52
tách, hợp trong quá trình phát triển của lịch sử, và cũng
không máy móc dập khuôn, bởi có những tài liệu ở những
địa phương phụ cận giúp ích cho việc khảo cứu. Nếu để tài
nghiên cứu những chuyên để như một cuộc khởi nghĩa, một
trận đánh, một chiến dịch thì không gian nghiên cứu phụ
thuộc vào tính chất, quy mô, mức độ ảnh hưởng của các sự
kiện hiện tượng lịch sử. Thời gian xác định ở cả 2 dạng chủ
để đó đều lấy giai đoạn nghiên cứu của để tài làm trung tâm
để mở rộng về trước và sau khoảng thời gian nhất định để
thấy được sự phát triển liên tục liền mạch, đánh giá đúng ý
nghĩa, kết quả của những sự kiện hiện tượng đó. Vì vậy ở
những cuốn lịch sử Đảng bộ, lịch sử phong trào cách mạng,
người ta thường dành một phần thích hợp để trình bày
những nét khái quát về địa phương đặc biệt là những nét
truyền thống. Chính hoàn cảnh lịch sử, đặc điểm về tự
nhiên, xã hội là cơ sở để khắc sâu tính đặc thù của lịch sử
địa phương.
Việc sưu tầm tư liệu phải nắm vững phương châm kết
hợp chặt chẽ tài liệu ở địa phương với tài liệu lịch sử dân
tộc, kết hợp chặt chẽ hoạt động của nhà trường với địa
phương đặc biệt là sự kết hợp với các cơ quan chuyên môn
sở tại, gắn mục tiêu nghiên cứu, dạy học của nhà trường
với mục tiêu kinh tế, xã hội của địa phương (cả trước mắt
và lâu dài). Với phương châm đó ta tiến hành khai thác tất
cả những nguồn tài liệu hiện có ở địa phương.
Việc sưu tầm tư liệu có thể tiến hành theo 2 cách chủ
yếu sau:
53
thực tế nghiên cứu lịch sử địa phương, nhiều nội dung sự
kiện được làm sáng tỏ, thậm chí bổ sung, sửa chữa một số
sự kiện đã được nêu trong lịch sử dân tộc.
Khi khai thác tư liệu ở các nhân chứng nhóm nghiên
cứu cần chú ý lắng nghe, ghi chép để sau tiện đối chiếu, xử
lý tư liệu. Những vấn để còn nghi vấn để nghị nhân mối
cung cấp thêm hoặc giới thiệu những người biết rõ về vấn
để khai thác để làm sáng tỏ. Nên lưu lý bám sát để cương
để khai thác tránh hiện tượng để người cung cấp tư liệu
trình bày lan man, không đúng trọng tâm. Tất nhiên vấn để
này phải khéo léo, tế nhị tránh sự gượng ép hoặc thô bạn để
ảnh hướng bất lợi cho công việc.
- Cách ghi chép tài liệu.
Việc ghi chép tai liệu rất quan trọng, vì vậy phải cố
gắng ghi chép nhanh và đầy đủ, không được tự ý thêm bớt
hoặc cắt xén một cách tuỳ tiện. Đối với việc trích dẫn tài
liệu thành văn cần ghi rõ xuất xứ theo trình tự sau:
Tên tác giả, tên tác phẩm, nhà xuất bản, nơi xuất bản,
năm xuất bản, trang. Đối với loại tài liệu còn lưu giữ trong
các kho lưu trữ, bảo tàng v.v thì cần ghi rõ số hiệu của tài
liệu, tên tài liệu nơi lưu giữ tài liệu (hoặc địa chỉ người giữ
tài liệu).
Khi khai thác tài liệu truyền miệng, nhất là khai thác ở
các nhân chứng cân ghi rõ nội dung tài liệu, người cung cấp
tài liệu, địa chỉ của họ, và những trường hợp cần thiết có
55
thể để nghị họ ký vào những tài liệu mà họ đã cung cấp
(thời gian cung cấp, nơi cung cấp, chữ ký người cung cấp
cả những tài liệu nhờ người dịch cũng phải ghi như vậy.
phục vụ tốt cho công tác biên soạn và giảng dạy lịch sử địa
phương khi việc xử lý tư liệu được tiến hành một cách
nghiêm túc. Mặc dù trong quá trình sưu tầm chúng ta đã sơ
bộ xử lý tư liệu, song để đảm bảo giá trị chính xác, khoa
học của tài liệu, việc xử lý tư liệu phải được đặt thành một
khâu riêng biệt sau hoạt động sưu tầm. Việc chỉnh lý, đối
chiếu, xác minh, kiểm tra tư liệu là qui trình hoạt động
nghiên cứu khoa học rất công phu và đầy phức tạp. Nó đòi
hỏi sự kiên trì, nhẫn nại tiến hành đúng với phương pháp
nghiên cứu. Có những tư liệu phải xác minh nhiều lần bằng
nhiều phương pháp khác nhau.
