BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ HIÊN
GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU QUÊ HƯƠNG,
ĐẤT NƯỚC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
CƠ SỞ TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ HIÊN
GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU QUÊ HƯƠNG,
ĐẤT NƯỚC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
CƠ SỞ TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học lịch sử
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Đình Tùng
NGHỆ AN - 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới PGS.TS Trịnh Đình Tùng – Người đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, cùng toàn
thể các thầy cô trong tổ bộ môn LL và PPDH Lịch sử đã dìu dắt tôi trong
những năm tháng học tập tại trường Đại học Vinh.
Cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại học Vinh và Ban giám hiệu các
trường THCS Ninh Bình nơi tôi tiến hành điều tra và thực nghiệm đã tạo
điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
8
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên
cứu………………
8
6. Đóng góp của luận
văn………………………………………………
9
7. Giả thuyết khoa
học………………………………………………….
9
8. Ý nghĩa của luận
văn…………………………………………………
9
9. Cấu trúc của luận văn……………………………………………… 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU QUÊ HƯƠNG, ĐẤT
NƯỚC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA
PHƯƠNG Ở TRƯỜNG THCS ……………………………….
………………….
11
1.1. Cơ sở lý
luận………………………………………………………
11
1.1.1. Quan niệm về truyền thống yêu quê hương, đất nước
………
11
1.1.2. Quan niệm về giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất
nước ………………………………………………………………….
…
18
46
Tiểu kết chương 1…………………………………………………… 53
CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ GIÁO DỤC TRUYỀN
THỐNG YÊU QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG Ở TRƯỜNG
THCS TỈNH NINH
BÌNH…………………………………………….
54
2.1. Nội dung kiến thức lịch sử địa phương cần cung cấp để tiến 54
hành giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước cho học
sinh ở trường THCS tỉnh Ninh
Bình………………………………………
2.1.1. Chương trình lịch sử địa phương ở trường THCS tỉnh Ninh
Bình.
54
2.1.2. Nội dung kiến thức…………………………………………… 54
2.2. Các biện pháp giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất
nước cho học sinh trong dạy học lịch sử địa phương ở trường
THCS tỉnh Ninh Bình……………………………
…………………………
68
2.2.1. Các biện pháp giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất
nước cho học sinh trong bài học nội
khóa……………………………………
68
2.2.2. Giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước cho học sinh
trong bài học ngoại khóa
………………………………………………
86
2.3. Thực nghiệm sư phạm……………………………………… 108
thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, sống thực dụng, thiếu lý
tưởng. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, với xu thế “Toàn cầu hóa”, mọi giá
trị truyền thống đang bị thay đổi thì việc giáo dục lòng yêu quê hương, đất
nước càng có vai trò và ý nghĩa quan trọng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu của ngành
giáo dục là “ bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia
đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng XHCN, nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật,
tinh thần hiếu học…”[19;9]. Tiếp đó, chỉ thị số 14/2011 CT – TTG ngày
11/06/2001 của Thủ tướng chính phủ về việc đổi mới chương trình và sách
giáo khoa phổ thông có mục tiêu là: “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện, tăng cường cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, yêu quê hương, gia đình, tinh
thần tự tôn dân tộc”[3;149]. Như vậy, giáo dục thế hệ trẻ hiện nay phải giáo
dục con người có lòng yêu quê hương, đất nước. Đặc biệt, trước tình hình
Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 vào
vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, đe dọa hòa bình, ổn định an ninh, an toàn
và tự do hàng hải ở Biển Đông thì công tác giáo dục thế hệ trẻ, giáo dục
truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc càng trở nên cấp thiết và có ý
nghĩa quan trọng đối với dân tộc ta.
Trong các môn học ở bậc trung học, môn Lịch sử là môn học có “sở
trường và ưu thế trong việc giáo dục truyền thống dân tộc, nổi bật là lòng
yêu nước”, bởi thông qua các bài học lịch sử, học sinh có thể nhận thức được
truyền thống hào hùng, những giá trị văn hóa của dân tộc ta được xây nên
bằng mồ hôi, máu và nước mắt của bao thế hệ cha ông. Để từ đó các em có
cái nhìn, ý thức đúng đắn về trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, nhất là trong
bối cảnh hội nhập hiện nay. Bên cạnh những nội dung của lịch sử dân tộc thì
những nội dung của lịch sử địa phương cũng góp phần quan trọng vào giáo
dục truyền thống dân tộc cho thế hệ trẻ, đặc biệt là truyền thống yêu quê
hương, đất nước, giáo dục cho học sinh niềm tự hào về nơi “ chôn rau cắt
rốn” của mình, tự hào về dân tộc, đất nước mình. Biết tôn trọng và bảo vệ
các di sản văn hóa, di tích lịch sử địa phương. Do vậy, việc giáo dục truyền
địa phương” do N.X.Bôrixôp chủ biên, 1982, các tác giả đã chỉ rõ phương
pháp nghiên cứu, biên soạn, dạy học lịch sử địa phương và đặc biệt “phải
làm cho học sinh hứng thú với quá trình nhận thức lịch sử địa phương mình”
có như vậy các em mới yêu mảnh đất quê hương, mới giáo dục được truyền
thống của quê hương.
