35
kinh tế, các điểm địa hình, thành phần dân tộc, phong tục
tập quán địa phương, điều kiện phương tiện giao thông giữa
các địa điểm mà đoàn sẽ tới nghiên cứu, tình hình an ninh,
đời sống vật chất tinh thân của cư dân ở những khu vực đó.
Những thông tin như vậy rất bổ ích cho các nhóm sưu tầm
biết trước để chủ động kế hoạch, tâm thế, phương pháp
xâm nhập thực tế.
Tình hình nghiên cứu lịch sử địa phương, những tư liệu
đã được sưu tầm, nơi lưu giữ, những người am hiểu lịch sử
địa phương, các nhân mối lịch sử, hoàn cảnh của họ trong
quá khứ và hiện tại, dự đoán những địa chỉ có thể lưu giữ
tài liệu v.v
Nắm được những vấn để đó, nhóm nghiên cứu sẽ có
hướng tìm các đầu mối tài liệu và nhân mối lịch sử.
Dễ cho công việc tiếp sau ở địa phương thuận lợi, đoàn
cần chủ động để xuất những vấn để cần tìm hiểu để báo cáo
viên chuẩn bị và để cập đúng trọng tâm. Nếu có điều kiện,
nên mời các đồng chí cán bộ cơ sở, và một vài nhân mối
chủ chốt cùng gặp gỡ trao đổi trong buổi họp mặt đầu tiên
giữa đoàn và chính quyền địa phương. Họ là lực lượng
quan trọng sở tại giúp đoàn nhiều công việc cần thiết, như
động viên nhân dân giúp đỡ đoàn nhiều mặt, chỉ dẫn đoàn
nghiên cứu nhanh chóng tiếp cận địa điểm và đối tượng sưu
tầm tư liệu. Học sinh cần chú ý lăng nghe, ghi chép khi dự
buổi họp mặt đầu tiên song rất quan trọng này.
b. Tổ chức sưu tầm tài liệu:
36
Tại địa phương, ban chỉ đạo đoàn sẽ phối hợp với chính
viên cần chú ý mấy điểm sau đây:
- Liên hệ chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn, các tổ
chức quần chúng ở địa phương và các trường học nếu có
thể. Chính các cơ quan, tổ chức đó (bảo tàng địa phương,
khu di tích, và văn hoá, phòng truyền thống ) vừa là nơi
lưu giữ tài liệu, vừa có những cán bộ am hiểu về tình hình
địa phương, họ có thể gợi ý hoặc hướng dẫn cho công tác
nghiên cứu của nhóm gặp nhiều thuận lợi. Nhóm có thể
thông qua các em học sinh như những "hoa tiêu" dẫn
đường, cầu nối ngắn nhất giữa các địa bàn và các nhân mối
lịch sử ở các cơ sở.
- Có thể tham gia lao động sản xuất cùng đồng bào địa
phương, các hoạt động của các tổ chức quần chúng (đoàn
thanh niên, hội phụ nữ) như các buổi phát thanh tuyên
truyền, hội diễn văn nghệ, kỷ niệm ngày lễ, tham gia lễ hội
v.v để hoà mình, thông cảm và hiểu rõ thực tế địa
phương, từ đó có điều kiện để gợi hỏi tư liệu
- Để tiết kiệm thời gian và giúp các nhân mối có điều
kiên suy nghĩ, tái hiện, nhóm nên chủ động nêu trước
những câu hỏi ghi trên giấy để họ nghiên cứu trả lời. Sau
đó ta tập hợp xem xét, nếu vấn để gì chưa rõ sẽ tiếp tục hỏi
thêm để xác minh.
c. Chuẩn bị đề cương và viết sơ thảo.