Việc xác minh tư liệu phải dựa vào nguồn tài liệu ở địa
phương đối chiếu với các tài liệu ở Trung ương, các địa
phương khác kể cả các nguồn tài liệu ở trong một địa
phương. Cần lấy "không phải những sự thật riêng biệt, mà
toàn thể những sự thật có liên quan đến vấn để đang xét,
không trừ một ngoại lệ nào”
( )1
.
Trước khi tiến hành xử lý những tư liệu cụ thể, cần
hướng dẫn nhóm nghiên cứu toàn bộ các tài liệu đã thu
thập để có ý niệm tổng quát về chúng, sau đó lập mẫu biểu
sự kiện, tập hợp, sắp xếp tư liệu thành các vấn đề, sơ bộ tìm
(1). V.I.Lênin. Toàn tập. NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tập
30. Tr.437
57
hiểu mối liên hệ giữa các tư liệu đó. Trong quá trình thực
hiện những thao tác đó, chúng ta sẽ phát hiện được những
Trong thực tế nhiều khi người ta kết hợp cả 2 cách nêu
trên để xử lý tư liệu ( ). Điều cần lưu ý là dù thẩm tra ở
cách nào, dưới hình thức nào cũng phải phân tích kĩ lưỡng
tìm ra mối liên hệ bản chất của các yếu tố liên quan tới tài
liệu và giữa các loại tài liệu với nhau. Các Mác đã chỉ rõ:
"Nghiên cứu thì phải lấy tài liệu với tất cả chi tiết của nó,
phải phân tích những hình thái phát triển khác nhau của nó
và phải tìm ra được mối liên hệ bên trong của những hình
thái đó. Khi đã làm được như thế rồi, và chỉ khi làm được
như thế mới có thể trình bày toàn bộ sự vận động hiện thực
được”
( )1
.
Việc xử lý tư liệu cũng phải đòi hỏi tính sáng tạo trên
cơ sở nắm vững phương pháp xử lý. Đối với những loại tài
liệu khác nhau cũng phải có phương pháp xử lý khác nhau.
Đặc điểm đặc thù của vùng núi là địa bàn quần cư của
nhiều dân tộc thiểu số, vì vậy cân hết sức lưu ý khai thác và
xử lí tài liệu dân tộc học.
Nhiều sự kiện, hiện tượng lịch sử có liên quan tới
nguồn gốc, phong tục, tập quán, đặc điểm tâm lí dân tộc ở
những địa phương nhất định. Chẳng hạn người H'mông
thường sống rải rác trên các miền rẻo cao, tập trung hơn cả
(1) Các Mác: Tư bản, Quyển 1. Tập 1. NXB Sự thật, Hà Nội
1959. tr.26. 59
là các huyện Đồng Văn, Hoàng Su Phi (Hà Giang) Sa Pa,
Nay khi trong nhà có người chết, họ làm lễ chiêu hồn với
vọng ước đưa hồn người chết trở lại quê xưa. Sự nghiệt ngã
của hoàn cảnh tự nhiên và xã hội, những thử thách của
chặng đường thiên di mưu cầu cuộc sống bình ổn đã tạo ra
và củng cố bản lĩnh, bản sắc của người H'mông và người
Dao. Lòng quả cảm, ý thức tự cường không chịu khuất
phục trước các thế lực phong kiến, khao khát tự do v.v
được hể hiện ở một số hiện tượng và tập tục của họ. Chẳng
hạn như các cuộc nổi dậy và chuyện xưng vua của người
H'mông, tục cắt tiết gà ăn thề của người Dao, về cái “Lí
người Mèo" được truyền rộng trong dân gian và những tấm
"giấy thông hành” (“Quá sơn văn bản", "Binh hoàng khoán
điệp”) của người Dao không chỉ là sự thông minh khéo léo
ở những hoàn cảnh cụ thể mà còn là sự phản ánh nhân sinh
quan, thế giới quan của họ.