Ở Anh, qua các công trình nghiên cứu và những chia sẻ trên những
diễn đàn giáo dục như: www.balh.co.uk (website của Hiệp hội lịch sử địa
phương ở Anh); www.le.ac.uk (website của Đại học Leicester, một trung
tâm nghiên cứu lịch sử địa phương ở Anh)… có thể thấy việc giáo dục
truyền thống qua dạy học lịch sử địa phương rất được coi trọng. Ngoài hình
thức dạy học trên lớp, giáo viên lịch sử còn tổ chức giáo dục, học tập, nghiên
cứu lịch sử địa phương tại các di tích, bảo tàng, hướng dẫn học sinh trải
nghiệm cuộc sống địa phương, tiếp xúc và phỏng vấn nhân chứng và người
dân địa phương.
Ở Mĩ và Canada, việc giáo dục truyền thống trong dạy học lịch sử địa
phương đặc biệt được chú trọng, học sinh ngay từ tiểu học đã được học về
lịch sử địa lý của bang, của tỉnh mình đang sống. Trong chương trình giảng
dạy môn lịch sử được đưa vào khá sớm và được quy định rõ ràng trong
Chuẩn quốc gia môn lịch sử. Ngay từ mẫu giáo, những kiến thức lịch sử đã
được lồng ghép trong các bài giảng của giáo viên. Học sinh mẫu giáo được
làm quen với những kiến thức sơ đẳng về lịch sử và địa lý, về mối quan hệ
giữa quá khứ và hiện tại thông qua các câu chuyện, nhân vật, địa danh lịch
sử ở địa phương mình đang sống. Đối với học sinh tiểu học, bước đầu cho
các em làm quen với những nhân vật lịch sử, những tấm gương yêu nước
thông qua những câu chuyện lịch sử, truyền thuyết dân gian. Từ đó xây dựng
cho học sinh niềm tin vào tính cách, bản lĩnh của những nhân vật lịch sử,
những con người có thật trong lịch sử. Đồng thời cho các em thấy những tác
động, ảnh hưởng của họ đối với lịch sử phát triển của dân tộc, của bang và
địa phương. Chính từ những nhân vật đó mà hình thành tình cảm yêu mến,
kính trọng đối với những anh hùng đã xả thân cho Tổ quốc. Để các em thêm
một số biện pháp cụ thể nhằm giáo dục truyền thống cho học sinh.
Ngoài ra, trong một số sách tham khảo khác như quyển “Giáo dục
truyền thống” của Lê Văn Tám, NXB Thanh Niên, 1978, hay quyển “Truyền
thống yêu nước trong lịch sử Việt Nam” của Cao Minh, NXB Thanh Niên,
1999. Quyển “Tìm hiểu hoạt động giáo dục truyền thống yêu nước bảo về tổ
quốc qua dạy học lịch sử dân tộc từ thế kỉ X đến 1930” của tác giả Trương
Hữu Quýnh, Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Thái Hoàng. NXB Quân đội, 1994…
đều đề cập đến nội dung giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước ở
nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên chưa có cuốn tài liệu nào đề
cập một cách toàn diện và cụ thể các hình thức cũng như biện pháp để giáo
dục truyền thống yêu quê hương, đất nước cho học sinh ở trường THCS.
Trong các cuốn sách nghiên cứu về lịch sử địa phương như cuốn
“Nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương” - Kỷ yếu Hội thảo
khoa học toàn quốc do Khoa Lịch Sử trường Đại học Vinh phối hợp với Hội
Giáo dục lịch sử Việt Nam, Viện khoa học giáo dục tổ chức vào tháng
6/2002 tại Nghệ An trình bày những vấn đề chung về lịch sử địa phương
cũng đã khẳng định vị trí và tầm quan trọng đặc biệt của lịch sử địa phương
trong giáo dục đạo đức, tư tưởng, truyền thống yêu quê hương, đất nước cho
thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước.