Khi đã có một khối lượng tài liệu cần thiết, ban biên tập
38
phải nhanh chóng chuẩn bị để cương biên soạn, thông qua
cấp lãnh đạo ở địa phương, sử lý tư liệu để biên tập bản
thảo. để cương biên soạn khác với để cương sưu tầm (do
ban chỉ đạo soạn để giúp học sinh khai thác tư liệu) ở chỗ,
Ở VIỆT BẮC
1. Vị trí, ý nghĩa của việc sưu tầm tư liệu:
Công việc đầu tiên của nghiên cứu lịch sử địa phương
là sưu tầm tư liệu. Mặc dù đây là công việc bước đầu song
lại có ý nghĩa quyết định đến kết quả của cả quá trình
nghiên cứu. Tất cả mọi công trình nghiên cứu lịch sử nói
chung, lịch sử địa phương nói riêng, trước hết phải dựa vào
khối lượng và chất lượng của các loại tài liệu đã được sưu
tầm. Một công trình nghiên cứu lịch sử muốn đảm bảo tính
chính xác khách quan, khoa học và giá trị tư tưởng phải
dựa vào nhiều nguồn tài liệu khác nhau Khác với các khoa
học tự nhiên, khoa học lịch sử nghiên cứu tất cả những gì
đã xảy ra trong đời sống con người, kể từ khi con người
mới xuất hiện. Có những sự kiện, hiện tượng hầu như
không để lại dấu vết mà văn phải tìm cách khắc phục một
cách chính xác như chính nó đã từng tồn tại. Không thể làm
được việc đó nếu không có căn cứ xác đáng từ nhiều nguồn
tài liệu. Mặc dù không thể dùng tài liệu để tái tạo quá khứ
lịch sử theo phương pháp "thí nghiệm song có thể dựa vào
các phương pháp bộ môn mà chủ yếu là phương pháp lịch
sử và logic. để dựng lại "bức tranh lịch sử" một cách sống
40
động. Tư liệu lịch sử phản ánh màu sắc, nội dung thậm chí
tiếng nói của bức tranh hiện thực quá khứ. Tư liệu lịch sử là
những căn cứ để thực hiện việc so sánh, đối chiếu, phân
tích, khái quát tổng hợp tạo nên nội dung lịch sử, là cơ sở
để tạo những biểu tượng, hình thành những khái niệm trong
nhận thức lịch sử.
phục khoa học và ý nghĩa giáo dục ở tác phẩm: "Bản án chế
độ thực dân Pháp"
( )1
.
Như vậy, công tác sưu tầm tư liệu giữ vị trí hết sức
quan trọng trong nghiên cứu lịch sử của địa phương. Tuy
nhiên đây là công việc phức tạp đòi hỏi phải tiến hành thận
trọng, tỷ mỉ, lâu dài không được phép thoả mãn. Chỉ như
vậy, tư liệu lịch sử mới được bổ sung, hoàn thiện phục vụ
tốt cho việc biên soạn và dạy học lịch sử địa phương ở nhà
trường.
2) Các nguồn tài liệu trong nghiên cứu lịch sử của
địa phương:
Trong nghiên cứu lịch sử của địa phương, người ta
thường dựa vào những nguồn tài liệu (sử liệu) chủ yếu sau
đây:
- Tài liệu thành văn (Sử liệu viết)
- Tài liệu hiện vật.
- Tài liệu truyền miệng.
- Tài liệu dân tộc học.
- Tài liệu ngôn ngữ học.
(2) Xem Phan Ngọc Liên: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công
tác sử học. Nxb Giáo dục. Ha Nội, 1985.
42
Một số nhà nghiên cứu của Liên Xô trước đây cũng nêu
ra những nguồn sử liệu cơ bản đó song theo cách sắp xếp
thứ tự khác. Chẳng hạn, Tikhôminốp đã giới thiệu như sau:
Trước cách mạng tháng Tám 1945, nguồn sử liệu viết
có những loại sau:
- Địa phương chí: để cập tới nhiều vấn để ở địa phương
cụ thể như đặc điểm địa lý, sự kiện, hiện tượng lịch sử,
phong tục tập quán truyền thống (đời sống tinh thần) và
hoàn cảnh kinh tế của nhân dân địa phương. Những nội
dung đó có thể được trình bày trong một xã hoặc một thôn.
Loại tài liệu này để cập tới nhưng vấn để cụ thể ở địa
phương mà chính sử chưa hoặc chỉ để cập tới một cách sơ
lược.
- Các bài văn bia, các bài minh trên chuông, khánh: Các
bia, chuông, khánh là những tài liệu hiện vật, giúp cho
người nghiên cứu tìm hiểu hình dáng, kích thước, chất liệu
xây dựng chế tác, đường nét kiến trúc, cấu tạo bài trí hoa
văn, phong cách nghệ thuật, giá trị văn hoá v.v Nội dung
được phản ánh qua chữ viết, khắc đúc trên đó được coi là
tài liệu, thành văn. Loại tài liệu này rất quý vì nó phản ánh
chân thực lịch sử ở địa phương, nhiều khi có giá trị đối với
lịch sử dân tộc. Nhận dân ta trước đây có thói quen ghi, tạc
trên bia những sự kiện đáng nhớ có thể liên quan tới gia
đình, dòng họ, hoặc một nhân vật lịch sử để cho con cháu
đời sau được biết, tôn thờ, ghi nhớ. Vì vậy có 2 loại bia
khác nhau: bia "hậu" và bia "sự kiện".
44
Bài minh chuông hiện nay rất ít, chỉ có ở một số chùa
lớn. Nội dung các bài minh thường để cập tới hoạt động
văn hoá, tín ngưỡng hoặc các địa danh, và một số vấn để về
kinh tế xã hội ở địa phương.
- Gia phả, thần phả.
quá khứ lịch sử Những người thật, việc thật ở nhiều địa
phương khác nhau, ở những mảng công việc khác nhau,
giúp ta nghiên cứu khá toàn diện về những giai đoạn lịch sử
ở các địa phương. Tuy nhiên khi sử dụng loại tài liệu này
cung cần phải có kiểm tra xử lý loại bỏ những suy nghĩ,
phản ánh mang tính chất chủ quan, cá nhân, hoặc sự nhầm
lẫn khi tái hiện lại quá khứ.
Một số truyền đơn, báo chí thuộc các thời kỳ trước đây
(có thể in thạch, rônêô hoặc viết tay) phản ánh những chủ
trương, đường lối của Đảng hoặc cấp bộ Đảng ở địa
phương, để cập tới các cuộc đấu tranh, mít tinh, biểu tình,
bãi thị, bãi khoá v.v cũng được lưu ý trong quá trình sưu
tầm tư liệu.
Những loại tài liệu nói trên thường hay được lưu giữ
trong các kho lưu trữ của Tỉnh uỷ, ủy ban các cấp, Ban
tuyên giáo, Phòng văn hoá thông tin hoặc là các Bảo tàng,
Nhà truyền thống ở địa phương.
Ngoài nhưng loại tài liệu nói trên, chúng ta còn có thể
khai thác những loại đinh bạ để tìm hiểu nhân lực lao động
46
ở địa phương, địa bạ để tìm hiểu tinh hình ruộng đất, các
loại văn bản của chính quyền, Đảng bộ địa phương. Trong
chừng mực chúng ta còn có thể khai thác được những nội
dung lịch sử từ các bài văn thơ, xướng tạo của các nhà nho,
các hài văn tế, sắc phong, các văn bản tự vay nợ, khế ước
mua bán ruộng đất v.v Những loại tài liệu này còn lại một
còn lại rất ít trong một số gia đình có chức sắc ở địa
phương, hoặc có người học hành đỗ đạt, đi du học.
Nguồn tài liệu thành văn sau Cách mạng tháng Tám
với nhiều nguồn tài liệu khác để bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau.
b. Tài liệu hiện vật (sử liệu vật chất)
Tài liệu hiện vật bao gồm những di vật khảo cổ, các
công trình kiến trúc, nghệ thuật (đình, chùa, miếu, tượng
v.v ) những di tích, hiện vật lịch sử (công cụ lao động, vu
khí đấu tranh ). Có những di tích tự nhiên liên quan tới sự
kiện lịch sử (cây đa Tân Trào, cây đa Hồng Thái, hang Pác
bó), có những công trình kiến trúc liên quan tới sự kiện
(đình Tân Trào )
Cần lưu ý những hiện vật khảo cổ bởi vì bản thân nó là
những bằng chứng khách quan chân thực của lịch sử. Tài
liệu hiện vật là nhưng cứ liệu cụ thể để chúng ta hình dung
điều kiện, tình trạng sản xuất, đời sống vật chất, tinh thần
của con ngời ở các thời kì lịch sử. Đây cũng là những cơ sở
giúp cho người nghiên cứu đối chiếu kết hợp với các loại
tài liệu khác trong việc sưu tâm và xử lí tư liệu.