Khi xử lí những tài liệu dân tộc học cần kết hợp chặt
chẽ với tài liệu dân gian. Các dân tộc miền núi rất tự hào và
thường bảo lưu những phong tục gắn liền với những quan
niệm dân gian về nguồn gốc, tổ tiên của mình. Chẳng hạn
người Tày coi các dòng họ Mã, Lương, Đàm, Nông, Lâm,
Tô, Vũ, Bế v.v là những người con của Báo Luông và Sao
Cải trong truyền thuyết dân gian được lưu truyền ở Cao
Bằng, Thục Phán, người thủ lĩnh tài giỏi, thông minh của
người Tày, được phản ánh trong truyền thuyết "Chín chúa
tranh vua". Tương tự, người Dao cũng coi 12 họ của mình
61
đều có nguồn gốc từ một người cha là Bàn Hồ (Chó thần
của Bình Hoàng) vừa giống rồng, vừa giống người, nói
tiếng người. Vì vậy, trong ngày hội cúng Bàn vương họ hoá
Nội dung tài liệu dân gian có thể là những câu chuyện
lịch sử dưới dạng truyền thuyết, cũng có khi là những câu
ca, điệu hát của đồng bào dân tộc. Chẳng hạn truyền thuyết
về nhân vật Nùng Trí Cao, thủ lĩnh của dân tộc Tày - Nùng
ở Cao Bằng, đã cung cấp nhưng tư liệu quý về chiến tích
của ông và đồng bào dân tộc trong đấu tranh chống quân
xâm lược Tống ở vùng biên cương của Tổ quốc, về sự đánh
giá vị trí của vùng phên dậu phía bắc và các biện pháp hữu
hiệu để đoàn kết dân tộc của triều đình nhà Lý đương thời
v.v
Tài liệu truyền miệng rất đa dạng và phong phú cả về
thể loại và nội dung, hình thức biểu đạt. Vậy nhưng cần lưu
ý, không phải bất cứ tài liệu truyền miệng nào cũng là văn
nghệ dân gian. Đối tượng của văn nghệ dân gian là lịch sử,
song đó là sự phản ánh lịch sử theo quan niệm thẩm mĩ
nhân dân, được gọt dũa qua các thế hệ. Điều đó không chỉ
là những cái đã xẩy ra mà còn là những gì có thể xẩy ra, do
đó văn nghệ dân gian là kết quả của sự sáng tạo của quần
chúng nhân dân. Tác phẩm dân gian trở thành kí ức của
toàn thể cộng đồng, hoặc kỉ niệm riêng của một vùng văn
hoá tộc người. Một tác phẩm văn học dân gian hoàn chỉnh
khi nó được kết hợp hài hoà giữa yếu tố văn chương (văn
63
bản lời) và yếu tố phi văn chương (diễn xướng). Vì vậy mà
văn học dân gian có thể là những câu ca, hò ve, có thể là
truyện thần thoại (Thánh Gióng) có thể là những truyền
thuyết lịch sử (chẳng hạn: An Dương Vương xây thành cổ
Loa, chiếc áo tàng hình của Dương Tự Minh, Ngựa đá biết
bay của Nàng Trí Cao v.v ) hoặc là những câu chuyện cổ
truyền thuyết Báo Luông - Sao Cải (hay truyền thuyết Pa
Luông). Truyền thuyết kể rằng từ xa xưa trời mới sinh ra
hai người khổng lồ ở Cao Bằng, người con trai là Báo
Luông ("anh to") người con gái là Sao Cải ("chị lớn"). Họ
lấy nhau và sinh được 100 người con. Gia đình sống lang
thang từ săn bắt hái lượm dần biết trồng trọt, chăn nuôi.
Chính nơi mà họ giã thóc trong hộc đá để lấy gạo nấu ăn có
tên là xóm Dộc săm ("cối giã”) (nay thuộc xã Nam Tuấn
huyện Hoà An), sau đó họ biết nấu cơm, nơi đó có tên là
Nà Mò (“ruộng nổi" này thuộc xã Nam Tuấn, Hoà An).