Bên cạnh các tác phẩm còn có nhiều bài viết trên các tạp chí cũng đề
cập đến vấn đề này. Bài “Mấy biện pháp nâng cao giáo dục qua một bài lịch
sử” của PGS Trịnh Đình Tùng, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 5, 1988, đã
đề ra cách dạy học mới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh trong quá trình nhận thức, tăng cường hiệu quả giáo dục của giờ
học đặc biệt là giáo dục lòng yêu nước. Bài “Giáo dục truyền thống dân tộc
cho thế hệ trẻ qua môn lich sử” của GS Phan Ngọc Liên, PGS Trịnh Đình
Tùng, GS Nguyễn Thị Côi, Tạp chí Nghiên cứu lich sử, số 2, 1992, đã khẳng
định giá trị to lớn của việc giáo dục truyền thống dân tộc. Bài “ Giáo dục
lòng yêu quê hương cho học sinh phổ thông qua dạy học lịch sử địa phương”
của TS Trần Quốc Tuấn, Tạp chí Giáo dục, số 69, 2003. Tác giả đã nhấn
đó, nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử, đặc biệt là lịch sử địa
phương.
Nhiệm vụ:
+ Tìm hiểu cơ sở lí luận về công tác giáo dục truyền thống yêu quê
hương, đất nước cho học sinh trong dạy học lịch sử địa phương ở trường
THCS.
+ Nghiên cứu thực trạng việc giáo dục truyền thống yêu quê hương,
đất nước cho học sinh trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THCS hiện
nay.
+ Tiến hành điều tra tình hình dạy học và thực trạng giáo dục truyền
thống yêu quê hương đất nước cho học sinh trong dạy học lịch sử địa
phương ở Ninh Bình để rút ra kết luận.
+ Đề xuất các biện pháp sư phạm để giáo dục truyền thống yêu quê
hương, đất nước cho học sinh trong dạy học lịch sử địa phương.
+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra đánh giá làm cơ sở rút
ra các kết luận khoa học.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận.
+ Dựa trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về truyền thống yêu nước.
+ Dựa trên những thành tựu nghiên cứu mới về lý luận giáo dục, tâm
lý học, phương pháp dạy học lịch sử của các nhà giáo dục học và giáo dục
lịch sử.
5.2. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
+ Nghiên cứu các tác phẩm của các tác gia kinh điển, chủ tịch Hồ Chí
Minh bàn về giáo dục, về truyền thống yêu nước.
+ Nghiên cứu Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, các văn bản của Bộ
Giáo dục và đào tạo liên quan đến đề tài.
+ Nghiên cứu các công trình của các nhà khoa học lịch sử, khoa học
nhìn nhận lại vai trò và ý nghĩa của việc giáo dục truyền thống yêu quê
hương, đất nước cho học sinh trong dạy học lịch sử địa phương, vận dụng
các hình thức và biện pháp để giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất
nước cho học sinh trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THCS tỉnh
Ninh Bình.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục nội dung
luận văn gồm 2 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục truyền thống
yêu quê hương, đất nước cho học sinh trong dạy học lịch sử địa phương ở
trường THCS.
Chương 2: Các biện pháp để giáo dục truyền thống yêu quê hương,
đất nước cho học sinh trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THCS tỉnh
Ninh Bình.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC
TRUYỀN THỐNG YÊU QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG Ở TRƯỜNG THCS
1.1. Cơ sở lý luận.
1.1.1. Quan niệm về truyền thống yêu quê hương, đất nước
* Quan niệm về truyền thống.
Muốn giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước cho học sinh,
trước hết chúng ta phải làm rõ khái niệm “truyền thống”.
Truyền thống trong tiếng gốc La tinh là “Lat Traditio” nghĩa là lưu
truyền, luân chuyển, trao lại, mang lại. Và từ nghĩa gốc này mà trên thế giới
cũng như ở Việt Nam có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về “truyền
thống”. Theo “Bách khoa từ điển Xô Viết” thì “Truyền thống là những yếu
tố di truyền văn hóa, xã hội truyền từ đới này sang đời khác và được lưu giữ
trong các xã hội, giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài. Truyền
thống thể hiện trong một chế định xã hội, chuẩn mực của hành vi, các giá trị
Văn Giàu thì truyền thống có cái tốt, cái xấu nhưng khi nói đến giá trị truyền
thống thì ở đây chỉ có cái tốt bởi cái tốt mới được gọi là giá trị. Và những
giá trị đó theo tiến trình lịch sử không ngừng được nuôi dưỡng, bồi đắp.
Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu truyền thống là tất cả
những gì được hình thành trong cuộc sống được lặp đi lặp lại nhiều lần trong
lịch sử để trở thành nề nếp, thói quen và đạt tới giá trị chuẩn mực trên các
lĩnh vực trong lối sống, trong tư duy, trong ứng xử, trong cung cách làm ăn.
