Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong luật hình sự việt nam ( trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ) - Pdf 30


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ THỊ HOÀNG YẾN TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN,
LƯU HÀNH SÉC GIẢ, CÁC GIẤY TỜ CÓ GIÁ GIẢ KHÁC
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Ngọc Quang

HÀ NỘI - 2015 3
Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn cha từng đợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn Lê Thị Hoàng Yến

1.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của tội làm, tàng trữ,
vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
trong luật hình sự Việt Nam
10
1.1.1.

Thời kỳ trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 10
1.1.2.

Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước
khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
11
1.1.3.

Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay 13
1.2. Những khái niệm có liên quan 16
1.2.1.

Khái niệm séc, các giấy tờ có giá khác 16
1.2.2.

Khái niệm séc giả, giấy tờ có giá giả khác 20
1.3. Phân biệt tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ
có giá giả khác với một số tội phạm trong luật hình sự Việt Nam

22
1.3.1.

Phân biệt tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy
tờ có giá giả khác (Điều 181) với tội làm, tàng trữ, vận chuyển,

48
2.1. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ
48
2.1.1.

Kết quả và những tồn tại trong điều tra, truy tố, xét xử đối với
tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có
giá giả khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
48
2.1.2.

Một số nguyên nhân làm giảm hiệu quả của công tác điều tra,
truy tố, xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả,
giấy tờ có giá giả khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
65
2.2. Những kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả đấu tranh đối với
tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có
giá giả khác
72
2.2.1.

Những quan điểm cơ bản trong cải cách tư pháp liên quan đến
đấu tranh phòng chống tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển,
lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
72
2.2.2.

Hoàn thiện pháp luật hình sự với tội làm, tàng trữ, vận

34
2.1 Thống kê số vụ án, bị can, bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét
xử về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các
giấy tờ có giá giả khác giai đoạn 2009- 2014 trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ
49
2.2 Thống kê về thành phần, nhân thân người phạm tội làm,
tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, giấy tờ có giá giả
khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2009- 2014
51 7
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén và hữu hiệu để
đấu tranh phòng, chống tội phạm nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ
quyền làm chủ của nhân dân, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì trật tự, an toàn xã hội, đồng thời
pháp luật hình sự còn góp phần chống lại mọi hành vi phạm tội, giáo dục mọi
người ý thức tôn trọng pháp luật.
Kinh tế - xã hội phát triển, một mặt làm thay đổi bộ mặt của đất nước,
đời sống của người dân ngày một nâng cao, tuy nhiên mặt trái của của sự phát
triển bao giờ cũng là những hiện tượng tiêu cực xã hội, tình hình tội phạm và
vi phạm pháp luật gia tăng. Tội phạm trong xã hội hiện đại là một hiện tượng
xã hội - pháp lý phức tạp với những biểu hiện khác nhau, vì thế công tác đấu
tranh phòng chống tội phạm cũng gian khổ và khó khăn hơn. Tội phạm xâm
phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung, tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển,

giả, các giấy tờ có giá giả khác nói riêng trong thời gian tới còn phức tạp,
phương thức thủ đoạn ngày càng tinh vi và gây khó khăn hơn trong điều tra,
xử lý tội phạm. Giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang tiếp tục công
cuộc cải cách tư pháp, cải cách hành chính nhằm xây dựng nhà nước pháp
quyền Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Chiến lược cải cách đến năm 2020 đã đề ra
một trong những phương hướng quan trọng, đó là hoàn thiện chính sách pháp
luật hình sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Do vậy, yêu cầu đặt ra đối với công tác xây dựng pháp luật hình sự là
phải xây dựng được một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh, đảm bảo
tính khả thi với việc quy định tội phạm và hình phạt để đủ sức trừng trị và răn
đe đối với tội phạm. Bên cạnh đó, yêu cầu xây dựng hệ thống lý luận, pháp lý

9
làm cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác cũng được đặt ra.
Để góp phần xây dựng, cải tạo và phát triển kinh tế, xã hội, tạo ra môi
trường ổn định, lành mạnh cho nền kinh tế quốc dân chống lại mọi hành vi
nguy hiểm xâm hại đến trật tự kinh tế của đất nước, luật hình sự Việt Nam
quy định chương "Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế", trong đó "tội
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác"
được quy định tại Điều 181 Bộ luật hình sự năm 1999, Luật sửa đổi bổ sung
một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009.
Trong thực tiễn, đã có không ít Thẩm phán còn gặp nhiều vướng mắc,
lúng túng khi xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy
tờ có giá giả khác và không ít trường hợp còn chưa thống nhất các quy định
của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành về tình hình của loại tội phạm này.
Cùng một hành vi phạm tội nhưng Tòa án ở các cấp khác nhau, các địa
phương khác nhau lại xét xử bị cáo với những tội danh khác nhau. Việc đó đã
trực tiếp gây bất lợi cho quyền lợi của bị can, bị cáo. Do vậy, việc tiếp tục
nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội làm, tàng trữ,

"Chính sách hình sự trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam", do TS. Phạm Văn Lợi
chủ biên, Nxb Tư pháp, năm 2007…
Ngoài ra, các tài liệu liên quan đến luận văn còn là hệ thống giáo
trình, bình luận khoa học Bộ luật hình sự, các số chuyên đề như: Giáo trình
Luật hình sự Việt Nam, của Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2010; Giáo
trình Luật hình sự Việt Nam, của Trung tâm đào tạo từ xa Đại học Huế, năm
2003; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, của Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Hà Nội; Sách "Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999", của
Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, năm 2008, do tập thể tác giả biên soạn; Sách "Bình luận khoa học Bộ
luật hình sự", do PGS.TS. Trần Minh Hưởng, Học viện Cảnh sát nhân dân

11
biên soạn, Nxb Hồng Đức, năm 2014; Sách "Bình luận khoa học Bộ luật hình
sự" của ThS. Đinh Văn Quế, Tòa án nhân dân tối cao, phần các tội phạm, tập
VI, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế bình luận chuyên sâu… Tất cả
các công trình trên đều có những chương, phần nghiên cứu lý luận về chính
sách hình sự, nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm cũng như các dấu hiệu pháp
lý, các yếu tố cấu thành cụ thể của tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
nói chung, tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ
có giá giả khác nói riêng.
Thứ hai, là các công trình nghiên cứu thể hiện qua các luận án tiến sĩ.
Một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài như: Luận án tiến sĩ của Bùi
Minh Thanh: "Vi phạm pháp luật và đấu tranh phòng chống vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay" (năm 2003); Luận án tiến sĩ
của Mai Thế Bày: "Đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế" (năm 2006); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Nam: "Trách nhiệm
hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong Luật hình sự
Việt Nam" (năm 2007)… Những công trình này nghiên cứu các chính sách
hình sự nói chung hoặc nghiên cứu các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

- Lý luận cơ bản về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả,
giấy tờ có giá giả khác;
- Thực tiễn xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các
giấy tờ có giá giả khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ diễn ra như thế nào? Còn có
gì vướng mắc khi áp dụng luật, khi xét xử?
- Phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về tội làm, tàng
trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác như thế nào?
- Giải pháp nào để tăng cường hiệu quả công tác xét xử tội làm, tàng
trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác?
4. Những đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương
diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ

13
thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về tội làm, tàng trữ, vận chuyển,
lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác mà trong đó giải quyết nhiều vấn
đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan tới tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong luật hình sự Việt
Nam. Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
- Tổng hợp các quan điểm khoa học trong và ngoài nước về tội làm,
tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong mối
tương quan so sánh với một số chế định tội danh khác;
- Nghiên cứu, đánh giá, làm sáng tỏ bức tranh về tình hình xét xử tội
phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, từ đó khái quát trên phạm vi cả nước; nêu được
những tồn tại, hạn chế của thực tiễn xét xử cũng như những nguyên nhân cơ
bản của các tồn tại, hạn chế đó;
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề xuất
các định hướng hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu quả xét xử tội
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong giai

con người, về xây dựng Nhà nước và pháp luật, đấu tranh phòng chống tội
phạm; Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đấu tranh chống tội phạm làm,
tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác cũng như
những thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như lịch sử pháp
luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự,
những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên
khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học pháp lý
chuyên ngành.
Các phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn sử dụng một số phương
pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt khoa học từng vấn đề tương ứng, đó là
các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Lịch sử so sánh, phân tích, tổng hợp,
thống kê, quy nạp và diễn dịch…

15
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn đấu tranh với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác tại tỉnh Phú Thọ và những kiến nghị,
đề xuất.
16
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN,
LƯU HÀNH SÉC GIẢ, CÁC GIẤY TỜ CÓ GIÁ GIẢ KHÁC

Mọi hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái
phép đều phải được xử lý kịp thời và nghiêm minh. Nghiêm cấm
việc bao che người phạm tội. Các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội
và mọi công dân, khi thấy có hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng
giả, kinh doanh trái phép đều có quyền và nghĩa vụ phát hiện với
các cơ quan hoặc nhân viên Nhà nước có thẩm quyền để được ngăn
chặn và xử lý kịp thời [22].
Tuy có các quy định về tội kinh tế nhưng ở giai đoạn này không có
một quy định pháp luật nào quy định về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác. Điều này xuất phát từ thực trạng nền
kinh tế của nước ta lúc đó là nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp. Nhà
nước lên kế hoạch cho mọi hoạt động kinh tế dẫn đến tình trạng kinh tế khủng
hoảng và xảy ra siêu lạm phát kéo dài từ năm 1985 đến hết năm 1988. Cả
nước dốc sức cho công cuộc khắc phục hậu quả của nền kinh tế khủng hoảng
nên các quy phạm pháp luật về kinh tế lúc này về cơ bản không có những thay
đổi so với giai đoạn trước.
1.1.2. Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Năm 1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ra đời, Bộ luật này không có quy định riêng về tội làm, tàng trữ,
vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác mà quy định chung
tội này với tội làm tiền giả tại Điều 98: "1. Người nào làm, tàng trữ, lưu hành
tiền giả, séc giả, phiếu công trái giả hoặc phá hủy tiền tệ thì bị phạt tù từ năm
năm đến mười năm; 2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị
phạt từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình" [32]. Tội

18
làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả, séc giả, phiếu công trái giả hoặc phá hủy tiền
tệ gây nên những hậu quả nghiêm trọng vì vậy được xếp vào Chương I, mục B,
các tội xâm phạm an ninh quốc gia và khung hình phạt cao nhất của tội này là

năm đến năm năm. 3- Người nào phạm một trong các tội quy định tại
Điều 88, 95, 96, 98 và 99, thì có thể bị phạt tiền từ ba trăm nghìn
đồng đến ba triệu đồng; phạm tội quy định tại Điều 97, thì bị phạt tiền
đến mười lần trị giá hàng phạm pháp. 4- Người nào phạm một trong
các tội thuộc Mục A, thì bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản;
phạm một trong các tội quy định tại Điều 88, các điều từ Điều 94
đến Điều 98, thì có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản [37].
Như vậy, qua các lần sửa đổi, bổ sung thì người có hành vi phạm tội
làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ ngoài việc phải
chấp hành các hình phạt chính được quy định tại Điều 98 thì họ còn phải chịu
hình phạt bổ sung là phạt tiền từ ba trăm nghìn đồng đến ba triệu đồng hoặc
có thể tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Những quy định mới này làm
cho Bộ luật hình sự ngày càng hoàn thiện hơn và thể hiện rõ được mục đích
của việc áp dụng chế tài pháp luật về kinh tế là nhằm thu hồi lại tiền hoặc tài
sản mà người phạm tội đã gây ra cho Nhà nước.
1.1.3. Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay
Sau hơn mười năm thi hành Bộ luật hình sự năm 1985, mặc dù đã tiến
hành sửa đổi, bổ sung bốn lần, nhưng trong tình hình mới, Bộ luật hình sự cũ
không còn đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm khi mà
nước ta đã chuyển qua nền kinh tế nhiều thành phần. Chính vì vậy, ngày
21/12/1999, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, tại
kỳ họp thứ 6 đã thông qua Bộ luật hình sự mới: Bộ luật hình sự năm 1999. Có
thể nói Bộ luật hình sự năm 1999 đã thể hiện toàn diện chính sách hình sự của
Đảng và Nhà nước ta trên các lĩnh vực từ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội, trật tự quản lý kinh tế…đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo

20
cơ sở pháp lý cho đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội làm, tàng
trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác nói riêng.
So với Bộ luật hình sự năm 1985 thì Bộ luật hình sự năm 1999 có rất

Thứ nhất, khách thể của tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả,
tội phá hủy tiền tệ là chế độ quản lý nhà nước về sản xuất, lưu thông tiền tệ.
Chế độ quản lý nhà nước về việc phát hành, tàng trữ, lưu thông, thu hồi và
thay thế tiền tệ là bộ phận của chế độ quản lý nhà nước về kinh tế. Như vậy,
khách thể loại của tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy
tiền tệ là trật tự quản lý kinh tế chứ không phải là an ninh quốc gia. Do vậy,
việc quy định Điều 98 về tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá
hủy tiền tệ tại chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia là không phù hợp.
Thứ hai, đối tượng của tội phạm được quy định ở tên tội danh chỉ là
tiền gồm: tiền giả và tiền thật, nhưng đối tượng của tội phạm được liệt kê ở
nội dung của điều luật lại bao gồm cả séc giả, phiếu công trái giả. Như vậy, ở
đây thiếu đi sự thống nhất giữa tên tội danh và nội dung của điều luật.
Thứ ba, hành vi phá hủy tiền tệ là hành vi tự gây thiệt hại cho người
có hành vi phá hủy. Do vậy, việc Bộ luật hình sự năm 1985 quy định hành vi
tự gây thiệt hại cho bản thân mà không gây thiệt hại cho xã hội là tội phạm là
không cần thiết. Bởi vì nếu phá hủy tiền tệ của người khác thì đã bị xử lý theo
quy định tại Điều 138 hoặc Điều 160 Bộ luật hình sự năm 1985 về tội hủy
hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tài sản của công
dân. Nếu chiếm đoạt trái phép tiền của người khác rồi mới có hành vi phá hủy
tiền tệ thì bị xử lý về tội chiếm đoạt tương ứng (tham ô, trộm cắp, cướp, công
nhiên chiếm đoạt…). Tiền cũng là một loại tài sản trong giao lưu dân sự. Vì
vậy, trong phạm vi quyền của chủ sở hữu đối với một số tiền nhất định thuộc
quyền sở hữu của mình thì hành vi phá hủy tiền tệ cũng chỉ phản ánh tính chất
quyền định đoạt của chủ sở hữu với tài sản của mình mà thôi. Cho nên, nếu
phá hủy tiền của mình (thuộc quyền sở hữu của mình) thì không thể là tội phạm.

22
Thứ tư, cùng một đối tượng là tiền giả nhưng Bộ luật hình sự năm
1985 lại quy định hai tội là: tội làm tiền giả và tội tàng trữ, lưu hành tiền giả.
Do vậy, một người thực hiện tội phạm có ba hành vi làm, tàng trữ, lưu hành

khoản để ngân hàng trích tài khoản chi trả cho người nào đó [30, tr. 1059].
Theo Luật các Công cụ chuyển nhượng Việt Nam năm 2005 thì
"Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là
ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản cung ứng
của mình để thanh toán cho người thụ hưởng" [43].
Như vậy, một cách khách quan, séc là một lệnh vô điều kiện của người
chủ tài khoản mở tại ngân hàng yêu cầu ngân hàng trích từ tài khoản của mình
một số tiền nhất định để trả cho người hưởng lợi séc hoặc cho người cầm séc.
Séc được sử dụng thay thế tiền làm chức năng thanh toán và lưu thông.
Séc bắt đầu được sử dụng phổ biến trên thế giới từ thế kỷ 18, khi mà
hệ thống ngân hàng phát triển mạnh dưới dạng tờ lệnh chi tiền. Năm 1912,
cùng với hối phiếu, séc cũng được đem ra thảo luận tại Hội nghị quốc tế ở
Haag, nhưng do chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra làm gián đoạn sự phê
chuẩn Luật séc quốc tế. Mãi tới năm 1931 Hội nghị quốc tế về séc tại Geneve
đã được ba mươi nước thông qua luật thống nhất về séc quốc tế (Uniform
Law on Cheque - ULC 1931).
Ở Việt Nam, do tình hình kinh tế chưa mấy phát triển nên tình trạng
sử dụng séc chưa phổ biến như tiền. Tại các ngân hàng thương mại, hình thức
thanh toán bằng séc chiếm tỉ lệ rất thấp (khoảng 2%) trong tổng thanh toán
giữa các doanh nghiệp với nhau, còn thanh toán giữa doanh nghiệp với cá
nhân, giữa cá nhân với cá nhân rất hiếm khi xảy ra.
Nguyên nhân của thực trạng này trước tiên là do Việt Nam có nền
kinh tế chưa phát triển. Bên cạnh đó, chính sách pháp luật về séc chưa hoàn
chỉnh cũng ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ giao dịch bằng séc trong quá trình thanh

24
toán. Cụ thể, hiện nay ở nước ta chưa có quy định về hạn mức phải thanh toán
bằng séc mà chỉ "động viên" dùng séc. Trong thanh toán nếu người mua và
người bán có tài khoản ở cùng một ngân hàng thì khi người bán đến ngân

chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định tại điểm 3, Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật chứng khoán 2010; trái phiếu doanh nghiệp (Điều 2,
Nghị định số 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp).
Cần phân biệt giấy tờ có giá với tiền - một loại tài sản khác theo quy
định tại Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005.
Tiền là một loại tài sản riêng biệt, nó thực hiện ba chức năng chính là
công cụ thanh toán đa năng, là công cụ tích lũy tài sản, là công cụ đánh giá
các loại tài sản khác. Còn giấy tờ có giá gồm nhiều loại, mỗi loại có một chức
năng khác nhau. Có loại là công cụ thanh toán nhưng không bao giờ là công
cụ thanh toán đa năng, có loại là công cụ đầu tư nhưng nó không bao giờ là
công cụ tích lũy theo nghĩa rộng, vì giá trị của nó không phải là vô thời hạn và
nó cũng không phải là công cụ để định giá các loại tài sản khác như tiền.
Nếu như giấy tờ có giá được phát hành bởi một số chủ thể có thể là
Nhà nước, có thể là một số chủ thể khác do pháp luật quy định, thì việc phát
hành tiền được coi là một trong những biểu hiện cụ thể của chủ quyền quốc
gia và chỉ do Ngân hàng nhà nước phát hành. Việc phát hành giấy tờ có giá là
biểu hiện của quan hệ tín dụng thương mại. Tiền được sử dụng để đầu tư kinh
doanh hoặc để tiêu dùng, còn giấy tờ có giá không bao giờ được sử dụng
trong hành vi tiêu dùng trong giao lưu dân sự thông thường.
Trong thực tế xét xử, nhiều trường hợp, người dân nhầm lẫn các loại
giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng với giấy tờ có giá. Họ có yêu
cầu Tòa án giải quyết các vấn đề liên quan đến các loại giấy tờ này. Tuy
nhiên, ta phải xác định rõ giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản như giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy đăng
ký xe máy, mô tô, ô tô… không phải là giấy tờ có giá quy định tại Điều 163


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status