Cha con Báo Luồng bắt voi về thuần dưỡng trong khe núi
nay là khe Giáp dạng ("Khe, voi" - xã Hồng Việt) bắt trâu
nhốt ở ruộng nên có tên Nà Vài ("ruộng trâu - xã Nam
Tuấn") chăn trâu trên bãi nên nơi đó được gọi là Lũng Vài
("Lũng trâu" thuộc xã Hồng Việt). Rồi các địa danh Nà Mò
("Ruộng bò - xã Bế Triều - Hoà An") Rằng Cây ("Núi ổ à -
xà Bế Triều" núi Lậu Pất ("Chuồng vịt" - xã Bế Triều)
Chông mu ("Bờm lợn" xã Bế Triều) v.v đều là những nơi
mà cha con Báo Luông nhốt bò, gà, vịt, lợn trước đây
65
Sau này một số địa danh (chủ yếu tên các đơn vị hành
chính cấp xã) hoặc các đường phố được mang tên những
nhân vật lịch sử ở địa phương. Chẳng hạn xã Nam Tuấn
(Hoà An), Phi Hải, Hoàng Hải, Chi Thảo, Hồng Đại, Hồng
Định (huyện Quảng Hoà Cao Bằng) đều mang tên thật hoặc
bí danh của các chiến sĩ cách mạng ở địa phương.
Một số địa danh ở miền núi bắt đầu từ chữ Tân (Tân
Thành, Tân Phong) thường là những làng mới của người
Kinh lên khai hoang, song cũng có khi được gắn với một
rộng giúp ta có cách nhìn bao quát, toàn cục.
Khi xác minh tư liệu, nhất là ở khu vực miền núi, nếu
các nhân mối không nhớ chính xác những sự kiện lịch sử ở
địa phương thì gợi lại những việc quan trọng trong đời sống
gia đình, họ hàng thân thích, chẳng hạn ngày sinh tháng đẻ,
giỗ chạp, ma chay, làm nhà, lễ hội, tập quán v.v
Đối với những công trình kiến trúc, những di tích trận
đánh, chiến dịch đã bị phá huỷ, cần phải tổ chức thám sát
khảo cứu tại thực địa cần có người đã trực tiếp tham gia,
mục kích sự kiện hoặc người hiểu biết về di tích đó đi
cùng, giới thiệu, hướng dẫn giúp ta hình dung lại hiện thực
lịch sử.
Trong thực tế, nhiều khi việc sưu tầm kết hợp với xử lí
tư liệu tại chỗ.
Làm như vậy sẽ đối chiếu phát hiện những nội dung,
67
chi tiết còn "vênh" hoặc không rõ, chưa đầy đủ để kịp thời
xác minh bổ sung tại chỗ. Những vấn để tồn tại sẽ ghi lại
để xác minh ở hội nghị tọa đàm cấp cao hơn. Cần lưu ý khi
tổ chức xác minh tại chỗ dù ít người tham gia cũng cần
phải ghi tên bản. Tuỳ theo nội dung vấn để và quy mô của
địa bàn nghiên cứu mà có thể bố trí hội nghị toạ đàm khác
nhau. Chẳng hạn nghiên cứu lịch sử các xã, trường học, xí
nghiệp có thề gộp nội dung xử lí tư liệu với thông qua để
cương biên soạn, nhưng đối với nghiên cứu lịch sử cấp
huyện, tỉnh thì cần phải tách để có thời gian nghiên cứu,
trao đổi.
Như vậy, thẩm tra chỉnh lí tư liệu là một công việc
phức tạp, khó khăn, phải được tiến hành thận trọng, tỉ mỉ,
Dựa trên nguyên tắc chủ yếu của phương pháp luận sử
học Mác-xít, những tri thức cơ bản của lịch sử dân tộc,
người biên soạn phải biết lựa chọn sắp xếp, trình bảy những
sự kiện lịch sử địa phương một cách toàn diện, lôgic, hệ
thống. Việc miêu tả, khôi phục lại bức tranh quá khứ lịch
sử địa phương phái sinh động song chính xác như vốn nó
đã từng tồn tại. Tuy nhiên không nên lệ thuộc máy móc vào
những quan điểm lịch sử, những tư liệu những biến cố chủ
yếu được để cập trước đó để áp đặt, gượng ép cho những sự
kiện lịch sử địa phương. Lịch sử địa phương hiện lên qua
những sự kiện, mà sự kiện lại là kết quả của sự phản ánh