Truyền thống có ba đặc trưng:
Một là, truyền thống có tính ổn định và bền vững tương đối, lặp đi lặp
lại qua các thế hệ trở thành thói quen, tập quán trong xã hội, trong cộng đồng
người. Truyền thống có sức sống dai dẳng, tồn tại lâu dài. Cái nhất thời
không phải là truyền thống.
Hai là, truyền thống mang tính cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận.
Ba là, truyền thống mang tính lưu truyền từ đời này sang đời khác góp
phần quy định những chuẩn mực ứng xử, giá trị, tư tưởng, lễ nghi trong cộng
đồng người và trong xã hội.
Đã là truyền thống phải có đủ ba đặc trưng trên bởi truyền thống là
sản phẩm của cuộc sống, sản phẩm của lịch sử. Nó được sinh ra từ cuộc
sống của con người nên cũng giống như con người, những yếu tố truyền
thống chịu sự tác động của các yếu tố địa lý, tự nhiên, lịch sử, văn hóa, lao
động, sản xuất, xã hội và cả sự giao lưu khu vực và quốc tế. Vì vậy nó luôn
biến đổi tùy theo quan điểm của các giai cấp và thời đại khác nhau. Từ nhận
thức trên sẽ khiến chúng ta có cách ứng sử phù hợp với truyền thống trong
hiện tại, không nên quá sùng bái truyền thống nhưng cũng không khinh
thường. Bởi nếu sùng bái một cách thái quá, không phân biệt đâu là giá trị
tích cực, đâu là mặt tiêu cực của truyền thống, không tính đến những biến
đổi khách quan của thời đại mà cứ đề cao truyền thống sẽ dẫn đến trì trệ, bảo
thủ. Ngược lại, nếu coi thường truyền thống trong giải quyết vấn đề của hiện
tại và tương lai, cắt đứt với truyền thống sẽ dẫn đến phá hủy tính kế thừa
trong sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
518]
Đối với người dân nước ta, tình cảm đối với quê hương là thứ tình
cảm thiêng liêng, cao đẹp trở thành máu thịt, lẽ sống của con người “Quê
hương mỗi người chỉ một, quê hương nếu ai không nhớ sẽ không lớn nổi
thành người”. Nhưng nếu nói thế thì dường như con người chỉ yêu quê
hương thì phải. Thực ra tình yêu quê hương, tình yêu đất nước luôn quyện
chặt với nhau không tách biệt. Nói đến quê hương là nói đến đất nước và
ngược lại bởi trong lòng người Việt Nam thì quê hương và đất nước là một.
Quê hương hay quê hương nhỏ chính là xóm làng, là nơi có cha mẹ, anh chị
em, họ hàng, mồ mả ông bà, là nơi có mái đình, cây đa, bến nước. Là nơi có
những gì gần gũi, thân thuộc nhất. Quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra và
lớn lên, nơi “chôn rau cắt rốn” mà còn là nơi lưu giữ tuổi thơ với những kỷ
niệm ngọt ngào nhất như trong lời một bài hát “Quê hương là chùm khế ngọt
cho con trèo hát mỗi ngày, quê hương là con đò nhỏ êm đềm khua nước ven
sông”. Còn quê hương lớn là đất nước, ở nơi đó có tất cả đồng bào cùng
tiếng nói, phong tục, lịch sử dân tộc. Ở đó không có sự phân biệt “quê anh”
“quê tôi” mà tất cả cùng chiến đấu, cùng hi sinh, cùng đổ mồ hôi xương máu
để bảo vệ đất nước, Tổ quốc. Ở đó không có sự phân biệt giọng Bắc, giọng
Nam mà cùng là thứ tiếng nói của người Việt Nam, để dù đi năm châu chỉ
cần nghe thấy tiếng nói ấy người ta cũng biết là người Việt Nam. Ở đó có sự
tự hào về Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Hồ Chí Minh –
những người anh hùng dân tộc, thậm chí tự hào cả về những chiến sĩ vô
danh không tiếc thân mình thử hỏi như thế sao lại không yêu quê hương, yêu
đất nước được.
Yêu quê hương, đất nước là thứ tình cảm tự nhiên của con người
nhưng không phải ngay từ khi sinh ra đã có, mà nó được hình thành trong
lao động sản xuất, trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước.
Từ lòng yêu quê hương nhỏ, gắn với việc bảo vệ quê hương dần được phát
triển thành lòng yêu quê hương lớn, yêu quê hương chính là yêu đất nước.
Yêu nước không chỉ là tình cảm mà còn là trách nhiệm, nghĩa vụ đối với đất
thân mình, đấu tranh không biết mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng đất nước,