Lịch sử địa phơng Thái Bình từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX
Bài 1: Quá trình mở mang, phát triển miền đất Thái Bình
A.Mục tiêu bài học
Nhằm giáo dục HS truyền thống yêu nớc, tự hào về quê hơng. Có thái độ trân trọng
và ý thức trách nhiệm bảo vệ các di tích lịch sử , đồng thời qua việc giảng dạy bài này
HS sẽ hiểu rõ hơn về quá trình mở mang, phát triển miền đất Thái Bình từ thế kỷ X đền
giữa thế kỷ XIX
B. Chuẩn bị:
- GV: Su tầm t liệu về Thái Bình từ thế kỷ X đền giữa thế kỷ XIX
- HS : Chuẩn bị bài
C.Tiến trình bài học
1. Miềm đất từ Thái Bình từ thế kỷ X đền giữa thế kỷ XIX
Trớc khi thành lập tỉnh Thái Bình 1890, miền đất Thái Bình không ngừng đợc mở mang,
phát triển theo thời gian. Qua các triều đại phong kiến từ thế kỷ X đền giữa thế kỷ XIX,
miền đất này có nhiều thay đổi.
Thế kỷ X, thờ Ngô- Đinh- Tiền Lê, miền đất này thuộc đất Đằng Châu. Triều vua Lê
Ngoạ Triều( 1005-1009) Đằng Châu đợc đổi thành phủ Thái Bình. Thế kỷ XI nhà Lý
chia đất nớc thành 24 lộ, phủ. Miền đất Thái Bình thuộc 2 lộ Long Hng và Kiến Xơng.
Thế kỷ XIII, nhà Trần chia nớc ta thành 12 lộ, phủ. Miền đầt Thái Bình thuộc phủ Long
Hng, Kiến Xơng và An Tiêm. Thế kỷ XV nhà Lê sơ chia nớc ta thành các đạo. Miền đất
Thái Bình thuộc Nam Đạo, đến 1741 đổi là đạo Sơn Nam. Đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn
đổi trấn Sơn Nam hạ thành Nam Định, rồi bỏ trấn lập tỉnh. Miền đất Thái Bình thuộc
tỉnh Nam Định và Hng Yên cho đến năm 1890 thành lập tỉnh mới Thái Bình.
2.Quá trình lao động cần cù, sáng tạo để nở mang, cải tạo đất, xây dựng quê hơng của
nhân dân Thái Bình(từ thế kỷ X đền giữa thế kỷ XIX)
- Từ thế kỷ X đền giữa thế kỷ XIX, là thời kỳ xây dựng phát triển quốc gia phong kiến
dân tộc. Miền đất thuộc Thái Bình liên tục đợc mở mang, bồi đắp và cải tạo để trở thành
vùng đất màu mỡ, thình vợng.
- Thế kỷ XIII, nhà Trần chú trọng việc đào sông, đắp đê và đẩy mạnh khai hoang mở lộ.
Những chứng tích về đắp đê khai hoang đời Trần hiện còn nh đê Đỉnh Nhĩ ven sông
Hồng, cột mốc Đa Bối và chứng tích gia phả ở Thái Ninh, Kiến Xơng đã chứng tỏ điều
triều đình Lê-Trịnh. Đợc dân nghèo ủng hộ, thanh thế của nghiã quân nh triều dâng,
đến năm 1748 nghĩa quân phối hợp với quân của Nguyễn Hữu Cỗu hoạt động mạnh ở
Thần Khê, Thanh Quan, đi tới đâu nghĩa quân cũng tịch thu ruộngđất , tài sản của địa
chủ phong kiến chia cho nông dân. 1768 triều đình phong kiến đàn áp, nghĩa quân
phải rút lên miền Tây Bắc hoạt động.
b. Khởi nghĩa Phan Bá Vành( 1821- 1827)
Phan Bá Vành ngời làng Minh Giám huyện Vũ Tiên( nay thuộc Vũ Bình - Kiến X-
ơng), nhà nghèo phải đi chăn trâu. Bất bình trớc cảnh áp bức bóc lột tàn bạo của địa
chủ phong kiến đối với dân lành. Năm 1821, ông kêu gọi nông dân nổi dậy khởi
nghĩa, căn cứ của nghĩa quân ở Trà Lũ- Kiến Xơng.
Hoạt động của nghĩa quân nhanh chóng lan rộng khắp Thái Bình, Nam Định, Hải D-
ơng, Quảng Yên, Kiến An Nghĩa quân đánh bại nhiều cuộc tấn công đàn áp của
triều đình Nguyễn, giết chết trấn thủ Sơn Nam Lê Mậu Cúc.