48
Những tài liệu hiện vật có thể được sưu tầm lưu giữ
trong các nhà truyền thống, bảo tàng, kho lưu trữ, khu di
tích, hoặc được nhân dân bảo quản, và cũng còn nhiều tài
liệu chưa được thu thập. Trung nghiên cứu lịch sử địa
phương cần xác định những địa điềm có khả năng ẩn chứa
tài liệu này để có biện pháp, kế hoạch khai quật, sưu tầm.
c. Tài liệu truyền miệng.
Tài liệu truyền miệng bao gồm những câu chuyện lịch sử,
truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ, những điệu dân ca, hò, vè,
truyện kê của các cụ già, những người từng tham gia hoạt
động cách mạng v.v Văn nghệ dân gian có giá trị lớn trong
liệu truyền miệng nào cũng đều là văn nghệ dân gian.
Trong khi sưu tâm tài liệu dân gian cần lưu ý loại bỏ yếu tố
hoang đường, màu sắc thần linh huyền bí để "bóc lõi" tài
liệu giữ lại giá trị chân thực của lịch sử.
1
d. Tài liệu dân tộc học.
Tài liệu dân tộc học nghiên cứu đời sống sinh hoạt, phong
tục tập quán các dân tộc, miêu tả cuộc sống vật chất tinh thần
của cư dân các địa phương. Khai thác tài liệu dân tộc học kết
hợp với các nguồn tài liệu khác, chúng ta có thể hiểu sâu sắc,
tường tận những hiện tượng lịch sử ở các vùng miền. Nghiên
cứu lịch sử địa phương, đặc biệt là khu vực miền núi, cần triệt
để khai thác tài liệu này. Có những hiện tượng lịch sử địa
phương gắn chặt với phong tục, tập quán của dân tộc, nếu biết
khai thác, chúng ta sẽ khắc phục được những khoảng trống và
dấu ấn mờ nhạt của nguồn tài liệu ít ỏi. Tài liệu dân tộc học là
cơ sở đáng tin cậy để chúng ta tái tạo quá khứ lịch sử theo
phương pháp mô hình hoá. Hiểu về tập tục địa phương còn
tạo cho chúng ta nhưng điều kiện thuận lợi để thâm nhập thực
(1), (2) Nguyễn Khánh Toàn: Phải triệt để khai thác vốn văn
nghệ dân gian giàu có của dân tộc Tạp chí Văn học số 1.1967.
tr.35.36
50
tế, làm tốt công tác dân vận phục vụ việc khai thác tài liệu địa
phương.
F.Ăngghen đã thực hiện phương pháp mô hình hoá (hồi
cổ) một cách mẫu mực khi ông dựng lại quá khứ lịch sử
khảo cổ (Tân Trào, ải Chi Lăng, Bác Sơn ) có địa danh
liên quan tới đặc điểm địa lý (Nậm cắt) và cũng có địa danh
liên quan tới nghề nghiệp sản xuất của nhân dân trước đây.
Phương ngôn là tiếng nói của cư dân địa phương trong
tiếng nói chung của dân tộc song có những sắc thái riêng do
lịch sử tạo nên, chẳng hạn: Cũng là tiếng Việt song sắc thái
của ngôn ngữ biểu đạt qua giọng nói ở Hà Nội khác với
Nghệ An, Huế, thành phố Hô Chí Minh, hoặc âm tiết của
ngôn ngữ cũng khác nhau rất đặc trưng ở ngay cả các xã,
thôn, làng trong một khu vực.
Dựa vào phương ngôn người ta có thể hiện được thành
phần của cư dân địa phương, nguồn gốc của những nhóm
người từ nơi khác tới địa phương, những ảnh hưởng qua lại
của từng nhóm cư dân trong thột cộng đồng nhất định.
Phương ngôn còn cho ta biết sự gần gũi về nguồn gốc của
một số dân tộc ở khu vực miền núi, những sắc thái chung,
riêng trong thói quen, phong tục của các dân tộc ở địa bàn
cư trú.
3. Phương pháp sưu tầm tư liệu.
Công việc trước tiên của sưu tầm tư liệu là nghiên cứu
kỹ để cương sưu tầm để xác định vị trí không gian và thời
gian liên quan tới chủ để nghiên cứu. Nếu để tài nghiên
cứu, biên soạn thông sử, lịch sử Đảng bộ địa phương thì
không gian nghiên cứu được giới hạn trong khung giới của
các đơn vị hành chính (huyện, xã, thành phố, quận). Cũng
cần lưu ý sự thay đổi ranh giới các đơn vị hành chính do sự