thể hiểu rõ bản chất của loại tội phạm này thì việc nghiên

tivi, tủ lạnh, xe đạp, xe máy,… hoặc những tư liệu sản xuất như máy móc,
thiết bị,… Như vậy, hàng hóa với tư cách là đối tượng của tội phạm buôn lậu
là một khái niệm có nội hàm rất rộng, bao gồm tất cả các sản phẩm, chỉ trừ
một số loại hàng hóa do tính chất đặc biệt đã được quy định là đối tượng của
các tội phạm khác như: Các chất ma túy, vũ khí quân dụng và phương tiện kỹ
thuật, vũ khí thô sơ và công cụ hỗ trợ, chất phóng xạ,…
Tiền Việt Nam: Đồng tiền trong tội buôn lậu không thực hiện chức
năng trao đổi hay thanh toán thông thường mà nó được coi là hàng hóa, là đối
tượng của hành vi mua bán. Tiền là đối tượng của tội buôn lậu phải là tiền
Việt Nam hiện hành (do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành). Các
đồng tiền Việt Nam đang lưu hành hiện nay là tiền giấy và tiền kim loại [22].
Ngoại tệ: Trên thực tế, ngoại tệ được hiểu là tiền nước ngoài, không
phải là đồng tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành. Có thể hiểu
ngoại tệ là các loại tiền do nước ngoài phát hành bao gồm: tiền giấy, tiền bằng
kim loại còn hiệu lực lưu hành.
Kim khí quý: Là các loại kim khí thuộc loại quý hiếm dạng tự nhiên
hoặc các chế phẩm làm từ kim khí quý theo danh mục do Nhà nước Việt Nam
ban hành như: vàng, bạc, bạch kim… Theo quy định tại Điều 3 Điều lệ quản
lý ngoại hối của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988 thì kim
khí quý bao gồm: Vàng, bạc và các kim loại thuộc nhóm bạch kim. 18
Đá quý: Là các loại đá tự nhiên và các loại thành phần từ đá quý theo
danh mục Nhà nước Việt Nam ban hành. Theo quy định tại Điều 1 Quy chế
quản lý các hoạt động điều tra địa chất, khai thác mỏ, chế tác và buôn bán đá
quý ngày 7/10/1993 của Chính phủ thì “đá quý là các loại ngọc tự nhiên như
rubi, kim cương, saphia, eromot và các loại đá quý tự nhiên khác có giá trị
tương đương”.
Vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa: Theo khoản 3 Điều 4

hình sự 1999, thì một số hàng cấm đã là đối tượng của các tội phạm khác thì
sẽ không là đối tượng của tội buôn lậu như: Điều 193 – Tội sản xuất trái phép
chất ma túy; Điều 195 – Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt
chất ma túy dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy;…
1.2.2. Mặt khách quan của tội buôn lậu
Cũng như bất cứ tội phạm nào, mặt khách quan của tội buôn lậu là tập
hợp tất cả những biểu hiện bên ngoài của tội buôn lậu diễn ra hoặc tồn tại bên
ngoài thế giới khách quan mà con người có thể nhận biết được, cho phép đánh
giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi buôn lậu, đồng thời
đó cũng là căn cứ để phân biệt tội phạm buôn lậu với các tội khác.
Hành vi khách quan của tội buôn lậu
Hành vi khách quan của tội phạm là xử sự của con người đã gây ra và
đe dọa gây ra cho xã hội, hành vi phạm tội chỉ có thể được biểu hiện qua hai
hình thức đó là hành động hoặc không hành động. Theo quy định của Bộ luật
hình sự 1999, mặt khách quan của tội buôn lậu được thể hiện ở hành vi buôn
bán trái phép qua biên giới hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá
quý, các vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa hoặc hàng cấm.
Hành vi buôn bán trái phép qua biên giới các mặt hàng trên của người
phạm tội là hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới để trao đổi
trái phép với các quy định của Nhà nước về xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên 20
giới như: Vận chuyển hàng hóa qua cửa khẩu mà không khai báo hoặc khai
báo một cách gian dối; giấu giếm hàng hóa, tiền tệ; không có giấy tờ hợp lệ,
sử dụng các giấy tờ giả mạo của các cơ quan có thẩm quyền; vận chuyển hàng
hóa bí mật, lén lút không qua cửa khẩu để trốn tránh sự phát hiện của cơ quan
Nhà nước, có thẩm quyền (Hải quan, Bộ đội biên phòng, các lực lượng tuần
tra, kiểm soát khác…). Hành vi này có thể được thực hiện bằng đường bộ,
đường thủy, đường không hoặc đường bưu điện [34]. Cụ thể như sau:

làm hư một vài bóng đèn chiếu sáng.v.v rồi nhập về Việt Nam.
+ Giả mạo giấy tờ là việc người buôn bán các loại hàng hóa, tiền tệ,
kim khí, đá quý, vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa, hàng hóa cấm qua
biên giới quốc gia tuy có xuất trình giấy tờ nhưng đó là giấy tờ giả mạo hoặc
giấy tờ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng có được bằng con đường
gian dối hoặc sử dụng không đúng với mục đích cấp nó.
Không có giấy tờ hợp lệ được hiểu là không có giấy phép xuất – nhập
khẩu theo hạn ngạch và các giấy tờ cần thiết khác theo quy định của Nhà
nước hoặc có giấy phép xuất - nhập khẩu và các giấy tờ cần thiết khác nhưng
lại không đúng với hàng hóa quy định trong giấy phép đó hoặc tuy có xuất
giấy phép xuất – nhập khẩu nhưng giấy phép đó lại không phải do người có
thẩm quyền cấp hoặc giấy phép đó là giả mạo.
+ Hành vi trốn tránh sự kiểm soát của Hải quan hay các cơ quan quản lý
cửa khẩu biển hiện ở việc đi đường tắt qua biên giới, không qua trạm kiểm
soát, lợi dụng sơ hở của các lực lượng chống buôn lậu để đưa hàng hóa qua
biên giới Việt Nam. Tuy nhiên không phải mọi trường hợp hàng hóa, tiền tệ
qua biên giới quốc gia đều là hành vi buôn lậu và cấu thành tội buôn lậu (ví dụ
như buôn bán hàng hóa qua biên giới mang tính chất trao đổi, phục vụ đời sống
hàng ngày với số lượng không đáng kể thì không coi là phạm tội buôn lậu). 22
Mặc dù Luật hình sự không quy định hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của
tội buôn lậu nhưng điều đó không có nghĩa là hậu quả không xảy ra. Thực tế
cho thấy hành vi buôn lậu gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất
nội địa, gây thất thu thuế của Nhà nước, gây mất ổn định thị trường… Hậu
quả tuy không có ý nghĩa quyết định trong việc định tội song việc xác định
hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi buôn lậu và hậu quả có ý nghĩa
quan trọng trong việc giải quyết trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt
đối với người thực hiện hành vi phạm tội, nếu hậu quả do hành vi buôn lậu

Chính vì vậy, để xác định hàng hóa đã qua biên giới hay chưa nên căn cứ vào
việc hàng hóa đó đã thoát khỏi sự kiểm soát của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền về xuất – nhập khẩu hàng hóa đó hay chưa? Hàng hóa có thể là hàng
xuất khẩu hoặc hàng nhập khẩu nên cần phân biệt hai trường hợp:
+ Đối với hàng nhập khẩu: Chỉ khi nào người buôn lậu đưa hàng hóa
qua biên giới quốc gia thì mới cấu thành tội buôn lậu. Trường hợp khi hàng
hóa đã nhập vào nội địa mới bị phát hiện nếu có đủ căn cứ chứng minh là đã
nhập trái phép nhằm buôn bán kiếm lời thì cũng cấu thành tội buôn lậu. Nếu
hàng hóa mới được đưa tập kết gần đường biên giới nhưng chưa đưa vào
nước ta thì không coi là tội phạm hoàn thành vì hàng nhập khẩu vẫn còn đang
nằm ngoài sự kiểm soát của ta.
+ Đối với hàng xuất khẩu: Khi người phạm tội đưa hàng hóa qua khu
vực kiểm soát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và bị phát hiện thì coi là
thỏa mãn dấu hiệu qua biên giới và bị coi là phạm tội buôn lậu. Trường hợp
người phạm tội đã đưa hàng hóa trót lọt ra ngoài biên giới sau đó mới bị phát
hiện thì cũng cấu thành tội phạm này.
1.2.3. Chủ thể của tội buôn lậu
Theo Luật hình sự Việt Nam, chủ thể của tội phạm được hiểu là con
người cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội vào thời điểm họ có năng lực trách 24
nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp
luật. Cũng như chủ thể của các tội phạm khác, chủ thể của tội buôn lậu chỉ
cần là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đến độ tuổi nhất định theo
quy định của pháp luật.
Năng lực trách nhiệm hình sự là năng lực nhận thức và điều khiển hành
vi. Năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để có thể xác định con
người có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ người có năng
lực trách nhiệm hình sự mới có thể là chủ thể của tội phạm. Người có năng lực

khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 của điều luật, còn người từ đủ 14 tuổi trở
lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội buôn lậu
trong các trường hợp quy định tại khoản 3, khoản 4 của điều luật.
Qua những phân tích ở trên có thể thấy rằng chủ thể của tội buôn lậu
theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam bao gồm: Công dân Việt Nam,
người nước ngoài, người không quốc tịch có năng lực trách nhiệm hình sự và
đạt độ tuổi luật định. Bên cạnh việc thỏa mãn điều kiện về năng lực trách
nhiệm hình sự và độ tuổi thì chủ thể của tội buôn lậu còn phải thỏa mãn điều
kiện: Nếu vật phạm pháp là hàng hóa, kim khí quý, đá quý dưới 100 triệu
đồng hoặc hàng cấm có số lượng chưa lớn, người phạm tội phải là người đã bị
xử phạt hành chính về hành vi buôn lậu hoặc hành vi quy định tại một trong
các điều 154,155,156,157,158,159,160,161 của Bộ luật hình sự hoặc đã bị kết
án về một trong các tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm mới cấu
thành tội buôn lậu.
1.2.4. Mặt chủ quan của tội buôn lậu
Cũng như các tội khác, khi xem xét dấu hiệu thuộc mặt chủ quan chúng
ta cần làm rõ ba dấu hiệu:
Lỗi của người phạm tội
Đối với tội buôn lậu, tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp vì:

Trích đoạn Mặt chủ quan của tội buôn lậu Phương thức, thủ đoạn phạm tội buôn lậu Hàng hóa buôn lậu Những bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật Những tồn tại, vướng mắc trong hoạt động của các cơ quan tư pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status