Tháng 3/ 1826, nghĩa quân bị thiệt hại nhiều ở Giao Thuỷ, nghĩa quân chuyển hoạt
động ra Tiên Minh, Nghi Dơng ( Hải Phòng), tổ chức nhiều trận đánh ở Cổ Trai, Phủ
Bo, Tam Giang, Đồ Sơn
Năm 1827, triều đình Nguyễn cử hàng chục tớng giỏi và hàng vạn quân bao vây căn
cứ Trà Lũ. Nghĩa quân chống không nổi định thoát chạy ra biển nh Phan Bá Vành bị
bắt. Cuộc khởi nghĩa bị thất bại.
* Hờng dẫn về nhà
- Em có nhận xét gì về khởi nghĩa của Hoàng Công Chất và Phan Bá Vành?
- Su tầm những mẩu chuyện về hai nhân vật Hoàng Công Chất và Phan Bá Vành?
Bài 3: Tình hình kinh tế - văn hoá miền đất thái bình
(từ thế kỷ X đền giữa thế kỷ XIX)
1. Tình hình kinh tế:
a, Sản xuất nông nghiệp
Do điều kiện tự nhiên và tập quán canh tác, cây lúa nớc đợc gieo cấy 2 vụ trong một
năm, một số nơi ven biển hoặc đồng trũng chỉ cấy 1 vụ. Chăn nuôi hầu hết là nuôi gia
cầm, gia súc trong gia đình, ở vùng ven biển ven sông nhiều làng làm nghề đánh cá.
Do đất đai màu mỡ cộng với truyền thống lam động cần cù sáng tạo, miền đất Thái
nớc ở Nguyên Xá, chèo làng khuốc ( Đông Hng)
c, Giáo dục
Từ khoa thi đời Lý (1185) đến khoa thi cuối cùng đời Nguyễn (1919) Thái Bình có
111 vị đỗ đại khoa. Điển hình là gia đình cả cha và con đỗ đại khoa là tiến sĩ Lê Phú
Thứ và con là Bảng Nhãn Lê Quý Đôn.( ngời làng Phú Hiếu - Độc Lập- Hng Hà)
Thời Trần- Hồ có nhà thơ Phạm Nhữ Dực( quê Quỳnh Phụ) thi đỗ giữ chức Giám hộ
ở Tân An ( Quảng Ninh)
Thời Lê Sơ có Nguyễn Thành ( Đông Hng), Quách Đình Bảo, Quách Hữu
Nghiêm( Thái Thụy) và đặc biệt dới triều Lê Thánh Tông có Đoàn Huệ Nhu( còn gọi
là Phạm Nh Huệ, ngời Hng Hà) là nhà thơ duy nhất của mảnh đất Thái Bình ( Sơn
Nam xa) đợc vào hội Tao Đàn- hội thơ văn đầu tiên của nhà nớc ta do Lê Thánh Tông
sáng lập năm 1495.
*Hớng dẫn về nhà:
- Em hãy kể tên những tấm gơng chịu khó học hành thi cử đỗ đạt cao của các ông
nghè quê Thái Bình mà em biết?
- Em có nhận xét gì về số ngời đỗ đạt cao ở Thái Bình thời phong kiến?
Bài 4: Thái Bình với sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm
của dân tộc từ thế kỷ X đền giữa thế kỷ XIX
1. Thái Bình với cuộc đấu tranh thống nhất đất nớc và chống xâm lợc bảo vệ quốc
gia Đại Việt độc lập tự chủ( từ thế kỷ X đến thế kỷ XV)
Sau cái chết của Ngô Xơng Văn (965) cuộc tranh chấp giữa các thổ hào và nạn cát cứ
địa phơng diễn ra ác liệt hơn, khu vực Bố Hải Khẩu( Kỳ Bá- TP Thái Bình) là sứ quân
của tớng Trần Lãm có thế lực mạnh trong 12 sứ quân. Không chấp nhận cảnh đất nớc
bị chia cắt và cảm phục tài đức của đinh Bộ Lĩnh. Trần Lãm đã đem quân của mình
và kêu gọi nhân dân trong vùng hội quân với Đinh Bộ Lĩnh, năm 976 Đinh Bộ Lĩnh
đã thống nhất đợc đất nớc. Ngoài Trần Lãm ở vùng Thái Bình còn có Bùi Quang
Dũng, Bùi Quang Đạt giúp sức cho nhà Đinh trong buổi đầu dựng nghiệp.
Thế kỷ XI-XIII thời Lý- Trần, Thái Bình là hậu phơng, là phòng tuyến chống quân
Mông Nguyên. Để tránh thế mạnh của giặc triều đình tạm rút khỏi Thăng long, gia
quyến nhà vùa do linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung tổ chức đã sơ tán về Thái Bình.
- Hãy kể lại một câu chuyện nói về đóng góp của nhân dân Thái Bình trong cuộc đấu
tranh chống xâm lợc bảo vệ độc lập dân tộc từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX?